Monday, April 12, 2021

  Sông Vĩnh Định

 Video : Từ Ô Lâu, Ô Giang đến Vĩnh Định

      Sông Vĩnh Định(永定河)là một phụ lưu của sông Thạch Hãn, chảy theo hướng Đông Nam, từ làng Cổ Thành đến làng Xuân Viên, dài khoảng 20km, rồi nhập vào sông Ô Lâu, đổ ra phá Tam Giang.

     Tài liệu lịch sử để lại không thấy ghi tên sông mãi cho đến năm 1825, vua Minh Mạng cho đào 7.5km thẳng từ làng Câu Kênh cho đến làng Trung Đan và đặt tên là Vĩnh Định. Từ đó giòng sông thiên nhiên này được mang tên là sông Vĩnh Định.

     Về địa lý, sông Vĩnh Định từ ngã ba làng Cổ Thành chảy quá 2.2 km đến Ba Bến,  sông chẻ giòng làm 2 :

             – Nhánh phụ dài khoảng 15 km từ Ba Bến chảy theo hướng tây bắc qua các xã thuộc huyện Triệu Phong: Triệu Thành,Triệu Hòa, Triệu Đại, Triệu Độ, nhập cùng sông Thạch Hãn (và sông Hiếu) đổ ra Cửa Việt .

           – Nhánh chính và khi nói đến(xem không ảnh) Sông Vĩnh Định , thì chỉ đề cập đến nhánh chính này, chảy theo hướng đông nam. Đến Ba Bến sông chảy khoảng 2.3km thì gặp sông Nhùng từ phía Tây huyện Đa Krông đổ xuống tại làng Văn Vận, xã Hải Quy, chảy qua các làng Trà Trì, Phú Xuân, Trà Lộc, Duân Kinh, La Duy(xã Hải Xuân),Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi(xã Hải Ba) đến Hội Yên(xã Hải Quế),qua các làng mạc giữa 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng (cập nhật bổ túc).

        Tại ngã 3 Hội Yên, sông Vĩnh Định lại chia 2 nhánh :

     – Nhánh mạn Đông là chính, chảy song song quốc lộ 49C và bờ biển, cách bờ  khoảng 5km, đoạn sông này dài khoảng 6km từ làng Hội Yên chảy qua các làng Đơn Quế, Kim Long (xã Hải Quế) và Kim Giao, Diên Khánh, An Nhơn, Đông Dương, Xuân Viên (xã Hải Dương), đổ ra sông Ô Lâu, đi thuyền thêm khoảng 13km thì đến phá Tam Giang .

     – Nhánh mạn Tây dài khoảng 5km chảy qua làng Trung Đơn, Kim Sanh, Phước Điền (xã Hải Thành)rồi cũng đổ ra sông Ô Lâu. Cũng tại hói Dét làng Trung Đơn, một nhánh nhỏ nối sông Ô giang, phụ lưu sông Ô Lâu chảy dọc theo ra tới xóm Càng. Cửa 2 nhánh sông mạn Tây này ở sông Ô Lâu cách nhau 3.2km, ôm trọn ranh giới phía Nam xã Hải Thành.

     Sông Vĩnh Định là sông thiên nhiên từ bao đời, nhưng do bị bồi đắp hằng năm, nên qua lịch sử có ghi lại như sau:

        – Tháng 5 năm 1681, chúa Nguyễn Phúc Tần cho đào kênh Trung Đan, chúa đích thân ra xem.

        – Năm 1693, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu, lại cho đào kênh Trung Đan.

        – Năm 1819 vua Gia long, cho khảo sát đào sông Vĩnh Định, năm sau Vua băng hà(1820), phải đến 5 năm sau vua Minh Mạng mới kịp cho đào.

              Tháng 3 năm 1825, vua Minh Mạng cho đào đoạn sông mới thẳng tắp 7.5km(như con số 1) từ  Câu Kênh(Duân Kênh) đến Trung Đan(hói Dét,Trung Đơn), qua các làng Lam Thủy, Thi Ông, Cu Hoan, Hội Yên . Chiều dài đoạn sông này là: Câu Kênh-Hội Yên 5.5km, Hội Yên-Trung Đan 2km.

          Lý do nhà Vua cho đào đoạn sông mới là vì, dòng sông cũ từ ngã ba làng Câu Kênh, La Duy, Ngô Xá Đông quật góc gần 90°, giòng sông khúc khuỷu(như con số 3) dài khoảng 7.5km chảy qua các làng La Duy, Xuân Dương, Tam Hữu, Phương Lang, Ba Du, Cổ Lũy, Đa Nghi, Hội Yên bị bồi đắp, nước khó thoát, gây lũ lụt trầm trọng. Sau năm 1825 khi đã đào xong sông mới thì đoạn sông cũ chảy qua các làng này, được gọi là(xem không ảnh) Sông Vĩnh Định  cũ hay Cựu hà Vĩnh Định.

           Nguyên chú văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề dựng tại Cồn Đống, bên bờ sông Vĩnh Định viết:.. 前後 三月零十八日始成命為永定河 …tiền hậu tam nguyệt linh thập bát nhật thủy thành, mệnh vi Vĩnh Định hà… Đào 3 tháng 18 ngày thì xong, bèn đặt cho tên là sông Vĩnh Định.

           Việc đào sông Vĩnh Định, Đại Nam Thống Nhất Chí ghi :

     …”Năm Ất Dậu Minh Mệnh thứ 6(1825), sai Thống chế Phan Văn Thúy đốc dân phu khai đào từ xã Câu Kênh đến xã Trung Đan dài 1.720 trượng (một trượng bằng 4,7m), ba tháng thì xong, bèn cho tên hiện nay. Năm thứ 17, xa giá đi tuần Quảng Trị, thuyền ngự đi qua sông này, có thơ ngự chế khắc vào đá và dựng nhà bia ở bờ phía nam sông; cùng năm ấy đúc Cửu Đỉnh, khắc hình sông vào Thuần đỉnh. Năm Thiệu Trị thứ 2 (1844) xa giá Bắc tuần, có thơ ngự chế khắc vào bia dựng ở bờ sông”.

         Công tác đào sông do Phan Văn Thúy (1758-1833), người làng Đạo Đầu, một trong 13 danh tướng triều Nguyễn đốc công chỉ huy và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831),Thượng thư bộ Hộ, người làng Đại Hòa, phủ Triệu Phong phụ trách cung cấp tiền bac, lương thực, thuốc men.

     Các Châu Bản Triều Nguyễn còn lưu trữ được các bản tấu về việc thi công như sau :

      – Phan Văn Thúy cùng các quan bản địa xem xét, điều tra địa thế,  đào thử vài đoạn khảo sát đất cát tầng đáy,  cắm tiêu ghi chú…chiều ngang 6 trượng, chiều sâu gần 1 trượng tùy chỗ, đốc công 2.000 dân phu Huế và 1.700 dân phu Quảng Trị, đào sông.

