Thursday, December 15, 2011

Buddhism


Chiếc Cầu Muôn Thuở


Ðây là một khu rừng xanh tươi trong dãy núi Hy Mã Lạp Sơn, lòng sông Hằng từ ngàn cao đổ về, chầm chậm chảy như muốn nghỉ ngơi sau khi đã vượt qua nhiều đoạn thác ghềnh.

Bên bờ sông phía Nam, vượt lên trên muôn ngàn cây lá xanh tốt, có một cây xoài khổng lồ. Thân cây vút tận trời. Cành xoài đâm ngang che cả một vùng trời rộng lớn. Nhiều nhánh ngã ngang trên giòng sông, soi hình xuống đáy nước, trái xoài mập mạp, to trĩu cả cây.

Cây xoài là nơi tụ họp của một đoàn vượn đông đúc. Tám ngàn con, chúng họp thành một quốc gia hẳn hoi đứng đầu là một vượn chúa, thân hình cao đẹp, sức khỏe phi thường. Nguồn lợi thiên nhiên đủ cung cấp cho toàn đoàn lương thực trong suốt cả một mùa. Nhưng phải cẩn thận, không được để trái nào chín tới, phải ăn quả lúc còn xanh. Ðó là lịnh của vượn chúa biết lo xa, và bầy vượn ngoan ngoãn làm theo.

Một hôm, một điều không may xảy đến. Một trái xoài che khuất bởi một tổ kiến to, dần dà chín mùi, chín mùi, rơi xuống dòng sông. Trái xoài bị nước cuốn đi, trôi dạt vào bể bơi của vua xứ Ba La Nại vừa đúng lúc nhà vua đang tắm. Trái xoài to một cách khác thường, mập mạp và thơm tho. Nhà vua bèn với nhặt lên bóc ra ăn thử, ngài không đợi ý kiến của viên cận thần. Chưa khi nào vua được ăn một trái cây ngon như thế.

Thế là sau đó, các người thợ rừng được gọi đến hỏi ý kiến. Mọi người đều trả lời là họ chưa thấy cây xoài nào trái to như vậy. Nhưng nhà vua đã quyết định sẽ tìm cho kỳ được cây xoài quý giá kia. Và ngày hôm sau cả một đội binh thuyền được huy động để vượt dòng sông, họ chuẩn bị rất nhiều lương thực, quyết dừng lại khi nào đến được dưới gốc xoài. . .

Sau ba ngày đường, một buổi chiều kia, người ta tìm thấy trên một triền núi xa, một cây xoài cao lớn. Tin vui mừng truyền đi rất nhanh. Cánh tay được chuyền thêm sức mạnh. Người ta chèo suốt đêm ấy và cả ngày hôm sau.

Ðến chiều người ta đã gần đến được dưới cây xoài. Không thể tả hết nỗi ngạc nhiên của quân binh và vua quan. Họ chưa bao giờ thấy một cây to như thế. Ðứng trước cảnh núi non hùng vĩ, con người thấy mình bé nhỏ quá. Ai nấy đều có ít nhiều lo ngại. Mà hình như trên cây có những con vật đang chuyển động. Không phải một vài chục, một vài trăm mà hàng ngàn. Ðoàn thuyền đến gần. Người ta nhận ra đó là một thế giới vượn đang chiếm cứ cả cây xoài và sinh sống ở đấy. Nhà vua đứng ở mũi thuyền cũng vừa nghiệm thấy như thế. Quả là một sự khinh mạn lớn vì tất cả những trái xoài ngon từ trước đến giờ đều bị loài vượn đáng ghét kia ăn trước hết cả. Lịnh truyền ra cho tất cả quân lính phải bao vây chặt chẽ, và chuẩn bị sẵn sàng cung tên chờ ngày mai, khi mặt trời trở dậy,bắt đầu tàn sát tất cả đoàn vượn kia!

Về phía đoàn vượn, tất cả đều tỏ vẻ hoảng sợ. Chúng đoán biết có một tai nạn không tiền khoáng hậu sẽ xảy đến với chúng, mặc dầu vượn chúa đã tìm cách làm an lòng.

