Sunday, June 28, 2009

Hải Triều


Lá Cờ Vàng

1.
Có một thời công chuyện làm ăn khó khăn, tôi mua một chiếc ghe nhỏ, theo anh em làm nghề dân chài, đi đánh cá Salmon. Đó là thời vàng son cách đây hơn 10 năm của "làng" ghe đánh cá Salmon gốc Việt ở British Columbia, Canada. Làm 4 tháng, nghỉ 8 tháng ăn lương thất nghiệp. Tôi thấy cái 8 tháng ăn lương thất nghiệp có vẻ ngon cơm, đi đó đây nói chuyện, viết lách, hội thảo, biểu tình… mà không sợ vợ con ở nhà ăn mì gói… Đó là lý do tôi thành "dân chài", mặc dù cái thuở ban đầu lạng quạng ấy, tôi không biết vá lưới, không biết mặt con cá Salmon nó dài ngắn, méo tròn ra sao… Đúng là liều mạng!

Ta đi trong tuyết ươm hơi lạnh
Mà lửa từ tim vẫn nhóm hồng
Với lá quốc kỳ trên ngực áo
Ta thấy còn hơi ấm non sông…

Thuở đó, Ba tôi còn sống, ở Việt Nam, nghe tin tôi ra biển, ông than trời, vì biết tôi không thể là dân làm biển. Ông tưởng tượng tôi đi chân trần, vát lưới ra biển, mặt mày đen như cục thang hầm, nhấp nhô trên sóng nước… như mấy ông dân chài Phan Thiết ở Lạc Đạo, Bình Hưng, Thương Chánh… rồi nghĩ đến cái thời "vàng son" khi tôi từ đơn vị về thăm nhà, ngừng xe jeep trước cửa, bông mai trên bâu áo, ra trường Thủ Đức mấy năm mà vóc dáng vẫn chưa tan nát nét thư sinh, ông lấy làm hãnh diện với bà con làng xóm… Ông thở dài, và khi biển động, bão tố ở biển Phan Thiết xa Canada gần nửa quả địa cầu, ông lại đứng ngồi không yên nhìn ra biển rộng tưởng chiếc ghe tôi đang quay cuồng trong cơn bão, tưởng chừng khi biển Phan Thiết động thì sóng Canada cũng vỗ ầm ầm… Ba tôi than trời là đúng, tôi ra biển nhiều lần song vẫn bị say sóng hộc máu, lưới quăng xuống nước, cá buồn tình trốn mất tiêu… và cuối cùng, tôi bán ghe sau 5 năm chọn lầm cái nghề "Hà Bá" chê lỗ vốn này.

Tôi thương Ba tôi khi nghĩ đến ông, nhưng ông xa tôi nghìn trùng. Cái gần gũi theo tôi lên ghe ra biển là cái "còm piu tơ" Mac Intos và mấy cái thư của cô bé gái 10 tuổi con tôi. Tôi làm nghề biển mà không bỏ được cáo nghiệp… báo. "Nghiệp báo!" Đúng là Phật dạy nghìn năm trước không sai! Báo ở đây là nghề viết lách trăm cay ngàn đắng cùa những tên cầm bút còn chút liêm sỉ và lương tâm… chứ không phải là thứ nghiệp báo trầm luân địa ngục gì cả!

Khi mỗi lần ghe vô bến, bán cá và vá lưới xong, tôi kéo giây điện gắn vô máy và gõ lọc cọc. Bài vở, tin thức lấy từ báo Tây và cái radio… rồi nhét vô cái đầu cho nó làm việc, xong sang/copy vô cái disket gửi qua Toronto cho chủ nhiệm Bùi Bảo Sơn… Tạp chí Lửa Việt vì thế mà tôi vẫn có mặt, cho dù tôi lênh đênh trên sóng nước theo đuôi bầy cá Salmon...