     – Nguyễn Hữu Thận, cấp tiền, gạo hàng tháng ngay tại công trường. Ngoài ra, Vua còn chỉ dụ việc cấp phát thuốc men, cử toán lương y chăm sóc dân phu tại chỗ.(hình phải) theo chỉ dụ của vua Minh Mệnh .

      Văn bia Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề, có ghi liệt kê tổng kinh phí đào sông:

    – Tiền : hơn 6 vạn 4 nghìn 6 trăm quan .

    – Thóc: hơn 2 vạn 9 nghìn 4 trăm phương.

     Cũng nên thêm là năm Ất Dậu 1825, vùng đất Quảng Trị, Thừa Thiên gặp thiên tai, nắng hạn, mất mùa đói kém, dân không có việc làm nên việc đốc công đào sông gặp thuận lợi. Công dân phu được trả bằng thóc và tiền tại chỗ hàng tháng. Đất mặt bằng trưng dụng đào sông, nhà cửa, mồ mã nếu có, di dời được bồi thường thỏa đáng, dụng cụ cuốc xẻng xuất tiền công mua sắm, không đụng đến của dân. Nhà Vua viết: Từ vất vả khó nhọc một lần, để hưởng lợi muôn đời(Khởi đạn nhất thời lao, vụ kì vạn thế lợi).

            Tại xóm Cồn Đống, làng Cu Hoan hiện còn hai tấm bia cao 2m, rộng 1m tạc ghi :

     – Ngự chế Quá Vĩnh Định hà đề (御製過永定河題) của vua Minh Mệnh năm thứ 17 (1836) lược thuật quá trình đào sông và thơ của Vua ca ngợi cảnh đẹp của sông (hình phải).

      – Quá Vĩnh Định hà cảm tác (過永定河感作) thơ cảm tác của vua Thiệu Trị, năm thứ 2 (1842) khi tuần du qua sông.

        Đầu đời 2 triều Nguyễn(1802-1841), sau khi vua Gia Long thống nhất sơn hà, nước ta vốn thái bình thịnh trị, nhất là dưới triều vua Minh Mạng(1820- 1841),quân sự hùng manh, kinh tế phát triển, xã hội ổn đinh…Về mặt văn hóa mỹ thuật, năm 1835 nhà Vua cho đúc Cửu đỉnh, là 9 cái đỉnh bằng đồng, đặt ở trước sân Thế miếu trong Hoàng thành Huế, trong đó Thuần đỉnh  đúc nổi hình 2 con sông Thạch Hãn và Vĩnh Định(hình phải).

     Danh xưng đơn vị hành chánh Quảng Trị thời gian này là doanh Quảng Trị, năm 1827 đổi thành Trấn, năm 1832 đổi thành Tỉnh và lập bản doanh tại làng Thạch Hãn. Tương truyền trong thời gian này, vị thế ngã 3 sông Vĩnh Định là La Duy-Duân Kênh-Ngô Xá Đông cũng là địa điểm tỉnh lỵ thứ nhì nằm trong dự tính của vua Minh Mạng.

     Sau khi đào sông xong(1825), thỉnh thoảng tiếp tục công tác nạo vét sông vẫn được tiếp tục thực hiện, Châu bản triều Nguyễn ghi chép :

   – Niên hiệu Thiệu Trị năm thứ 3(1844)Vua cho khai vét một vài đoạn trên sông.

   – 42 năm sau, năm 1867 vua Tự Đức thuận theo tờ tấu của bộ Công, cho nạo vét lại giòng sông.

    – Niên hiệu Kiến Phúc năm thứ 1(1884) Vua cho nạo vét giòng sông cũ(cựu Vĩnh Định hà)đoạn qua các làng  Câu Hoan, An Thư, An Thái vì sông cũ bị bồi lấp nhiều, không khơi thì ruộng bị nước ngập, dân bốn tổng ấy xin xuất tài lực, thẳng khơi một đoạn ở hai xã Kim Lung, Kim Giao, lược vét một đoạn từ xã Kim Long đến xã Hội Yên đều cho phép làm để tiện việc cấy ruộng mùa.

     – Năm 1897, vua Thành Thái cho nạo vét lại sông, đoạn từ làng Đồng Dương, Diên Khánh, Kim Giao thuộc xã Hải Dương qua thôn Kim Long, Đơn Quế, Hội Yên thuộc xã Hải Quế, đến Đa Nghi, xã Hải Ba nhằm khai thông sinh thái và môi trường khu vực này, vốn bị thiệt hại sau hơn 70 năm từ khi có sông đào 7.5km, như đã nêu trên.

     Tưởng cũng nên biết rằng trong số 8 con sông đào trong thời gian 30 năm đầu của 3 triều Vua nhà Nguyễn, có 3 con sông được đặt tên đầu bằng chữ Vĩnh, ngụ ý mong muốn về lâu dài là:

      – Kênh Vĩnh Tế, dài 90km nối Châu Đốc và Hà Tiên, đào năm 1819 thời cuối triều vua Gia Long.

     – sông Vĩnh Điện dài 12km từ đầu ngã sông(xem không ảnh) Thu Bồn đến cầu Tứ Câu, xã Điện Ngọc. Vua Minh Mạng cho đào vét, nới rộng 2 lần(1822,1824), khơi thông giòng từ Câu Nhí đến Cẩm Sa, dài 1.647 trượng tức khoảng 7.7km, để thông nước 2 hệ thống sông Thu Bồn và sông Vu Gia.

     – và sông Vĩnh Định .

      Hiện tại trong các bài viết về tỉnh Quảng Trị, có tác giả Lê Quang Thái, trong bài Quảng Trị ơi, đất sao đất lạ lùng đăng trên tạp chí Cửa Việt(2014) viết:

…”Tháng tư năm Ất Mùi, Minh Mạng năm thứ 16 (1835) nhà Vua ngự ở từ kinh đô ra hành cung trong thành Quảng Trị bằng đường thủy. Từ Huế theo Sông Hương, sông Gia Hội ra Phá Tam Giang rồi theo sông Vĩnh Định đến sông Thạch Hãn.

        Vua bảo với các quan hầu rằng: “Ngày trước ta đi thuyền đến địa phận xã Ngô Xá, trông thấy một người đàn bà già, sai hỏi tuổi thì người ấy nói rằng đã 117 tuổi chưa biết có xác thực hay không, nhưng đại phàm người chỗ mạch đất núi sông thanh tú thì phần nhiều thọ, hoặc già cũng có lý đấy”…

     Nhân dịp này nhà vua bèn sai đẩy xe đi xem tường thành mới xây đắp, thấy các kỳ lão thuộc hạt Quảng Trị đang đứng đón để chiêm bái. Các cụ già có người đi chậm không theo kịp, khiến các bậc quan phủ huyện phải cõng các bậc trưởng lão đi.