Trong đêm ấy, vượn chúa băn khoăn nát óc nghĩ cách cứu đoàn. Rồi thình lình, vượn chúa vụt trèo ra đầu cành ngả sang sông. Từ đây qua bờ bên kia còn xa lắm. Sông rộng, nước sâu khó có một con vượn nào có thể thoát được sang ngã này. Bỗng vượn chúa nhún mình lấy hết sức mạnh, đánh một cái nhảy sang bên kia bờ. Rồi vượn chúa đi tìm những sợi mây dài, nối liền lại và loay hoay cột một đầu dây vào thân cây, còn đầu dây kia cột vào thân mình, xong xuôi, vượn chúa lại lấy hết sức để nhảy trở về cây xoài. Vượn chúa định làm một chiếc cầu bằng dây để cứu thoát cho cả đoàn mình chuyển sang bên kia bờ. Nhưng, nguy thay! Sợi dây bị hụt đoạn chừng một sải tay và vừa đúng khi hai tay vượn chúa nắm được cành xoài đâm ra sông là sợi dây vừa căng thẳng, kéo chân vượn ra phía sau. Không còn có thể chậm trễ một giây lát nữa. Tám ngàn vượn phải chuyền sang sông đêm nay. Cho nên vượn chúa nằm ngay trong thế đó, hai tay vượn nắm kỹ nhánh xoài, chân vượn nối dài thêm sợi dây để làm cầu, vượn chúa ra lịnh cho toàn đoàn qua sông. Bầy vượn ngần ngừ. Phải bước lên mình vượn chúa? Phải chuyền mình trên sợi dây đang kéo nặng thân vượn chúa? Trước sự đau lòng ấy, nhiều con đã nức nở, chảy nước mắt. Nhưng không còn chậm trễ được. Hoặc xót thương để ngày mai phải tiêu diệt cả? Hoặc phải cứu sống cả đoàn.

Và lịnh được lập lại một lần nữa trước sự cương quyết của vượn chúa. Bầy vượn chuyền sang sông. Con nào con nấy đều cố sức đi thật nhẹ nhàng. Chúng cảm thấy như đang dày vò lên một cái gì quí, một trái tim đã hết mức hy sinh cho chúng.

Vượn chúa đã ngất đi nhiều lần, nhưng lại cố trấn tĩnh ngay để nắm vững thân cây. Bầy vượn qua gần hết. Con vượt qua cuối cùng là con vượn Devadatta. Ðây là con vượn xấu xa nhất, đã nhiều lần tỏ lòng ganh ghét vượn chúa và tìm cách ám hại. Nó cho là cơ hội đã đến. Nó nhảy mạnh lên mình vượn chúa với tất cả sức mạnh của nó và nhún thật mạnh trên cầu dây. Vượn chúa tưởng chừng như dập cả buồng gan, nhưng vẫn cố ráng sức nắm chặt thân cây để nó sang sông được an toàn. Rồi vượn chúa mệt lả đi. Qua bên kia bờ sông, con vượn Devadatta quay nhìn lại. Trong ánh lờ mờ của ngày sắp dậy, nó thấy thân hình vượn chúa lông lá phờ phạc, im không cử động. Tự nhiên nó cuối mặt xuống, rơi hai hàng lệ nóng, nó hối hận, nó cảm phục đức độ bao dung của vượn chúa.

Sáng hôm sau, vua Ba Tư Nại truyền tiến quân. Nhưng một ngạc nhiên lớn! Toàn thể bầy vượn đông đảo đang đêm đã trốn đi ngã nào hết. Quan quân đang đứng dưới gốc cây xoài. Người ta nhìn lên. Cảnh tượng thật là cảm động. Một con vượn to lớn khác thường đang nối mình với một sợi dây to bắt từ bên này sang bên kia bờ sông.Vượn nằm im không cử động, hình như mệt ngất đi. Theo nhiều người thợ săn cho biết thì đây là con vượn đầu đàn. Lúc bấy giờ nhà vua rõ đầu đuôi. Thì ra con vượn đầu đàn đã lấy thân mình nối thành cầu để cứu thoát cho cả bầy của mình. Vượn đầu đàn đã nêu gương hy sinh cao cả làm nhà vua cảm phục lắm. Ngài đột nhiên tỉnh ngộ, nghĩ đến việc làm ích kỷ và thấp hèn của mình: Chỉ vì muốn có những trái xoài ngon ngọt mà ngài đã dùng uy quyền huy động nhiều người đến đây. Chỉ vì một ý muốn tầm thường nếu không muốn nói là sai lầm, một sự tức giận nhỏ nhen mà ngài suýt gây nên một sự tàn sát thảm khốc. Rồi ngài quay sang bọn thợ săn đang đứng yên, không còn hăm hở muốn giết hại như trước. Ngài nói to để chỉ cho họ một bài học và lập tức truyền lịnh lui quân, sau khi đã sai đưa vượn chúa xuống và tự tay ngài vuốt ve săn sóc cho vượn chúa tỉnh lại.

Vượn chúa đã nêu lòng hy sinh cao cả để cứu đoàn một cách cảm động trên đây, chính là tiền thân Ðức Phật Thích Ca.

“ Người tu hạnh Bồ Tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây Bồ Ðề lớn mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất, kẻ tu hành lấy Từ Bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống”.