Có một hôm, thả lưới xong, tôi bóc cái thư cô bé gái gửi cho bố, tôi vô cùng xúc động. Thư con tôi có mấy dòng tiếng Anh "con nhớ Daddy! Con nhớ Daddy!" mà trên đầu thư con tôi vẽ một lá quốc kỳ mầu vàng ba sọc đỏ bằng bút chì mầu. Thì ra con tôi biết lá cờ trên bàn tôi là gì, và những gì tôi giải thích cho nó biết… Đọc thư con, nhìn những dòng chữ con nít, nhìn lá cờ… tôi thấy cả một vùng biển cửa sông Skeena gần Alaska ấm lại…

2.
Tại Mỹ cũng như tại Canada, tờ lịch vừa qua bước vào ngưỡng cửa tháng 12 là thiên hạ chuẩn bị cho mùa Giáng sinh. Một hôm cô bé lớp tiểu học con tôi về nhà, vừa bỏ sách vở xuống bàn là nó kéo tôi ra phòng khách:

- Ông thầy trường con gắn cờ Việt cộng trên cây Giáng sinh đó Ba!

- Sao con biết đó là cờ Việt cộng?

- Thì có lần ba chỉ con cờ đỏ sao vàng là cờ Việt cộng, là cờ bỏ tù Ba, là cờ mà Ba Mẹ phải chạy trốn. Con ghét lá cờ đó lắm! Tại sao trường không treo cờ mình Ba?

Tôi bảo con tôi:

- Con giỏi lắm! Ba thương con lắm! Ba với con lên trường, con chỉ cho Ba lá cờ Việt cộng trên cây Giáng sinh nhen!

Cô bé nhanh nhẩu:

- Con dắt Ba đi liền được không Ba?!

Trường cách nhà tôi chỉ vài trăm mét. Hai cha con vô trường, và quả đúng như lời cô bé, một lá cờ đỏ sao vàng nhỏ chen giữa những lá cờ các quốc gia khác được trang trí gắn trên cây Giáng sinh sặc sỡ những bong đèn màu nhấp nháy. Tôi dắt con vào xin gặp ông hiệu trưởng, giải thích cùng ông về lá cờ, về kiếp nạn của dân tộc Việt Nam, và hơn nửa triệu người Việt Nam bỏ nước vượt biển ra đi,vùi thây trong biển cả chỉ vì lá cờ này… Và lá cờ cờ đỏ sao vàng là cơn ác mộng của tôi, gia đình tôi, dân tộc tôi.

Ông thầy Canada nghe tôi giải bày, cảm thức những xúc cảm của tôi khi tôi nói, ông hiểu ra, và khi tôi bảo ông rằng tôi sẽ làm đơn chuyển con tôi đi trường khác học nếu ông còn giữ lá cờ đỏ này trên cây Giáng sinh. Ông từ tốn dắt cha con tôi ra cây Giáng sinh, gở bỏ lá cờ đỏ sao vàng, và quay lại hỏi con tôi:

- Con muốn thầy thay lá cờ nào lên đây?

- Dạ, lá cờ con làm ở nhà!

- OK, mai con đem cờ con làm lên trường nghe!

- Dạ! Mai con đem lên! Con cám ơn thầy!

Đêm đó, nhỏ bé con tôi hí hoáy cắt giấy, tô vẽ một lá cờ vàng ba sọc đỏ nhỏ xíu. Sáng hôm sau nó lên trường thật sớm. Giờ ăn trưa, nó chạy một mạch về nhà:

- Daddy! Cây Giáng sinh ở trường thầy con cho gắn một lá cờ vàng như lá cờ của Ba để trên bàn. Con làm lá cờ đó hồi hôm Ba biết không?

- Ba biết! Ba biết! Ba thấy con làm! Con giỏi lắm! Ba thương con!

Tôi ôm con tôi vào lòng, hôn trên trán nó, và tôi thấy Vancouver ấm cả một trời mùa Đông…

3.
Bình là một thuyền nhân tỵ nạn đi chui, nghĩa là anh em hắn phóng lên ghe tôi giờ chót khi tôi và đám bạn đẩy ghe ra biển. Đến Canada, hắn ở cùng thành phố Vancouver với tôi. Khá lâu không gặp, có lần tôi lang thang trong chợ Longdale Market ở North Vancouver, gặp hắn làm nhân viên security trong chợ, có job tốt, vợ con, nhà cửa đàng hoàng. Tôi mừng là anh em chúng tôi không tên nào chết trên biển, không tên nào thất nghiệp và ba trợn khi đến xứ người… Tôi không mong gì hơn.

Khoảng một tuần sau đó, bất ngờ Bình phone tôi:

- Anh Hai, sáng nay tôi vô làm, thấy thằng manager cho giăng một dãy cờ trên gần nóc lòng chợ, có cả cờ đỏ sao vàng. Tôi xì nẹt và cự lộn với nó!