     Vua Minh Mạng có óc hài hước lại có tính hay giỡn như vua cha vậy. nhà Vua liền cười duyên và nói rằng: “Lũ ấy ngày thường làm cha mẹ dân, nay cõng người già đến chiêm bái thì hầu như con của dân rồi !”

      Trong bối cảnh lịch sử kỳ thú này, thì có sự trùng phùng của “Dân chi phụ mẫu” với “Phụ mẫu chi dân” mà bình thường hay nhầm lẫn.”…

     Theo dòng lịch sử, các cuộc chiến trên dòng sông Vĩnh Định được ghi nhận như sau :

      – Năm 1470, vua Lê Thánh Tông mang quân chinh phạt Chiêm Thành, bị quân Chiêm Thành phục kích tại Cổ Lũy, thuộc cựu Vĩnh Định hà.

     –  Tương truyền năm 1572 danh tướng nhà Mạc, Lập Bạo bị chúa Nguyển Hoàng lập kế bắt tại bờ sông Thạch Hãn, bên làng Ái Tử, Lập Bạo đã nhảy xuống sông, lặn từ đây đến làng Vân Trình, tỉnh Thừa Thiên, nhưng cũng không thoát khỏi bởi chim trảo trảo bay theo phát giác và bị bắt, từ đó Chúa cho lập miếu trảo trảo.

      –  Cuối bán thế kỷ vừa qua, cuộc hành quân Camargue của quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương từ ngày 28 tháng 7 đến ngày 10 tháng 8 năm 1953 trên đoạn đường tỉnh lộ 68 cũ hay là quốc lộ 49C hiện nay, dọc theo sông Vĩnh Định dài khoảng 12km, bắt đầu từ giao điểm quốc lộ 49B và 49C, cho đến làng Phú Hải, xã Hải Ba mà ký giả nổi tiếng Bernard Fall  khi đó là phóng viên chiến trường, đã đặt tên là Con Đường Buồn Thiu(La Rue Sans Joie) và cũng tại đây 14 năm sau, tháng 2 năm 1967, Bernard Fall  tử thương vì dẫm phải mìn trong cuộc hành quân Operation Chinook II của quân đội Mỹ.

     Con Đường Buồn Thiu (dài khoảng 9km)năm 1953 và Đại Lộ Kinh Hoàng(khoảng 9km, từ cầu Trường Phước đến quá cầu Bến Đá) năm 1972 là những nghiệt ngã trong chiến tranh Việt Nam mà dân Quảng Trị đã phải hứng chịu trên trên địa bàn của giòng sông Vĩnh Định, sông Nhùng và sông Bến Đá.

     Các sự kiện diễn biến cuộc sống cư dân trên vùng đất này là đề tài âm nhạc được sáng tác như, nhạc sĩ Nhật Ngân có viết bài  Con đường buồn thiulà đoạn đường sinh tử, chết chóc,  đau buồn, trong chiến tranh Việt-Pháp năm 1953.

   Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ viết bài Đưa Em Xuống Thuyền(do Ái Vân, con dâu làng Xuân Dương hát) theo lời kể của Ông, mô tả đám cưới người anh của nhạc sĩ vào đầu thập niên 40 thế kỷ vừa qua, thuyền rước dâu trên giòng Vĩnh Định, từ làng Thi Ông, Hải Lăng đến làng Bích Khê, Triệu Phong.

     Hệ thống sông ngòi tỉnh Quảng Trị gồm 7 sông, nhưng quan trọng hơn cả là hệ thống sông “Bến Hải-Thạch Hãn-Ô Lâu” chạy dọc  theo chiều dài tỉnh từ sông Ô Lâu tới sông Sa Lung(huyện Vĩnh Linh) các thế kỷ trước, là thủy lộ từ kinh đô Huế ra Bắc, ngắn và an toàn hơn đường biển.

             Sông Vĩnh Định nối sông Thạch Hãn và Ô Lâu chảy vô phá Tam Giang, nhánh phụ sông Vĩnh Định cũng nối sông Thạch Hãn(và sông Hiếu) đổ ra biển Cửa Việt, sông Cánh Hòm nối sông Hiếu và sông Bến Hải là thủy lộ thuận tiện hàng đầu từ thế kỷ 19 trở về trước, trục thị tứ sầm uất thời kỳ này là chợ phiên Cam Lộ, thị xã Quảng Tri, chợ Sãi, chợ Ngô Xá, rồi đến Chợ Sịa, chợ Bao Vinh thuộc tỉnh Thừa Thiên.

     Dĩ nhiên, so với sau này ở cuối thế kỷ 20, khi khoa học kỹ thuật phát triển, với xe hơi, xe lửa thì vai trò vận chuyển bằng đường thủy, trên sông ngòi trên mọi miền đất nước trở nên yếu kém hơn, không riêng gì trên thủy lộ này.

      Sông Vĩnh Định không chỉ là nguồn nước chảy, sông Vĩnh Định còn mang theo cả tinh thần cuộc sống của cư dân 2 bên bờ. Tiếng chuông chùa ngân nga buổi sáng, vang vọng kinh cầu buổi chiều tại các giáo đường, tiếng hát câu hò trên đò doc, hay tiếng đập loong coong xúc cá của vạn chài... là những kỷ niệm êm đềm vốn có và là tưởng niệm muôn đời của những ai đã từng sinh sống tại đâyTính từ năm 1825, đến nay là đã 196 năm, thế hệ Baby boomers sinh sau thế chiến thứ 2, đặc biệt được chứng kiến sinh hoạt cùng các cư dân, làng mạc dọc theo giòng sông Vĩnh Định rõ nét cùng hoài niệm dòng sông đã mất bởi công trình thủy lợi Nam Thạch Hãn, trong ngậm ngùi tiếc nuối một thời, một đời.

       Công trình dẫn thủy nhập điền đập Trấm năm 1977 rất đáng được ghi nhận, tuy thế việc ngăn chặn giòng chảy của sông Vĩnh Định tại đập An Tiêm và Ba Bến là một thiếu sót khoa học kỹ thuật chuyên môn và công tác dẫn thủy nhập điền, trị thủy của gần nửa thế trước là do điều kiện khó khăn tạo nên như thế. Nay tình thế đã khác, thiết nghĩ cư dân 2 bên bờ sông cùng chính quyền sở tại, nên có các cuộc thảo luận , trao đổi để đi đến quyết định chuyên môn là, điều chỉnh  đập An Tiêm và Ba Bến, điều hòa lưu lượng nước, khơi thông giòng chảy, nạo vét giòng sông…giải quyết môi trường môi sinh khu vực, phát huy chức năng cũ của giòng sông về kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế…tránh thảm họa lũ lụt, thoát khỏi  dịch bệnh do ô nhiễm.  Vấn đề là kinh phí nhưng có thể xin các quỹ quốc tế tài trợ và điều này không khó. Hạ 1 cây che bóng mát đã là một điều bất nhẫn, huống là ngăn chặn một giòng sông. Cứu lấy giòng sông là cứu lấy chúng ta.