Truyện cổ Phật giáo

Nguyễn Văn Huy


Điên

Trước đây tại miền Nam Việt Nam có nhà văn Chu Tử. Ông viết một số tiểu thuyết nổi tiếng và đặt tên cho các cuốn truyện của ông chỉ độc có một chữ, như "Yêu", "Loạn" v.v... Và chính ông làm chủ bút cho một nhật báo có tên là "Sống". Tác giả chưa có ra tác phẩm nào có tên là "Điên" thì phải. Vào lúc này có những hiện tượmg xảy ra trên quả đất chúng ta đang sống có thể được xếp vào loại "điên".

Cái trạng thái điên của con người càng phát triển chừng nào thì loại công ăn việc làm thuộc ngành tâm lý hay tâm thần càng phát triển chừng đó. Nhẹ thì được xếp vào loại bệnh tâm lý. Nặng thì được xếp vào loại bệnh tâm thần. Có điên nhẹ và có điên nặng.

Nguyên nhân phát sinh ra điên nói chung là do các yếu tố nội tại và ngoại lai mà ra. Người bình thường mà phát điên lên thường là vì phải chịu đựng hậu quả của sự thay đổi bên trong con người hay là do cái áp lực nặng nề từ bên ngoài. Kinh tế khó khăn con người dễ bị khổ và từ đó thành điên. Cuộc sống mất hạnh phúc cũng làm cho người ta dễ bị điên. Không thể kể xiết những lý do và hoàn cảnh khiến người ta bị điên ở đây được. Một cá nhân điên cùng lắm chỉ đưa đến hậu quả là người ấy và nhiều lắm cả trăm người khác có liên hệ với họ từ kiếp nào bị chết. Nhưng một lãnh tụ điên sô người chế sẽ lên tới số ngàn, có khi vài trăm ngàn, và số triệu không chừng.

Trong thời gian gần đây, nhà lãnh đạo Trung quốc hành động không khác gì kẻ điên. Có lẽ trong thâm tâm họ nghĩ rằng Trung hoa có dân số đông nhất thế giới, có quân đội lớn nhất thế giới và có nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới.

Cuộc khủng hoảng tài chánh của các nước trong khối Liên hiệp Âu châu như Hy lạp, Ý, Tây ban nha và Bồ đào nha và sẽ còn nhiều nước khác nữa cho đến nay chưa có giải pháp rất ráo, mà chỉ là vá víu tạm thời chung qui chỉ là vì thiếu tiến. Các nước này họp hành đi tìm phương cách cứu chữa trong đó có biện pháp kỷ luật ràng buộc chặt chẽ các nước trong khối này và cùng nhau cam kết cứu nguy một hội viên khi nước ấy bị lâm nguy. Trong hoàn cảnh kinh tế èo uột trên toàn cầu như hiện nay chuyện cứu vốt nước khác tỏ ra rất khó khăn vì chính cái nước muốn cứu cũng chẳng hoàn toàn mạnh mẽ về kinh tế và không được dư giả về tài chánh. Đó là chưa muốn nói chính bản thân họ cũng còn đang nợ nần. Như thế thì còn cứu được ai. Khốn nỗi cái nước mà họ muốn cứu thì dân chúng ăn xài từ xưa tới nay theo kiểu vung tay quá trán đã quen, bây giờ chính phủ lại bải thắt lưng buộc bụng thì họ đâu có chịu. Thử hỏi nếu mình cho người khác vay nợ và họ không chịu hy sinh, vẫn tiếp tục ăn xài bừa bãi để rồi đâu vẫn còn đấy, nợ tiếp tục đầm đìa cả ra mình có sẵn sàng giúp họ nữa không. Mà nếu vị lãnh đạo của mình có muốn giúp nhưng dân chúng lại không chịu thì lãnh tụ có dám tiếp tục hay không. Chắc chắn là không trừ phi nhà lãnh đạo ấy bị "điên" rồi. Anh quốc là nước xưa nay nhìn vấn đề rất thực tế. Nhìn thấy tình hình không ổn cho nên mặc dù 27 nước Âu châu ký kết giúp đỡ lẫn nhau về tài chánh nhưng Anh là nuớc  châu duy nhất đứng ngoài, không hợp tác, không chơi chung nũa.