- Bộ không sợ nó đuổi sở sao?

- Đuổi, tôi tìm chỗ khác làm, chịu nhục làm ở đây mỗi ngày thấy lá cờ này tôi chịu không được! Thằng manager thấy tôi nóng, lúc đầu nó ngạc nhiên, sau tôi giải thích nó hiểu ra, nó đồng ý bỏ lá cờ đó, nhưng nó ra điều kiện là tôi phải tự vô kho mang thang ra leo lên tháo cờ, và thay vào bất cứ một lá cờ quốc gia khác mà tôi không "up set, không nhức đầu" ngay hôm nay. Nó không chấp nhận để giây cờ trong chợ có một khoảng trống. Anh có lá cờ quốc gia nào sẳn ở nhà, lái xe mang gấp qua cho tôi trước khi chợ đóng cửa!

- OK, chuyện gì chứ chuyện này tao bay qua liền!

Mặc dù thằng em thuyền nhân đi chui của tôi nó không tham gia sinh hoạt đấu tranh nào, năm 1975 nó còn nhỏ, chưa đi lính, nhưng nó có tinh thần quốc gia ngon lành, và phản ứng hết sẩy, ngon lành hơn bất cứ ai "ăn cơm quốc gia thờ ma Việt vẹm".

Ngày hôm nay, ai thăm chợ Longdale Market ở North Vancouver, Canada vẫn còn thấy trên nóc chợ một lá cờ vàng ba sọc đỏ giăng giữa hàng cờ các quốc gia khác, đó là lá cờ của tôi và Bình. Hạ được cờ đỏ VC, treo lên lá cờ vàng trên nóc chợ ở Canada là một kỷ niệm khó quên của anh em tàu BI 25803 của tụi tôi khi vào Pulau Bidong năm 1980 trước đây.

4.
Tại Canada, tỉnh Alberta là nơi lá cờ vàng ba sọc đỏ được treo thường trực tại hai thành phố Calgary và Sandre. Chế độ Hà Nội nhiều lần cay cú và can thiệp yêu cầu kéo xuống, nhưng chính phủ các cấp Alberta vẫn lạnh như tiền, quyết tâm giữ lá cờ của cộng đồng Việt Nam tỵ nạn cộng sản là một yếu tố quan trọng để nhà nước Alberta "gửi gió cho mây ngàn bay những lời phản đối, yêu cầu của Hà Nội" .

Những đồng hương Việt Nam có dịp ngang qua Calgary, ngay trên góc xa lộ Deerfoot và International Avenue ( đường 17), sẽ thấy có một công viên treo một dọc cờ các quốc gia tự do trên một hàng trụ cờ, và lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay giữa hàng cờ đó.

Thành phố Vancouver cờ vàng ba sọc đỏ xuất hiện trong một tình huống rất lý thú. Trên đường Kingsway, một trong nhưng con đường chính của thành phố đẹp nhất Bắc Mỹ này, gần giữa hai góc đường số 10 th Ave và 11 th Ave, có một hảng bán xe khá đắc tiền có tên là Tecnique Auto Sale. Bỗng một hôm, bà con Việt Nam đi xe bus ngang hảng xe, thấy một hàng cờ trong đó có lá cờ đỏ sao vàng tổ bố. Thế là nhiều cú phone gọi tới tấp tới anh em Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Thủ Đức Vancouver:

- Trời ơi mấy ông ơi! Tụi Việt cộng nó treo cờ đỏ sao vàng trên đường Kingsway! Bây giờ mấy ông làm sao chớ!

- Chỗ nào Bác!

- Chỗ tiệm bán xe trên đường Kingsway, gần góc 11!

- OK bác! Tụi cháu đến đó ngay!

Tôi và Trần Văn Trung SĐ18 phóng xe đến đó, và y như rằng, lá cờ đỏ sao vàng "đang giỡn mặt bà con" dưới trời Vancouver. Tôi và Trung vào hảng xe, tự giới thiệu là đại diện cho Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Võ Khoa Thủ Đức thuộc cộng đồng Việt Nam, xin gặp manager…

- Thưa ông, sao hôm nay hảng ông lại có sang kiến treo 12 lá cờ trước hảng xe, và tại sao lại có lá cờ đỏ sao vàng?