        Và nếu được  như thế, hãy tưởng tưởng một ngày nào đó, thử ngồi thuyền máy theo tours du lịch Quảng Trị, đi từ mạn Nam tỉnh nhà tại làng Xuân Viên bên sông Ô Lâu, theo giòng Vĩnh Định, đổ qua sông Thạch Hãn, ra sông Hiếu, vượt sông Cánh Hòm, đến sông Bến Hải, theo giòng Sa Lung, dừng chân ở Hồ Xá, huyện lỵ Vĩnh Linh… chúng ta như được sống lại cùng tổ tiên từ hằng trăm năm về trươc, nhất là từ khi chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ đất Thuận-Quảng  tại Ái Tử năm 1558, mở đầu công cuộc Nam tiến.

        Xin ghi chú thêm rằng, cùng mục đích bài viết này là, để điều chỉnh các sai lệch thuộc tài liệu về sông Vĩnh Định vốn có trong sách vở và trên internet, đặc biệt hiện nay, vì tam sao thất bổn trong suốt thời gian dài 196 năm, đồng thời  cũng là để tưởng nhớ những em bé bơi lội, các bà chị, bà mẹ giặt giủ bên sông, các bác nông phu ra đồng sau ngày cày cấy, ra bến sông tắm rữa, bầy trâu mẹp, làn hơi nước tỏa trên sông buổi sớm, âm vang tiếng hò lãng đảng trong đêm trăng… cứ thế, qua nhiều thế hệ xưa nay… từ đó, rất mong muốn được mọi người, mọi giới đặc biệt các sinh viên tỉnh nhà, nếu có dịp nên viết, làm luận văn tốt nghiệp về đề tài này, để xem xét lại, hoàn thiện và quy củ hơn chủ đề Khơi Lại Giòng Sông Vĩnh Định, bảo đảm môi trường môi sinh và sinh thái vùng đất của lòng người, trong lòng lịch sử, thì không có gì quý hơn. Đa tạ.

 Boston, ngày 9 tháng 3 năm 2021

Trương Thúy Hậu

Viết theo các tài liệu trên internet dẫn giải trong các inserted links, cùng không ảnh từ vệ tinh do Google chụp.

Saturday, February 6, 2021

 Người lính Nghĩa Quân trong tim tôi.


Năm tôi được 10 tuổi, gia dình tôi bỏ ruộng vườn vào ở trong khu Ấp chiến lược, được bao bọc bởi một vòng thành kiên cố có kẽm gai, có hào sâu chung quanh. Ở hai đầu ấp có hai cái đồn nghĩa quân nhỏ. Ba má tôi thỉnh thoảng trở về nhà làm ruộng, gặt lúa ban ngày, rồi ban đêm vào xóm ở. Ấp Chiến lược là một công trình chiến lược dùng để cô lập Việt Cộng ra khỏi dân chúng. Việt Cộng hay trà trộn trong dân và bắn giết dân chúng, quân lính Việt Nam Cộng Hòa.

Lúc nầy VC bắt đầu nổi dậy mạnh ở miền Tây, thâu thuế, giết hại dân thường, ám sát Xã trưởng, Ấp trưởng của VNCH gây kinh hoàng cho dân chúng, gây mất ổn định cho xã hội miền Nam đang sống trong thanh bình. Họ bịt mắt, chặt đầu hay chôn sống bất cứ người nào họ nghi ngờ là đang cộng tác với chính quyền VNCH. Khu ấp chiến lược tôi ở được bảo vệ bởi một trung đội nghĩa quân, gồm có 3 tiểu đội. Các chú lính hay ở trong đồn còn vợ con họ sống trong các căn nhà nhỏ trong xóm. Nhà tôi ở gần nhà ông Tiểu đội trưởng, tôi kêu là chú Tấn.

Lúc mới vào ấp tôi chỉ là một đứa con gái nhỏ quê mùa ngơ ngác. Nhưng lần lần tôi cặp bè bạn chơi với mấy đứa bạn, gái có, trai có, lớn tuổi, lanh lợi hơn, tôi học được nhiều thứ mới mẻ . Tôi biết cả tên cây súng nào là cây Carbine, cây nào là Garant, Thompsom, cây nào là cây súng phóng lựu .(Hình phải:Phù hiệu Nghĩa quân&Địa phương quân/QL/VNCH - Ba Mặt Giáp Công))

Tôi biết tên hầu hết các chú lính nghĩa quân trong tiểu đội của chú Tấn, nào là chú Tường, chú Sanh, chú Đúng, chú Quít, chú Mực ... Các chú rất hiền và chú nào cũng nghèo. Bộ quân phục được các bà vợ vá nhiều chổ. Tôi hay lân la đến nhà các chú chơi với con của họ. Với đồng lương nghĩa quân khiêm tốn, các chú ăn uống rất đạm bạc, thường là cá linh, cá lòng tong kho, với rau lang luộc hoặc chút ít canh bí, canh bầu . Hầu như chú nào cũng có vợ và vài ba đứa con. Khi rãnh rỗi tôi thấy các chú hay giúp việc nhà cho vợ buôn bán chút đỉnh kiếm thêm tiền. Có chú giữ con cho vợ ngồi bán rau ngoài chợ. Có chú xay bột cho vợ làm bánh tầm, bánh bò bán cho dân trong xóm .

Chú Tấn còn trẻ, nhưng ít nói . Thím Tấn là một người đàn bà hiền lành, có đôi mắt đẹp, to và dễ khóc Chú hay xay đậu nành làm thành bánh đậu hủ cho thím ủ chao, ủ tương, rồi thím đem bán vào những buổi chợ rằm, chợ ba mươi cho người ta ăn chay . Chú thím Tấn có hai đứa con . Thằng Dũng được 6 tuổi, con Lan 3 tuổi . Khi bận bán tương, chao , thím Tấn hay gởi 2 đứa nó nhờ tôi giử dùm . Tôi hay chơi đùa và coi chúng nó như em. Tụi nó cũng rất thương tôi .

Rất ít khi dân trong xóm gặp các chú nghĩa quân ra đi hành quân, các chú lặng lẽ ra đi khi trời sụp tối để giử bí mật . Họ âm thầm canh gác đâu đó dọc theo bờ thành ấp chiến lược, sáng sớm mới trở về. Họ đi về im lặng như những cái bóng mờ . Có những sáng tôi hay gặp các chú trở về, thường thì chỉ có cái áo khô, quần các chú ướt đẫm, sình bùn lên trên đùi. Các chú thường đi dép hay đi chân không, chẳng mấy ai có được đôi giầy .