Có một nước đánh tiếng muốn nhảy vào giúp. Nước này có khả năng cứu đưọc nền tài chánh Âu châu. Đó là Trung hoa. Trung quốc hiện là chủ nộ số một của Hoa kỳ, là một nước rất....giàu nhưng dân chúng thì lại rất....nghèo. Chính phủ trong nước cộng sản chỉ quan tâm đến sự an nguy của đảng, muốn cho cái đảng của họ càng ngày càng vững mạnh để củng cố quyền lợi của đảng viên và đè bẹp mầm mống chống đối của dân chúng. Họ chỉ lo vơ vét cho bản thân, cho đảng phái, cho nhà nước chứ chẳng quan tâm quyền lợi và an nguy của dân chúng. Dân chúng nghèo quá làm bừa làm bãi, bất chấp tiêu chuẩn đạo đức và an toàn đưa đến tình trạng thoái hóa và xuống dốc trên mọi lãnh vực. Thay vì nâng cao đời sống tinh thần, đạo đức và vật chất của dân chúng và chính mình có khuôn khổ để làm gương, các nhà lãnh đạo đã chẳng quan tâm đến chính người dân của họ, họ chuyễn hướng ra bên ngoài, sẵng sàng chi tiền giúp đỡ cho nước khác, còn dân của mình đói thì mặc kệ. Gặp nước bé thì họ hiếp đáp và còn tỏ ra trắng trợn đến mức như muốn nuốt chửng người ta nữa. Trong thời gian vừa qua trong lúc dân Tàu thì đói, cả về tự do lẫn cơm áo, nhà nước Tàu bỏ tiền ra mua lại một cái Hàng không mẫu hạm cũ, diệu võ dươmg oai ở Thái bình dương, xâm lấn đất đai hải đảo của láng giềng, nói năng dọa nạt bặm trợn. Nước Tàu cũng cho trình làng một chiếc máy bay tàng hình đầu tiên. Trung hoa muốn cho các nước chung quanh phải sợ hãi và cuối cùng phải thần phục họ. Cái gì mà một siêu cường như Hoa kỳ có, chẳng hạn như Hàng không mẫu hạm hay chiến đấu cơ tàng hình..., thì Trung hoa cũng có. Trung quốc lại còn ngon lành hơn nữa là có quân đội lớn nhất thế giới. Thế này thì Thái bình dương hay ít nhất là Biển Đông là phải thuộc về Tàu rồi, nước nào dám phản kháng?

Để phản ứng lại, các nước trong vùng đã hành động như thế nào? Họ đã cùng nhau liên lạc hợp tác, không đứng đơn lẻ để nói chuyện riêng với Trung hoa để khỏi lọt vào cái kế đánh lẻ, áp lực, tỉa riêng từng nước, thao dợt quân sự với một nước lớn là Hoa kỳ, và bỏ tiền ra mua võ khí của các nước, nhất là của Mỹ. Riêng Việt Nam trong thời gian gần đây, các lãnh tụ nước này đã chia nhau ra để qua các nước lớn chung quanh nói chuyện. Chủ tịch nhà nước sang thăm Ấn độ. Thủ tướng chính phủ sang thăm Nhật bản và Tổng bí thư đảng sang Trung quốc. Họ bàn với nhau về cái gì và họ ký kết cái gì với nhau, người ngoài không biết hết được. Từ cái thời Liên xô dưới sự cầm quyền của ông Gorbachev, các chúc vụ Chủ tịch nhà nước và Tổng bí thư đưọc gom vào một. Trong hệ thống tổ chức chính trị của các nước cộng sản, chức vụ Tổng bí thư là quan trong nhất. Thế nhưng đối với các nước Tây phương có truyền thống dân chủ lâu đời, Tổng bí thư cùng quá chỉ là Chủ tịch của một cái đảng chính trị, vì thế trên phương diện bang giao quốc tế và công pháp quốc tế, Tổng bí thư chẳng có gì quan trọng. Ông này mà đi đến các nước Tây phương thì nguyên thủ quốc gia của nước người ta sẽ không tiếp, đặc biệt là theo nghi lễ tiếp rước một quốc trưởng hay lãnh tụ hành pháp, nói gì đến việc ký kết ràng buộc. Nói tóm lại, Đối với Tây phương, họ chỉ quan tâm đến Chủ tịch nước hay Thủ tướng của một nước mà thôi. Những văn kiện hay cam kết do hai ông này ký mói có giá trị ràng buộc hỗ tương.

Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN trong tháng trước được tổ chức tại Bali, Indonesia, Tổng thống Hoa kỳ đã gặp riêng Thủ tướng Ân độ. Trước đây ông Obama đã từng nói là ông mong muốn Ấn độ trở thành một hội viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ. Ngoài ra, ông ây cũng mong muốn nước Ấn đóng một vai trò tích cực hơn tại Á châu. Nói một cách khác, Ấn độ sẽ là nước giữ thăng bằng quyền lực tại Châu Á. Chẳng cần phải đoán mò người ta đều thấy đó là điều Ấn độ cũng mong muốn lắm. So với Trung quốc, Ấn cũng có một dân số tương đương chứ có ít ỏi gì. Ấn đã có bom nguyên tử từ lâu. Nhu cầu càng ngày càng gia tăng, tỉ lệ thuận với sự gia tăng dân số. Nay lại được Mỹ yểm trợ và bỏ nhỏ như thế thì Ân đâu có thể ngồi nhìn Trung quốc diệu võ dương oai đòi độc chiếm Châu Á được. Thế là sau khi gặp gỡ nguyên thủ của Hoa kỳ và Việt Nam xong, Ân độ bắt đầu tiến vào Biển Đông khai thác dầu hoả cho Việt Nam. Trung quốc đe dọa đủ thứ, Ấn bất chấp. Họ chẳng sợ gì. Họ đâu có phải nước nhỏ mà sợ hãi Trung quốc. Hai anh to đầu đụng nhau kết quả sẽ rất ngoạn mục.