- Hảng tôi buôn bán xe, 12 lá cờ được treo là 12 sắc dân đông đảo có mặt sinh sống tại vùng Vancouver Mainland và vùng phụ cận. Người Việt các ông trong vùng này theo tôi đoán có khoảng 40 ngàn dân, do đó tôi treo lá cờ đỏ sao vàng của nước ông!

Tôi biết ngay là hảng xe có một sự nhầm lẫn "vĩ đại và vô tình". Tôi từ tốn giải thích:

- Vì nhu cầu buôn bán, hảng ông mới treo các lá cờ quốc gia của các sắc dân. Chúng tôi đến đây với thiện chí là giúp các ông tránh khỏi những hiểu lầm không lợi cho việc buôn bán của hảng ông. Việc treo các lá cờ khác, chúng tôi không có ý kiến, nhưng treo lá cờ đỏ sao vàng thì không nên?

- Tại sao/Why? Xin ông nói rõ hơn!

- Thưa ông, lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ của đảng cộng sản Việt Nam và đảng đó đã áp đặt thành cờ của nước Việt Nam cộng sản; lá cờ đó không đại diện cho nước Việt Nam tự do của chúng tôi. Vì lá cờ này mà dân tộc tôi đau khổ, vì lá cờ này mà chúng tôi phải bỏ nước ra đi và có mặt ở đây, vì lá cờ này mà nửa triệu người Việt Nam vùi thân trong lòng biển trên đường tìm tự do. Quý hảng treo lá cờ này là khơi lại niềm đau, nỗi hận của 40 ngàn người Việt sinh sống ở đây, và họ sẽ không vào xem xe các ông, không mua xe các ông, và họ có thể tập trung hàng ngàn người biểu tỉnh chống lá cờ đỏ trước hảng ông…

Người Manager hiểu ra ngay sự tình, và ông đồng ý. Ông cho người tháo lá cờ đỏ sao vàng xuống. Nhưng ông bỗng nói:

- Tháo lá cở đỏ xuống thì một trụ cờ bỏ trống…

- Vậy ông có thể thay lá cờ vàng Việt Nam của chúng tôi lên được không?

- OK được! Chừng nào ông giao lá cờ đó cho chúng tôi?

- Ngay hôm nay!

Chúng tôi cho Trung bay về trụ sở Hội Cựu Chiến Sĩ mang đến hảng xe lá cờ vàng ba sọc đỏ. Hảng xe hí hoáy móc vào thanh ngang của trụ cờ nhưng không được, vì cờ không có lổ ngang đủ rộng. Người manager không trả lại cờ, ông giữ lại và mang vào office. Chúng tôi cám ơn ông và từ giả hảng xe. Trên đường về, tôi nói với Trung:

- Đem được cờ đỏ VC xuống là tụi mình thắng VC 1-0 rồi! Chuyện họ treo cờ mình lên được thì càng tốt, không có cũng không sao, miễn là đừng có cờ đỏ sao vàng treo lên trong thành phố này là OK.

Mấy hôm liền sau đó, chúng tôi cứ lái xe lạng qua lại trước hảng xe xem có gì lạ không. Cây cột cờ vẫn để trống, không cờ đỏ, không cờ vàng. Tôi nghĩ bụng, chắc hảng xe muốn giữ thái độ trung lập. 1-0 là tỷ số chấp nhận được. Nhưng ngày hôm sau nữa, khi tôi lái xe qua đường Kingsway để ý cây trụ cờ trống như thường lệ, mắt tôi sáng lên khi thấy lá cở vàng ba sọc đỏ rực rỡ, mới toanh đồng dạng với hàng cờ các nước khác, tung bay trong gió. Thì ra hảng xe thuê may lá cờ vàng theo mẫu lá cờ chúng tôi cho hảng nhưng có một lỗ ngang để luồn vào. Họ đã giữ lời hứa treo lá cờ vàng.

Tôi phone Trung và các bạn:

- Hạ VC thêm một quả nữa! 2-0!

- Cái gì?

- Hảng xe treo cờ mình, đẹp, mới toanh, rực rỡ! Gặp nhau tại Hội quán ngay. Phone cho mấy ông thần nước mặn của mình luôn. Ứng tiền mua giùn một cái thiếp cám ơn, mộ bó hoa, một case beer, lấy ở nhà một chai rượu chưa khui…

- Để làm gì?