Có khi đang đêm, tôi nghe súng nổ dòn giả . Sáng hôm sau các chú lính quen thuộc mang về hai cây súng chiến lợi phẩm của VC cùng với vài trái lựu đạn . Các chú kể cho mọi người trong xóm nghe là đêm rồi một toán VC băng qua ruộng phá hàng rào định đột nhập vào ấp chiến lược thu thuế và bắt dân đi làm dân công, qua sự hướng dẫn của một tên giao liên là người trong ấp. Các chú bắn chết hai tên, thây còn bỏ ngoài bìa ấp . Chúng tôi rủ nhau đi coi xác VC. Có lần các chú bắn chết cả một xuồng VC đang băng qua sông . Nhờ các bác ghe chài vớt lên, được nhiều súng . Sáng hôm sau ông Quận trưởng bất ngờ đến đồn nghĩa quân xóm tôi, khen ngợi và thưởng tiền mua một con heo quay thật lớn . Các chú được dịp ăn nhậu vui vẽ . Mấy đứa con các chú nghĩa quân cũng hí hửng được dịp ăn thịt heo quay .

Một ngày nọ tôi đi học về thấy cả xóm nhốn nháo lên, mấy thím vợ lính hớt hãi lo lắng. Thím Tấn nước mắt đoanh tròng. Tôi hỏi thì thím cho tôi hay Trung đội nghĩa quân vừa bị tấn công và 2 chú nghĩa quân hiền lành của xóm tôi vừa hy sinh, đền nợ nước. Chú Mực mà tôi quen thì bị đạp mìn VC gảy giò . Thật là một cái tang lớn cho cả xóm tôi . Linh cửu của 2 chú được quàng tại chùa, vợ con lối xóm khóc lóc tỉ tê . Đến chiều thì người ta chôn 2 chú ngoài bờ rào ấp . Một hàng 6 chú nghĩa quân đứng chào trên bờ huyệt . Quan tài hạ xuống, các chú bắn 6 loạt đạn điếc tai . Mặt các chú rất đau khổ, gầm lại khác hẳn các khuôn mặt hiền từ hàng ngày mà tôi thấy .

Vợ con hai chú đòi nhảy xuống huyệt chết theo chồng . Nhiều người phải xúm lại kéo các thím lên, khó khăn lắm mới dẩn được họ về nhà . Bọn chúng tôi và mấy đứa con trai ngày thường hay chạy nhảy, phá phách, la hét, mà giờ cũng đứng im ru . Tôi không biết VC là ai, nhưng tôi lờ mờ hiểu rằng họ là người không tốt, vì họ bắn phá mà gia đình tôi phải bỏ thôn xóm vào đây . Giờ họ còn theo định đột nhập vào cái ấp chiến lược nầy làm chi nữa ?

Cuộc chiến càng ngày càng khốc liệt . VC bắt đầu tấn công miền Nam ở cấp số lớn hơn. Họ đặt mìn giật xe chạy trên quốc lộ , họ giật xập cầu , bắt dân chúng đi đắp mô cản đường xe chạy . Có khi họ giật mìn chết cả một chiếc xe đò . Nhiều người chết có cả đàn bà và trẻ em, thịt xương văng tung toé . Có lúc họ pháo kích hay đặt mìn giật sập trường học của học sinh miền Nam. Tiểu đội của chú Tấn phải đi kích liên miên. Thím Tấn lo âu thấy rõ . Trung đội nghĩa quân lập được nhiều chiến công . Nhưng các chú nghĩa quân mà tôi quen biết cũng vơi dần . Họ đã âm thầm ra đi như những người chiến sĩ vô danh và trở về im lìm, trong những chiếc chiếu, những cái poncho, trong cái cảnh da ngựa bọc thây .

Rồi cái ngày đau thương của thím Tấn và 2 đứa con dại đã đến Chú Tấn và một chú nghĩa quân nữa hy sinh trong một cuộc đụng độ dữ dội với VC năm 1965. Xác chú được khiêng để trên bộ ván trong căn nhà nhỏ của chú . Khi tôi đi học về , tôi thấy người ta đang tắm rửa thay đồ rồi để một nải chuối lên bụng chú, ngọn đèn dầu leo lét được thắp trên đầu nằm có để một chén cơm và một cái trứng vịt . Đầu chú được băng bông trắng. Máu còn rĩ ra bên màng tang . Vợ con chú vật vã khóc than, đau đớn không thể nào kể xiết. Tôi đến mắm tay 2 đứa nhỏ. Thằng Dũng thỉnh thoảng hỏi tôi “Bộ Ba em chết rồi hả chị ?”. Tôi chỉ ừ, không biết trả lời làm sao !

Đến khi chôn chú Tấn, hàng loạt đạn đưa tiễn vang rền. Thím Tấn chết lên chết xuống, bộ đồ tang trắng bê bết bùn sình. Người ta phủ lên cái mã đất của chú Tấn một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà thật dài . Bốn phía có cắm bốn lóng trúc có gạo và muối . Tôi phải dẩn con Lan và thằng Dũng về nhà. Nước mắt tôi tuôn rơi. Cuộc sống chúng tôi đang êm đềm hiền hoà , thì tại sao người ta phải tấn công thôn ấp, giết hết người nầy người nọ. Để làm gì ? Miền Nam độc lập tự chủ, có ai chiếm đóng miền Nam đâu, mà phải giải phóng chúng tôi. Cuộc đời dân miền Nam không hạnh phúc, sung sướng gấp chục lần dân miền Bắc hay sao? Tại sao các người phải giết chú Tấn của chúng tôi để cho cuộc đời mẹ con thằng Dũng từ đó ảm đạm, sa sút hẳn đi. Thím Tấn khóc hoài không dứt ...

Năm sau, gia đình tôi dời đi chổ khác. Tôi ít được gặp lại Thím Tấn, thằng Dũng và con Lan. Năm năm sau, tôi mới được về thăm ấp cũ, tôi mừng rỡ gặp lại thím Tấn và 2 đứa con. Bây giờ ngày nào thím cũng phải ra chợ bán tương chao nuôi con. Thằng Dũng vẫn còn nhớ tôi nhưng con Lan thì không nhận ra tôi nữa.

Sau nầy tôi có dịp tiếp xúc với nhiều binh chủng oai hùng khác của quân lực VNCH, nhưng lòng tôi vẫn còn nhớ về các chú nghĩa quân hiền lành mà tôi đã biết năm nào . Hơn phân nửa các chú đã nằm xuống để bảo vệ làng xóm, quê hương tôi . Số còn lại có người gẫy chân , có người cụt tay, sống đời tàn phế. Việt Cộng đã chà đạp lên Hiệp Định Hoà Bình Paris mà họ vừa ký kết năm 1973, cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, đưa cả nước xuống 10 tầng địa ngục.