Sau khi thỏa hiệp với Ấn xong, Mỹ chuyển qua chơi trò ngoại giao với Miến điện. Vừa dụ dỗ ngon ngọt, vừa đe dọa. tại Đông Nam Á chỉ còn có Miến Điện là còn nằm dưới sự cai trị độc tài của một nhóm quân phiệt. Họ bất chấp dư luận quốc tế. Họ giao du mật thiết vói cái xứ cũng độc tài giống như họ. Cả hai nương dựa vào nhau để sống còn và bảo vệ quyền lợi phe nhóm. Chẳng hiểu Hoa kỳ dụ ngọt thế nào, hăm dọa ra sao, nhóm lãnh đạo quân phiệt Miến bỗng quay ngược thế cờ, không còn hợp tác với Trung hoa nữa. Bỗng dưng một sớm một chiều, nhóm này thay đổi thái độ hoàn toàn đối với Trung quốc. Về mặt đối nội họ chấp nhận nới lỏng về tự do báo chí và tự do cá nhân. Chưa bao giờ Trung quốc lại ở vào cái thế bị cô lập như hiện nay.

Chưa hết. Lấy lý do là để canh tân Không Lực, ngày hôm qua chính phủ Nhật Bản vừa quyết định sẽ mua khoảng 50 chiếc phi cơ tàng hình F-35 của Hoa kỳ với tổng số chi phí là 8 tỉ Mỹ kim. Đây là loại máy bay tối tân do công ty Lockheed Martin cùng với Northrop Grumman chế tạo. Nói là để thay thế các phi cơ cũ kỹ già nua nhưng thực tế là Nhật Bản lo chuẩn bị về quân sự để đương đầu với âm mưu bành trứớng của Trung quốc. Phải sửa soạn trước chứ nước đến chân làm sao nhảy cho kịp. Một Trung hoa hung hãn như thế và nay lại chế ra phi cơ tàng hình và đi mua hàng không mẫu hạm đe dọa khắp nơi như thế chẳng lẽ Nhật lại chịu ngồi yên và lãnh hậu quả hay sao. Đã đến Nhật cùng với Ấn độ phải đóng một vai trò tích cục về quân sự tại Á châu thôi. Một cá nhân điên không làm cho Ân độ, Nhật bản và các nước Á châu phải ngại. Nhưng một lãnh tụ hay một tập thể lãnh tụ điên sẽ khiến cho các nước trong vùng phải lo. Hiện nay có ba tay điên, Trung quốc, Ba tư và Bắc hàn. Ba cái nước này đang được Hoa kỳ theo dõi ráo riết. Họ mà có bom nguyên tử và máy bay tàng hình và với tham vọng điên cuồng như thế thì thế giới sẽ xảy ra chiến tranh lớn và quả địa cầu có nguy cơ diệt vong. Ba tư thì đã có Do thái lo. Bắc hàn thì có Nam hàn và Mỹ đối phó. Còn Trung quốc thì cả khối Á châu liên kết lại vối hàng xóm nặng ký Ấn độ và Nhật bản và đồng minh Hoa kỳ tuy ổ xa nhưng mà hạm đội và vệ tinh lại ở gần yểm trợ hy vọng hóa giải được nguy cơ Trung quốc.

Ngoài lãnh tụ điên lúc gần đây thế giới chứng kiến được nhiều cá nhân điên. Trước đây không lâu, một thanh niên người Na uy đã vác súng vào một trại hè tổ chúc trên một hòn đảo của nước ấy bắn xối xả vào các người đi cắm trại. Kết quả có gần một trăm người chết mà phần lớn là trẻ em. Người thanh niên này đồng thời cũng là thủ phạm của một vụ đặt bom một tòa building mà trong đó là cơ sở của các cơ quan công quyền làm cho bao nhiêu người chết. Người đàn ông này đã bị cảnh sát bắt giữ. Có lẽ hắn sẽ chẳng bị ngồi tù vì thuộc loại điên thật. Cái lý do mà người này viện dẫn cho hành động của đương sự là vì muốn bảo vệ đồng bào của hắn chống lại ảnh hưởng của... Hồi giáo.