- Tặng hảng xe, sao đó mình khao quân!

- Nghe 5, nhận 5!

Nội trong hôm đó, chúng tôi đã tiếp xúc cám ơn hảng xe, để lại trong văn phòng họ một chai rượu, một case beer, một bó hoa và một thiệp cám ơn… nhân danh Cộng đồng Người Việt vùng Greater Vancouver, Hội Cựu Chiến Sĩ và Hội Võ Khoa Thủ Đức Vancouver… Và cuối tháng, khi báo Việt Nam Vancouver ( một ấn bản địa phương của Nguyệt San Việt Nam) ra lò, chúng tôi đã gửi cho hảng xe 40 số báo free mà trang bìa là 1 trang quảng cáo cho hảng xe không lấy tiền. Quảng cáo nẳm ngay nơi trang bìa sau tờ bào với lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay.

Đây là lá cờ vàng ba sọc đỏ duy nhất tại Vancouver rực rỡ, lồng lộng trong nắng tại Vancouver, bất chấp những cú phone và văn thư khiếu nại, phản đối của sứ quán cộng sản tại Ottawa. Tỷ số 2-0 này sẽ tồn tại cho đến ngày tàn trận đấu dài mà thời gian trận đấu được tính bằng năm, bằng tháng trên nỗi đau của dân tộc…

Hiện nay, âm mưu và nổ lực của tà quyền Taliban VC ở Hà Nội vẫn còn đang tiến hành quyết liệt: Phân hóa cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại, lăng nhục cuộc chiến đấu chính nghĩa của QLVNCH và bôi bẩn, hạ thế giá lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chúng ta mất gần hết, chỉ còn lại mầu cờ. Và chúng ta không chấp nhận những phản bội của bất cứ ai,bất cứ từ đâu tới. Những đoản văn này được viết nhân chuyện mầu cờ bị lăng nhục ở Nam California.

Lịch sử sẽ không tha thứ cho những ai bôi đen lịch sử bằng cách hạ nhục lá cờ vàng!

Hải Triều

Nhóm Nhà Văn Quân Đội

Thursday, June 25, 2009

Thơ Trương Thúy Hậu


秋望

黃 葉 陳 陳 團 亂 飛
十 年 東 望 久 人 違
庭 前 秋 向 吹 煙 問
何 日 歸 期 是 不 知


THU VỌNG

Video Thu vàng

Hoàng diệp trần trần đoàn loạn phi
Thập niên Đông vọng cửu nhân vi
Đình tiền Thu hướng xuy yên vấn
Hà nhật quy kỳ thị bất tri.

Lá vàng hàng loạt tạt bay qua
Mười năm nhớ Bạn ở quê nhà
Buồn quá theo Thu ra sân trước
Hút thuốc mơ về quê rất xa.

Trương Thúy Hậu
2005

Wednesday, June 24, 2009

Émile Leon Cammaerts


Le Drapeau Belge

1.
Rouge pour le sang des soldats,
- Noir, jaune et rouge -
Noir pour les larmes des mères,
- Noir, jaune et rouge -
Et jaune pour la lumière
Et l'ardeur des prochains combats.
Au drapeau, mes enfants,
La patrie vous appelle,
Au drapeau, serrons les rangs,
Ceux qui meurent, vivent pour elle!

2
.
Rouge pour la pourpre héroïque,
- Noir, jaune et rouge -
Noir pour le voile des veuves,
- Noir, jaune et rouge -
Jaune pour l'orgueil épique,
Et le triomphe après l'épreuve.
Au drapeau, au drapeau,
La patrie vous appelle,
Il n'a jamais flotte si haut,
Elle n'a jamais été si belle!

3.