Thân tôi giờ xa xứ xa quê, đã hiểu được ý nghĩa sự hy sinh cao cả của các anh, các chú quân nhân quân lực miền Nam, thỉnh thoảng tôi nhớ lại các chú lính nghĩa quân tôi quen biết mà thấy lòng thương lắm . Cùng với bao nhiêu binh chủng khác của quân đội, các chú âm thầm lặng lẽ hy sinh, cho dân chúng trong ấp tôi được sống trong yên bình . Các chú đem xương máu ra bảo vệ nền tự do, dân chủ mới được thành hình trên miền Nam yêu dấu .

Các chú đã nằm xuống - bỏ lại con thơ, vợ dại - để ngăn cản bọn quỷ đỏ hung tàn trong công cuộc tiến chiếm miền Nam, áp đặt cả nước trong một chế độ độc tài, hung bạo, không lối thoát . Các chú đã đem sinh mạng, xương máu của mình, để ngăn cản bọn bán nước buôn dân đày đoạ cả dân tộc, và đưa đất nước Việt Nam đi ngược dòng tiến hoá cũa nhân loại . Các chú đã anh dũng hy sinh, ngăn cản bọn CSVN chiếm đoạt đất nước làm tài sản riêng tư cho đảng, rồi tự ý dâng hiến đất đai, hải đảo của tiền nhân cho quan thầy Trung Cộng .

Hỡi cô bác, hỡi anh chị ơi ! Nếu vị nào may mắn, có cuộc sống bình yên xin đừng quên các chú lính nghĩa quân đang sống đời tàn phế . Xin đừng quên các chú nghĩa quân đã lặng lẽ hy sinh để bảo vệ tự do, dân chủ cho dân tộc Việt Nạm Xin đừng quên vợ con họ, bị bỏ lại sau lưng với cuộc đời đau khổ.

Nguyễn Thanh Thủy

(Bài nầy được viết dựa vào những sự kiện có thật. Vì sự an toàn của một số người còn kẹt lại, tác giả tạm thời không đề cập đến những địa danh và tên người cần thiết trong bài nầy)

Thursday, February 4, 2021

Femme Noire

Femme nue, femme noire
Vétue de ta couleur qui est vie, de ta forme qui est beauté
J’ai grandi à ton ombre ; la douceur de tes mains bandait mes yeux
Et voilà qu’au cœur de l’Eté et de Midi,
Je te découvre, Terre promise, du haut d’un haut col calciné
Et ta beauté me foudroie en plein cœur, comme l’éclair d’un aigle

Femme nue, femme obscure
Fruit mûr à la chair ferme, sombres extases du vin noir, bouche qui fais lyrique ma bouche
Savane aux horizons purs, savane qui frémis aux caresses ferventes du Vent d’Est
Tamtam sculpté, tamtam tendu qui gronde sous les doigts du vainqueur
Ta voix grave de contralto est le chant spirituel de l’Aimée

Femme noire, femme obscure
Huile que ne ride nul souffle, huile calme aux flancs de l’athlète, aux flancs des princes du Mali
Gazelle aux attaches célestes, les perles sont étoiles sur la nuit de ta peau.

Délices des jeux de l’Esprit, les reflets de l’or ronge ta peau qui se moire

A l’ombre de ta chevelure, s’éclaire mon angoisse aux soleils prochains de tes yeux.

Femme nue, femme noire
Je chante ta beauté qui passe, forme que je fixe dans l’Eternel
Avant que le destin jaloux ne te réduise en cendres pour nourrir les racines de la vie.

*

Black woman 
Naked woman, black woman
Dressed in your color, which is life, in your shape,
which is beauty!
I have risen under your shadow; the gentleness of your hands shaded my eyes. 
And there, at the center of summer and noon, I discover you as promised land from the top of a raised, charred mountain pass 
And your beauty strikes me straight in the heart like the mouth which turns my mouth lyrical Savannah with pure horizons, savannah which shakes
eagle's thunderbolt.

Naked woman, dark woman!
Ripe fruit with firm skin, dark raptures of black wine, the fingers of the Winner
Your deep contralto voice is the spiritual song of the
under the impassioned caresses of the East Wind Sculpted tam-tam, taut tam-tam that grumbles under Beloved.
Naked woman, dark woman!
Oil which no whisper can wrinkle, tranquil oil on the
your skin that shimmers
Under the shadow of your hair, my anguish brightens
athlete's flanks, on the flanks of the princes of Mali Gazelle with celestial ties, the pearls are stars over the night of your skin
Pleasures from mind games, glints from the red gold over roots of life. up under the suns warming your eyes.
Naked woman, black woman!
I sing your beauty which passes by, shape which I fix on eternity 
Before envious destiny reduces you to ashes to feed the the roots of life.

Léopold Sédar Senghor 

Afolegends

*

Người con gái da đen

 Người con gái trần trụi, người con gái da đen
 Da của em là áo sắc màu cuộc sống, với dáng hình vẻ đẹp làm duyên!
 Anh lớn lên dưới bóng em Với đôi tay dịu dàng, em hay bịt mắt anh 
 Giữa mùa hè, khi mặt trời đúng vào giờ ngọ 
 Trên ngọn đồi cao nắng cháy, anh khám phá em, vùng đất hứa của anh 
 Em xinh đẹp, em như tiếng sét ái tình trúng trái tim anh 
 Như sức mạnh của đại bàng vỗ cánh 
 Người con gái trần trụi, người con gái da đen 
 Em là trái chín ngọt ngào, là làn da rắn chắc, là rượu vang say đắm 
 Đôi môi em tình tứ cùng môi anh ngây ngất 
 Em là thảo nguyên bao la đến chân trời trong sáng Thảo nguyên run rẩy nhờ cơn gió đông ve vuốt 
 Em là tiếng trống âm vang dưới bàn tay người chiến thắng 
 Tiếng em trầm và cao như lời hát tâm linh của Tình Ái 
 Người con gái trần trụi, người con gái da đen 
 Em là dầu thơm toả hương, dầu thơm dịu mát bên sườn vận động viên ngày xưa đó 
 Em là dầu thơm yêu thích luôn mang theo của hoàng tử xứ Mali 
 Em là linh dương với những bước nhảy diệu kỳ 
 Em là ánh sao như ngọc trai trên làn da đêm tối 
 Em là kết tinh của tinh thần, là phản chiếu ánh vàng lên làn da lấp lánh 
 Nỗi khổ tâm của anh được an ủi nhờ ánh sáng trong đôi mắt và mái tóc bồng bềnh. 
 Người con gái trần trụi, người con gái da đen 
 Anh ngợi ca vẻ đẹp của em, dáng hình đấng Vĩnh Cửu
 Đến một ngày, Định Mệnh ghen với em, hoá em thành tro bụi 
 Thân em dâng hiến nuôi rễ cây đời.