Vào Thứ Sáu đầu tháng 12 năm nay, có một thanh niên Mỹ vào giữa ban ngày ban mặt, đã đi ngờ ngờ trên đại lộ Hollywood trên tay cầm một khẩu súng ngắn, chĩa vào các xe cộ đang chạy trên đường bóp cò. Có khoảng 20 người bị thương. Trong số đó có một người bị thương nặng và sau đó đã chết tại bệnh viện. Đáng sợ nhất là có một nạn nhân kể lại rằng thủ phạm đã tiến đến sát xe của đương sự, chĩa súng vào đầu đương sự từ bên ngoài cửa kiếng xe. Đương sự cầm chắc là về với Ông Bà rồi nhưng không hiểu sao súng không khai hỏa. Đương sự nói may phước quá vì súng đã hết đạn. Cuối cùng, thủ phạm đã bị hai cảnh sát mặc thường phục ngoài giờ làm việc đi ngang qua đấy rút súng bắn chết. Có người đứng tại phạm trường nghe dược thủ phạm nói to rằng hắn muốn chết vì ái tình đổ vỡ. Thật là lạ. Buồn vì bị tình phụ không thiết sống thì tự giải quyết vận mạng của mình đi chứ sao lại vác súng ra đường bắn người khác bừa bãi như thế.

Có một chi tiết ly kỳ như thế này. Một nạn nhân duy nhất bị chết là một người Mỹ da đen. Ông này hôm ấy lái chiếc xe Mercedes đi làm trên đường Hollywood. Tuổi của ông này còn trẻ, mới có 40. Ông làm giám đốc cho một công ty sản xuất băng nhạc của Hollywood. Tên của công ty ấy là "Death Row Records". Chữ death row trong tiếng Anh được dịch ra tiếng Việt là nhà tù giam giữ can phạm bị án tử hình. Chẳng hiểu có sự trùng hợp ngẫu nhiên hay là hai bên đã có liên hệ từ kiếp nào mà thủ phạm và nạn nhân đều có số phận giống như các người bị thi hành hình phạt tử hình!

Rồi vào ngày Thứ Ba, 13/12, ở tại một nơi có đông người qua lại tên là Place Saint-Lambert square thuộc thành phố Liege bên Bỉ, một thanh niên 33 tuổi tên là Nordine Amrani trang bị tận răng, nào là lựu đạn, nào là súng trường và nào là súng ngắn, giữa thanh thiên bạch nhật giống như binh sĩ giữa trận tiền, vừa nổ súng ngắn, vừa nổ súng dài, vừa mở chốt lựu đạn cho nổ, cứ thế nhắm vào dân lành qua lại. Kết quả, có 122 người bị thương, tuổi từ 18 tháng, 15, 17 cho đến cụ già 75, và 5 người chết. Sau đó thủ phạm tự bắn vào đầu đi luôn. Cảnh sát đến nhà thủ phạm khám xét mới khám phá ra trong nhà có một phụ nữ đến chùi nhà cửa bị thủ phạm bắn vào đầu nằm chết tại chỗ. Đây lại cũng là một tên điên. Lạ ở cái điểm là điên nhưng vẫn không chịu ra đi một mình mà lại níu kéo người khác đi chung!

Một trong những lý do trở thành điên là vì bị trầm cảm, depressed, hay bị căng thẳng thần kinh, stress. Nguyên nhân gây ra chứng này nhiều không kể xiết. Lúc đầu bệnh nhe. Lâu ngày không chữa chuyển thành bệnh nặng. Có người tinh thần xuống dốc quá, họ phát sinh ý định tự tử. Nếu biết được việc này, người nhà khuyên bảo, nói chuyện với họ, đầu óc họ sẽ nguôi ngoai đi và có thể thoát được tình trạng hiểm nghèo. Mỗi ngày có đến 100 người Mỹ tự tử. Vào Thứ Ba, 13/12, Facebook mà số người sử dụng mạng lưới này lên đến 800 triệu người vừa cho thiết lập một mạng lưới xã hội nhằm giúp cho các người muốn tự tử tránh được lưỡi hái của tử thân. Từ trước đến nay có nhiều người sau khi có ý định tìm cái chết thường lên Facebook tìm người để "chat", nó chuyện tâm sự. Từ nay trở đi sẽ có counselor ứng trực, trò chuyện với họ. Khi người ta có vấn đề đang bị xuống tinh thần thường hay nghĩ quẫn. Họ tìm cách gọi điện thoại cho một số cơ quan để giãi bày tâm sự nhưng trên thực tế chỉ nghe toàn máy trả lời, chẳng thấy người thật đâu cả. Nó giống như thân chủ của ngân hàng, chỉ giao dịch với ngân hàng qua điện thoại do máy computer trả lời hay tiếp xúc với cái máy ATM mà chẳng nhìn thấy mặt và nghe được tiếng nói đáng yêu của các cô teller vậy. Mục đích của chương trình này là đem đến sự giup đỡ cấp thời cho người bị nguy khốn về tinh thần vì họ có dịp nói chuyện được với người counselor, chuyên viên tâm lý ngay. Đây là một giải pháp thực tế giúp đỡ hữu hiệu cho những kẻ cô đơn mà tinh thần đang bị xuống dốc. Họ là những người đáng thương, khác hẳn loại người điên khùng vừa được kể ở trên. Cứu một mạng người bằng xây chín ngọn phù đồ!