Rouge pour la rage des flammes,
- Noir, jaune et rouge -
Noir pour la cendre des deuils,
- Noir, jaune et rouge -
Et jaune pour le salut de l'âme
Et l'or fauve de notre orgueil.
Au drapeau, mes enfants,
La patrie vous bénit.
Il n'a jamais été si grande
Que depuis qu'il est petit,
Que depuis qu'il brave la mort

Émile Leon Cammaerts

Source en.wikipedia.org

Tuesday, June 23, 2009

Thơ Nghiêm Thị Hằng


Ngày xưa


Video Ngày xưa Hoàng thị - BangBang

Ngày xưa em trả anh rồi
Câu thơ còn nợ tình đời còn mang
Ngày xưa thương con dã tràng
Một mình xe cát đã tàn tháng năm.
Ngày xưa một thủa xa xăm
Em đi hái lá chăn tằm ươm tơ
Tơ em hong nắng đến giờ
Áo tơ chưa mặc còn chờ mùa đông.
Ngày xưa em chưa lấy chồng
Sao anh không gói nắng hồng sang chơi?
Ngày xưa giờ đã xa rồi
Gặp nhau lại ước một thời ngày xưa...

Nghiêm Thị Hằng

Monday, June 22, 2009

Lính khố xanh


Lực lượng vệ binh bản xứ của thực dân Pháp
(1915-1945)

Lực lượng vũ trang do Pháp tổ chức ở Đông Dương và Quảng Châu Loan ( xứ bảo hộ của Pháp ở Trung Quốc ) để phục vụ cho việc cai trí thuộc địa của Pháp. Lực lượng này thành lập ngày 30-6-1915 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp, gồm toàn bộ binh lính người bản xứ ( Đông Dương và Quảng Châu Loan ) không thuộc lực lượng chính quy (quân đội thuộc địa của Pháp); thuộc quyền chỉ huy tối cao của chính quyền Pháp ( ở Việt Nam, do thống đốc Nam Kỳ, thống sứ Bắc kỳ và khâm sứ Trung kỳ chỉ huy ). Lực lượng này có chức năng: bảo đảm trật tự an ninh; canh gác công sở, trại giam tuyên giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa ( của chính quyền ); đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy... Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương được coi như địa phương quân, được tuyển mộ như lính thuộc quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương và sẵn sàng bổ sung cho quân đội thuộc địa khi cần theo lệnh của toàn quyền Đông Dương. Thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương có: vệ binh bản xứ ( P.Garde Indigène; ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Lào và Quảng Châu Loan thường gọi là lính khố xanh, ở Nam kỳ gọi là lính thủ bộ), vệ binh miền núi ( P.Garde Montagnade; thường gọi là lính dõng ) và lính cơ ( P.Milice). Quân số ( đầu 1945 ) khoảng 22.000 người. Tan rã khi Nhật đảo chính Pháp ( 9-3-1945 ); một bộ phận ( lính khố xanh ) được Nhật chuyển thành bảo an binh.

Saturday, June 20, 2009

BẢN ĐỒ VIỆT NAM


BẢN ĐỒ VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI

( TỪ THẾ KỶ15 ĐẾN NAY )


















































































Nguồn
zum.de.whkla

Đọc thêm maproom.org - History of Vietnam - Lịch sử Việt - History of southeast Asia

Ghi chú : Bản đồ Việt Nam năm 1954 (ở trên) đã vẽ nhầm đường ranh chia cắt đất nước theo Hiệp định Genève 1954 tại vĩ tuyến 16 . Website của Trường KMLA này tại South Korea.đã nhầm lẫn khi viết bài: http://www.zum.de/whkmla/region/seasia/nvietnam19541975.html

Bản đồ Viêt Nam năm 1945 cũng bị nhầm lẫn.Annam thời kỳ này thuộc Triều đình Huế,lãnh thổ từ tỉnh Bình Thuận đến Thanh Hóa,theo hiệp ước năm 1884 Pháp-Việt ,có nghĩa là vẫn giông như bản đồ năm 1893 ở trên.

Diendan đã gửi mail ngày June-20/09 yêu cầu KMLA sửa lại .