Sunday, January 31, 2021

 COLOR

Agra Gra
Bài Thơ này được viết bởi bởi 1 em bé châu Phi, được tuyên dương bởi Liên Hiệp Quốc là bài Thơ hay nhất năm 2005.
*
*

MÀU SẮC

Khi tôi mới sinh ra, tôi đen
Khi lớn lên, tôi cũng đen
Khi ra ngoài nắng, tôi đen
Khi sợ hãi, tôi đen
Khi đau ốm, tôi vẫn đen
Khi tôi chết tôi cũng còn đen.

Còn Bạn, các cậu bé da trắng,
Khi Ban mới sinh thì đỏ hỏn
Khi lớn lên, lại trắng bạch
Khi ra ngoài nắng, lại đỏ au
Khi lạnh, tái nhợt
Khi sợ, vàng úa
Khi đau, xanh xao
Khi chết, xám xịt.

Vậy mà Bạn gọi tôi, da màu.

Thursday, January 21, 2021

Về bài thơ The Hill We Climb, Amanda Gorman 
đọc trong Lễ nhậm chức Tổng thống của Joe Biden, ngày 20 tháng Giêng. 

 
Theo thông lệ, lễ nhậm chức Tổng thống 4 năm một lần, thỉnh thoảng đều có mục đọc Thơ. Năm nay, đặc biệt dành cho nhà thơ trẻ Amanda Gorman 22 tuổi, chưa có bằng lái xe, hiện sống tại Los Angeles, California, đọc  bài  thơ The Hill We Climb, và đã gây nhiều ngạc nhiên, thích thú, phấn kích đối với người Mỹ và cộng đồng thế giới. 

Amanda Gorman vừa tốt nghiệp 4 năm Đại học Harvard, được bà mẹ, 1 cô giáo đơn thân là Joan Wicks, khuyến khích Cô viết từ khi còn nhỏ và năm 2017 đã nhận được giải thưởng cũng như được phong là nhà thơ trẻ nhất của quốc gia. 

Amanda Gorman có tập The One for Whom Food Is Not Enough,viết khi còn nhỏ(2015). Hiện có 2 tập thơ đang bán rất chạy nhất trên Amazon là The Hill We ClimbChange Sings:A Children Anthem(thơ thiếu nhi).

 Bước lên sân khấu trước Điện Capitol của nước Mỹ vào buổi sáng ngày 20 tháng Giêng lạnh giá tại lễ nhậm chức của tân Tổng thống Joe Biden và Phó tổng thống Kamala Harris, nhà thơ trẻ Hoa Kỳ Amanda Gorman với trang phục của Prada - chiếc băng đô sa tanh màu đỏ và chiếc áo khoác hai dây màu vàng đã nhanh chóng khiến Cô ấy trở thành một biểu tượng nghệ thuật - cô gái 22 tuổi , da đen mảnh mai, được công chúng Hoa Kỳ sau đó gọi là 'đa dạng và xinh đẹp' ẩn núp trong bài thơ The Hill We Climb đầy cảm hứng cô viết, mà chúng ta không thể không đọc lại sau đó.

Nguyên ủy bài Thơ bắt đầu khi Tiến sĩ Jill Biden, hiền thê của Joe Biden, yêu cầu Amanda Gorman gửi một bài thơ để đọc tại lễ nhậm chức vào tháng 12 năm 2020, đóng góp vào chủ đề chung của lễ nhậm chức là "Nước Mỹ đoàn kết". Ngày 30 tháng 12 năm 2020, Cô được thông báo đã được chọn lựa.

 Gorman viết từ từ trong mùa đại dịch Covid-19, từ ngày 1.1.2021 cho đến 5 ngày sau, khi chứng kiến cuộc bạo loạn xảy ra tại điện Capitol chiều ngày 06.1 với những xúc động mãnh liệt trào dâng, và viết xong bài Thơ ngay trong đêm đó. Gorman sử dụng một lượng lớn các ám chỉ, ẩn dụ(metaphors)và ngôn cách trấn an(reassuring aphorisms), cùng lấy 1 số ý tưởng trong nhạc kịch "History Has Its Eyes on You"  của Hamilton Lin-Manuel Miranda, diễn ở Broadway năm 2015 và được Hamilton tán thưởng.

Bài thơ dài gồm 723 chữ,17 kh  được viết theo thể thơ tự do(free verse poetry) nhưng điều đó không có nghĩa là nó hoàn toàn không có vần điệu(rhyme) hay nhịp điệu(rhythm). Trên thực tế, bài thơ này được xác định bằng cách xử dụng nhiều vần điệu bởi nội dung và bối cảnh lịch sử của nó.Ví dụ: “shade” và “wade” ở khổ 1 cũng như “beast” và “peace” ở  khổ 1 câu cuối và đầu khổ 2, "we, see, be" ở khổ 17 cuối,  Ngoài ra còn có  bán vận như “trust” và “us” ở khổ thứ 10, cùng các chi tiết về điệp thanh(alliteration)phép đảo ngữ(anaphora)gối câu(enjambment)và ám chỉ(allusion)...Thêm nữa là tính đa nhịp (polyrhythmics) mạnh mẽ của bài Thơ cấu thành nó là một bài thơ có âm hưởng nhạc Rap(Rap poem). Cô còn xử dụng cả body language để diễn tả, điều đó có thể nghe nghe Cô đọc ở đây, rõ ràng và đĩnh đạc.

Amanda Gorman giải thích với báo New York Times rằng, tôi đã viết bài thơ, có tựa đề "The Hill We Climb", vào đêm ngay sau khi những kẻ bạo loạn  tràn vào điện Capitol “Trong bài thơ của tôi, tôi sẽ không phủ nhận những gì chúng ta đã thấy trong vài tuần qua và tôi dám khẳng định là vài năm qua. Nhưng điều tôi thực sự khao khát làm trong bài thơ là có thể dùng chữ của mình để hình dung một cách mà đất nước chúng ta vẫn có thể xích lại gần nhau và vẫn có thể hàn gắn, tôi nghĩ rằng nước Mỹ cần phải hòa giải”. Và đây chính là tinh thần nước Mỹ với God will, sự thật và công lý cùng đạo đức công dân, rạch ròi biết được khoảng cách giữa bóng râm(shade) và ánh sáng(bright), sợ hãi(fear) và hy vọng(hope), mà Cô viết trong bài Thơ và đã thụ hưởng được từ nền giáo dục Mỹ.