Nguyễn Văn Huy
Dec.14/2011

TIME


Người biểu tình -
Nhân vật của năm 2011 - Time

Cuộc bầu chọn Nhân vật của năm do tạp chí danh tiếng Time tổ chức đã kết thúc với chiến thắng thuộc về “Người biểu tình”.

Nhân vật của năm được công bố hôm nay trên chương trình Today của kênh truyền hình NBC. Giải thích về sự lựa chọn “Người biểu tình”, tạp chí Time cho rằng năm 2011, mọi lục địa trên toàn cầu đều chứng kiến một làn sóng nổi dậy chưa từng thấy, diễn ra cả trong hòa bình lẫn bạo lực. Từ khắp Trung Đông đến châu Âu và Mỹ, những người biểu tình đã xác lập lại sức mạnh con người trên thế giới và tái định hình nền chính trị toàn cầu. (Hình ảnh Người biểu tình - Nhân vật của năm trên bìa tạp chí Time).

“Họ bất bình, họ đòi hỏi, họ không tuyệt vọng thậm chí cả khi họ bị đáp trả bằng hơi cay hay những viên đạn. Họ đã hiện thực hóa suy nghĩ rằng hành động cá nhân có thể tạo ra sự thay đổi lớn”, tổng biên tập Time Rick Stengel nói.

Tướng William McRaven (Hình phải)chỉ huy biệt đội Mỹ trong chiến dịch truy kích và tiêu diệt trùm khủng bố al-Qaeda Osama bin Laden hồi tháng 5 ở Pakistan, được vinh danh ở vị trí thứ hai trong danh sách “Nhân vật của năm” 2011.

Hàng năm tạp chí Time bình chọn Nhân vật của năm với tiêu chí là người có ảnh hưởng lớn đến các sự kiện trong năm, cho dù về mặt tích cực hay tiêu cực. Năm ngoái, giải thưởng này thuộc về Mark Zuckerberg, người sáng lập kiêm giám đốc điều hành mạng xã hội Facebook.

Dù mang tên gọi "Nhân vật của năm" nhưng cuộc bình chọn này không bị bó buộc phạm vi ứng cử viên là những cá nhân cụ thể. Năm 1982, danh hiệu "Nhân vật của năm" thuộc về chiếc máy tính cá nhân, một phát minh tạo nên bước đột phá trong văn minh nhân loại ở kỷ nguyên hiện đại. 11 năm sau, danh hiệu này lại được trao cho các những người kiến tạo hòa bình, với các đại diện nổi tiếng là Yasser Arafat, Yitzhak Rabin, F.W. de Klerk, và Nelson Mandela.

Đặc biệt, vào năm 2006, Time trao danh hiệu "Nhân vật của năm" cho "You", tức là "các bạn", với hàm ý tôn vinh hàng triệu người có những đóng góp cho các mạng xã hội, những trang bách khoa toàn thư điện tử hữu ích và những phần mềm mã nguồn mở. Lựa chọn này làm dấy lên những tranh cãi. Có người cho rằng đó là một sự sáng tạo, nhưng người khác vẫn muốn một nhân vật cụ thể được lựa chọn như truyền thống. Đáp lại những phản ứng trái chiều, chủ bút Richard Stengel của Time chỉ nói ngắn gọn: "Nếu đó là một sai lầm, chúng tôi sẽ chỉ để nó xảy ra một lần".

Anh Ngọc

Wednesday, December 14, 2011

Dân Ca


NHỮNG THỂ ĐIỆU DÂN CA XỨ HUẾ
 
Video:  Hogiagao  - HonenBaichoiBD  -  Hodoidap -  Danca  -  Hotrennui

Âm nhạc Huế thường được phân chia ra làm ba loại: nhạc cung đình dành cho những hội lễ trong cung điện nhà vua, nhạc tôn giáo được trình diễn trong những tế lễ diễn xướng đình, chùa, miếu vũ và nhạc dân gian (dân ca). Nguồn nhạc dân gian tại Huế bao gồm những điệu hò, điệu lý, những bài vè, những bài hát chầu văn. Trong âm hưởng và nội dung, dòng âm nhạc cổ điển Huế và dân ca Huế thường những những quan hệ mật thiết với nhau; chính những thể điệu và nội dung dân ca cũng đã góp phần không nhỏ vào sự hình thành và phát triển của nhạc cổ điển Huế.