朱孟楨


青心才人詩集序

今使緣締贈扇,遼陽不歸叔父之喪;
變起賣絲,雷州即辦寃民之案;
則瑟琴好合,骨肉團圓;碧玉長留,
紫釵不斷;烟花商客,何來買笑之金;
聲教外臣,終阻歸降之甲。
何以表閨人之孝行,見俠女之機權;
乃知:事非曲則不奇,遇愈屯而乃顯。

卿真達者,須知蒼昊之憐才;
我亦云然,莫怨紅顏之無分。
獨是:未通媒妁,
先訂私盟,一墜繁花,
便成結習。
或者謂水蕩雲流之態;淪而為枝迎葉送之風。
不知:紅杏出墻,未付香心於粉蝶;
霜鋒飲恨,恐延禍事於池魚。
勵鏡裏之冰霜,度愁邊之歲月。
無瑕之壁,價可重於連城;
已逝之波,夢猶回於舊浦。
試平情而著論,宜略迹而原心。

又況:十首新詩,
冠入斷腸之集;
四絃宮怨,譜成薄命之音。
覺棲涼其惱人,
復娉婷而顧影。
花應輸艷,柳欲憎嬌。
參北部之風騷,笑啼亦韻;
擅南朝之粉黛,濃淡相宜。
固宜諸老鍾情,
遍名姓於裙邊袖角;
遂使千秋記事,
採風流於剩粉殘脂。

嗟乎!小謫風塵,幾遭魔孽。
情天浩渺,
恨海滄茫。
隨風之絮何依;
墜悃之花無賴。
干卿甚事,替古偏愁。
然而,聽月夜之琵琶,
青杉易濕
;唱隔江之玉樹,
白鬢添花。
由來名士佳人,
夙世有花嚴之劫;
休怪青山黃土,千古同淪落之悲。
僕本多情,感深同調。
未悟空花於色界,
偏憐幻夢於春場。
金屋阿嬌,漫著半空之想
;美人芳草,憑招隔代之魂。
偶興筆以抽思,遂逐回而想詠。
言之長也,
藉當客窗聽雨之談;
靈之來兮,或在洛浦淩波之夜。

朱孟楨

Thanh Tâm tài nhân tập tự

Kim sử duyên đề tặng phiến,
Liêu Dương bất quy thúc phụ chi tang,
biến khởi mãi ty, Lôi châu tức biện oan dân chi án;
tắc sắc cầm hảo hợp, cốt nhục đoàn viên,
bích ngọc trường lưu, tử thoa bất đoạn;
yên hoa thương khách, hà lai mại tiếu chi kim,
thanh giáo ngoại thần, chung trở quy hàng chi giáp.
Hà dĩ biểu khuê nhân chi hiếu hạnh, kiến hiệp nữ chi cơ quyền?
Nãi tri sự phi khúc tắc bất kỳ, ngộ dũ truân nhi nãi hiển.

Khanh chân đạt giả, tu tri thương hiệu chi liên tài;
ngã diệc vân nhiên, mạc oán hồng nhan chi vô phận.
Độc thị vị thông môi chuớc,
tiên đính tư minh, nhất trụy phiến hoa,
tiện thành kết tập.

Hoặc giả vị thủy đãng vân lưu chi thái,
luận nhi vi chi nghênh diệp tống chi phong.
Bất tri hồng hạnh xuất tường, vị phó hương tâm phấn điệp.
Sương phong liễm hận, khủng điên họa sự ư trì ngư.
Lệ kính lý chi băng sương, độ sầu biên chi tuế nguyệt.
Vô hà chi bích, giá khả trọng ư liên thành;
dĩ thệ chi ba, mộng do hồi ư cựu phố.
Thí bình tình nhi trước luận,
nghi lược tích nhi nguyên tâm.

Hựu huống: thập thủ tân thi,
quán nhập đoạn trường chi tập;
tứ huyền cung oán, phổ thành bạc mệnh chi âm.
Giác thê lương kỳ não nhân,
phục đính đình nhi cố ảnh.
Hoa ưng thâu diễm, liễu dục tăng kiều.
Tham bắc bộ chi phong tao tiếu đề diệc vận;
thiện nam triều chi phấn đại nùng đạm tương nghi.
Cố nghi chư lão chung tình,
biến danh tính ư quần biên tụ dốc;
toại sử thiên thu ký sự,
thái phong lưu ư thặng phấn tàn chi.

Ta hồ! Tiểu trích phong trần, kỷ tao ma nghiệt!
Tình thiên hạo diểu,
hận hải thương mang!
Tùy phong chi nhứ hà y!
Trụy khổn chi hoa vô lại!
Can khanh thậm sự, thế cổ thiên sầu!
Nhiên nhi thính nguyệt dạ chi tỳ bà,
thanh sam dị thấp;
xướng cách giang chi ngọc thụ,
bạch mấn thiêm hoa.