Thật vậy, Amanda Gorman tuy là một nhà thơ trẻ,
nhưng có tầm nhìn về tính triết lý chính trị, một tầm nhìn ngoạn mục về nền dân chủ là một khát vọng - một điều của tương lai, dân chủ luôn phải được tôi luyện và đương đầu thử thách đe dọa bởi các thế lực mâu thuẫn, từ đó  luôn bị trì hoãn, luôn nằm ngoài tầm với ngay cả trong các xã hội lấy dân chủ làm nguyên tắc điều hành việc nước.
Những biến động trong vài năm vừa qua, không phải là một sự đổ vỡ mà là một sự thật tàn nhẫn bất ngờ của lịch sử. Nhưng may mắn thay, chính trị đã làm tròn nghĩa vụ của nó, dân chủ đã vực dậy, đất nước hồi sinh, chúng ta tái thiết, hòa giải, phục hồi trong niềm tin, can đảm và ý chí của chúng ta. Hãy đọc những gì Cô ấy viết, cùng suy gẫm những biến động thực tế vừa qua:

 ..."We've seen a force that would shatter our nation rather than share it, would destroy our country if it meant delaying democracy.
 
And this effort very nearly succeeded. But while democracy can be periodically delayed, it can never be permanently defeated.
In this truth, in this faith, we trust. For while we have our eyes on the future, history has its eyes on us."... 

Thụy Mân dịch:

 ..Chúng ta đã thấy một quyền lực có thể làm tan vỡ đất nước này,
thay vì chia sẻ nó.
Sẽ hủy diệt mảnh đất này khi nền dân chủ bị tổn thương.

Và nỗ lực này gần như đã thành công.
Nhưng trong khi nền dân chủ bị trì trệ tạm thời,
nó sẽ không bao giờ có thể bị đánh bại vĩnh viễn.
Sự thật này, đức tin này, ta tin vào,
và khi ta mong ngóng đến tương lai, thì lịch sử vẫn dõi theo từng bước. 

Thi ca, về mặt chuyên môn, lý thuyết thi trung hữu nhạc, họa chưa đủ. Ở đây, còn bao gồm cả hoạt cảnh sân khấu sinh động(slam and performance poetry), như một nhạc kịch thuở dựng nước,mang nét lịch sử và anh hùng ca, được nhắc nhở ở gần cuối bài Thơ, ở khổ 14 và 15..:" So let us leave behind a country ...will emerge battered and beautiful."...là hoài vọng nối kết, viễn kiến trải dài mọi ngóc ngách theo địa lý nước Mỹ, từ thế hệ trước qua thế sau, của nước Mỹ xưa và nay, trong niềm tin cậy đằm thắm, bao la và vững chắc.

 Báo chí cùng các nhân vật quan trọng tại Mỹ đã nhận xét hình ảnh Amanda Gorman, một cô gái da đen nhỏ bé ít ai biết đến trước đó, hôm đó như là ngôi sao đột phá, khoảnh khắc tỏa sáng so với các ngôi sao nổi tiếng Lady Gaga, Jennifer Lopez và Garth Brooks ... Amanda Gorman, làm cử tọa phải há hốc miệng như tờ Los Angeles Times, hay đã “phỗng tay trên” chiếm đoạt tinh thần buổi lễnhư 1 tờ báo khác đã viết. 

 Bài Thơ đọc đúng lúc, hợp thời, đúng nơi, đúng chỗ , với những từ ngữ thích hợp nhất, xuất phát từ tinh thần của Abraham Lincoln và Martin Luther King Jr. Đó là một bài thơ có nhịp độ, được đánh giá rất cao không những cho dịp đặc biệt này, mà nó sẽ còn tồn tại lâu dài, vượt thời gian và không gian sau đó. Và  Gorman đã xuất hiện và đọc Thơ như thế, trong tình thế như tiêu đề bài thơ The Hill We Climb là, ngọn đồi ám chỉ Capitol Hill(trụ sở Quốc Hội), chúng ta leo là chúng ta thực thi dân chủ. Nhập đề là câu hỏi When day comes, we ask ourselves ...và kết thúc bài thơ là câu trả lời The new dawn blooms as we free it for there is always light if...thật rõ ràng, chắc chắn và đáng tin cậy.

 Trên Twitter, Dre Joanne Liu, cựu lãnh đạo tổ chức Y Sĩ Không Biên Giới, cho rằng bài thơ được đọc trong 5' 43 phút nhưng là truyền cảm nhất trong thời gian dài của buổi lễ. Cựu Đệ nhất phu nhân Michelle Obama viết rằng “lời Thơ mạnh mẽ và sâu sắc nhắc nhở chúng ta về sức mạnh mà mỗi chúng ta nắm giữ trong việc duy trì nền dân chủ. Hãy tiếp tục tỏa sáng, Amanda! Tôi nóng lòng muốn xem Em làm gì tiếp theo” 

Cùng hoàn cảnh như Biden, Gorman đã phải vật lộn
với trở ngại về phát âm(nói lắp)trong suốt thời thơ ấu, điều đó khiến thơ ca trở thành cứu cánh của Cô. Theo Cô, chữ nghĩa dồn trong Thơ thay cho tiếng nói, lặng lẽ chất chứa, quảng tải linh hồn thi nhân đến tha nhân, và chuyện đời đâu cũng thế, như chuyện Tái Ông Mất Ngựa ở phương Đông.

 Cũng giống như ông Biden, Gorman có mục tiêu dài hạn là tranh cử Tổng thống năm 2036

Tự ngàn xưa, hơn 4.000 năm trước, thi ca vốn đã là nguồn giải trí thiêng liêng và đầu tiên của con người, tận cho đến nay, với sứ mệnh đó, phác thảo bối cảnh xã hội, chuyển tải và gửi gắm thông điệp đến tương lai, như là tình yêu, niềm tin và hy vọng trong ánh mắt và nụ cười nhân thế.

 Amanda Gorman nói,không thể làm ngơ trước tiến trình dân chủ bất ổn, trì trệ tạo nên những vết nứt thực sự cần được lấp đầy, hố sâu phải được dứt khoát san phẳng và, nước Mỹ phải một lòng thực sự đoàn kết, để hy vọng được điều đó "we, see, be" và đó là nguồn suối tươi mát chảy dài bất tận, chất chứa trong bài thơ Ngọn Đồi Ta Leo của cô và nguồn cảm hứng thụ hưởng bất tận cho tất cả chúng ta, những người yêu Thơ và yêu chuộng tự do, dân chủ trên hành tinh này.


(Bài Thơ này, được dịch qua 11 bản Việt ngữ, tất cả đều hay).

Bài đọc thêm : 

Hoang Dung
Viết theo các tài liệu trên internet, dẫn giải trong các inserted links (italic words).