Do lai danh sĩ giai nhân,
túc thế hữu hoa nghiêm chi kiếp.
Hựu quái thanh sơn hoàng thổ,
thiên cổ đồng luân lạc chi bi.
Bộc bản đa tình, cảm thông đồng điệu.
Vị ngộ không ư sắc giới,
thiên liên do mộng ư xuân tràng.
Kim ốc A Kiều, mạn trước bán không chi tưởng;
mỹ nhân phương thảo, bằng chiêu cách đại chi hồn.

Ngẫu hững bút dĩ trừu tư, toại trục hồi nhi tưởng vịnh.
Ngôn chi trường dã,
tạ đương khách song thính vũ chi đàm;
linh chi lai hề, hoặc tại Lạc phố lăng ba chi dạ...


Chu Mạnh Trinh

Tựa Truyện Kiều

Giả sử ngay khi trước,
Liêu Dương cách trở,
duyên chàng Kim đừng lỡ việc ma chay;
quan lại công bằng,
án viên ngoại tỏ ngay tình oan uổng.
Thì đâu đến nỗi son phấn mấy năm lưu lạc,
đem thân cho thiên hạ mua cười;
mà chắc biên thuỳ một cõi nghênh ngang,
ai xui được anh hùng cởi giáp.
Thì sao còn tỏ được người thục nữ mà đủ đường hiếu nghĩa,
tay đàn bà mà lại có cơ quyền.
Thế mới biết: người khôn thì hay gặp gian truân,
chuyện đời khéo lắm trò quanh quẩn.

Con tạo hoá vốn thương yêu tài sắc,
nàng đà biết thế hay chưa.
Khách má hồng đừng giận nỗi trăng già,
ta cũng khuyên lời phải chẳng.
Chỉ vì một tội mối manh chưa có,
thề thốt đã nhiều, trăng gió mắc vào,
phồn hoa dính mãi.

Cũng có người bảo:
tại nước chảy mây trôi lỡ bước,
nên cành đưa lá đón quen thân.
Nào biết đâu bông hạnh nở ngoài tường chưa để con ong qua tới;
cho có muốn lưỡi dao liều với mạng,
lại e thành cháy vạ lây.
Tấm lòng này như tuyết như gương,
mối sầu nọ qua ngày qua tháng.
Ngọc kia không vết,giá liên thành khôn xiết so bì.
Nước đã trôi xuôi,hồn cựu mộng hãy còn vơ vẩn.

Bàn cho thật phải,tình cũng nên thương.
Lại xem như bút mực tài hoa,
đoạn trường mười khúc; trúc tơ phong nhã,
hồ cầm một chương; câu thần vẳng vọng tiêu tao,
bóng ngọc tưởng chiều não nuột;
hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh,
vậy nên khách đa tình say chuyện phong lưu,
trăm năm cũ còn ghi tên tuổi hảo;
người chép sách tiếc vì tài sắc,
nghìn thu sau nhặt lấy phấn hương thừa.

Than ôi, một bước phong trần,
mấy phen chìm nổi; trời tình mờ mịt,
bể hận mênh mang.
Sợi tơ mành theo gió đưa đi,
cánh hoa rụng chọn gì đất sạch.
Ai dư nước mắt khóc người đời xưa,
thế mà giống đa tình luống những sầu chung,
hạt lệ Tầm Dương chan chứa;
lòng cảm cựu ai xui thương mướn,
nghe câu ngọc thụ não nùng.

Cho hay danh sĩ giai nhân,
cùng một kiếp hoa nghiêm nặng nợ.
Ngán nỗi non xanh đất đỏ,
để riêng ai luân lạc đau lòng.
Ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu.
Cái kiếp không hoa lẩm cẩm,
con hồn xuân mộng bâng khuâng.
Đã toan đúc sẵn nhà vàng chờ người quốc sắc,
lại muốn mượn chùm phương thảo hú vía thuyền quyên.

Sẵn bút nghiên chia vịnh từng hồi,
đem sự tích tóm làm một tựa.
Bây giờ kể còn dài chưa hết,
hạt ba tiêu như thánh thót mưa thu.
Hỡi ơi, hồn còn có biết hay chăng?
Bóng hoàn bội tưởng ra vào Lạc phố.

Đoàn Tư Thuật dịch

Nguồn thivien.net