Vùng đất Huế, Quảng Trị, Thừa Thiên cũ là vùng đồng bằng chật hẹp, có nhiều sông ngòi, đầm phá; nơi đây chính là chốn sản sinh hàng chục điệu hò hát, gợi lên những hương vị đặc sắc trong miền. Hò hát thể hiện trong bất cứ trường hợp nào, trên cạn thì có hò xay lúa, hò giã gạo, hò khoan, hò hụi, hò nện, hò giã vôi... trên sông, trên đầm phá thì có hò đẩy nôốc, hò mái đẩy, hò mái nhì, hò đua ghe...Nội dung những câu hò thể hiện tình cảm, động viên cổ vũ khích lệ, lại thường pha hài hước, trách móc, châm chọc.

Hò mái đẩy:

Hò mái đẩy là một trong những điệu dân ca thịnh hành nhất cà cư dân vùng Thừa Thiên -Huế. Lọai nầy thường được hò lên trong những khi thuyền chở nặng, phải vượt qua được những cơn sóng gió lớn, qua thác, xuống ghềnh, những quảng đầm phá hiễm nghèo trong nghề đi sông hay đi biển.

Do phải làm thêm chân sào lớn và mạnh để có thể chống đẩy, ngoài ra, phải ra sức để đẩy mạnh tay chèo, cho nên nhịp điệu của lối hò nầy phải mạnh mẽ, chắc nịch. Những khoản ngân cũng ngắn hơn, lời lẽ cũng mạnh mẽ, hùng dũng.

Nội dung của thể điệu dân ca nầy thường gồm có những câu châm chọc, chế riễu. Có khi chỉ trích, bắt bẻ nhau từng lời, từng ý. Những câu thường hò như là:- Mình anh cả chống lẫn chèo, Không ai tát nước, đỡ nghèo cho anh. Hay là:

Hò lên, hai mái song song. Phải cam, cam ngọt, phải bòng, bòng chua. Những đoạn ngắt câu ngắn, mạnh, như chát chúa trong lời hò.


Nếu hò mái đẩy, mạnh, khoẻ, hùng bao nhiêu thì loại hò mái nhì khoan thai, tình điệu bấy nhiêu. Hò mái nhì cũng là điệu hò nổi tiếng của đất thần kinh, vang vọng khắp bến nước sông Hương, từ đồi Vọng Cảnh, đến Ngã Ba Sình, phá Tam Giang, vùng Cầu Hai, Nước Ngọt.

Hò mái nhì thường là điệu hà tình tứ, lời thơ ngọt ngào, mặn mà. Nhịp điệu của lối hò mái nhì thường ngân vọng, dàn trải rộng ra,chậm rãi, khoan thai, đưa theo mái chèo và chân đưa ra theo. Người chèo lái xướng lên, thì người chèo mũi họa lại; nguời chèo mạn bên nầy xướng thì người chèo mạn bên kia họa lại. Hơi đưa hơn ngân vang, rối cao vút lên, thì chỉ có lối hò mái nhì ở Huế mới có được.

Cũng có thể so sáng với giọng ngân của lối hò Đồng Tháp, nhưng giọng Huế thì êm dịu, đài trang hơn. Những nhà ngữ học khi phân tách hò mái nhì thường ca ngợi lời văn vẻ, giọng trữ tình vốn sẵn của hò mái nhì. "Hò mái nhì chỉ có những câu ân tình, hò hẹn, nhớ thương, trách móc thở than, chứ không có những lời đố đá, châm chọc, hài hước..." (Lê văn Hảo). Nếu so với những thể điệu dân ca khác, thì những điệu hò mái nhì tại Huế thường được gói ghém những tình ý ngọt ngào, duyên dáng,dịu nhẹ hơn cả. Phải chăng đây là nét đặc thì của tâm Huế.


Hò giã gạo rất thịnh hành trong sinh hoạt nông thôn. Loại hò nầy dùng nhiều thể thơ dân tộc để đối đáp, thường diễn ra chung quanh cối gạo nơi làng xóm. Tại Huế, trước khi tổ chức hội lễ, cúng tế,cần nhiều gạo nếp, thì hò giã gạo tập trung nhiều trai gái trong làng. Thậm chí những đoàn người thích hát từ những làng khác cũng hẹn nhau đến tham dự giã gạo. Mỗi cối gạo thường chỉ từ ba đến bốn người, nam hay nữ, và nhiều lúc có đến hàng ba bốn cối gạo, châu tuần quanh nhau, để có thể hát đối đáp nam nữ. Nhìn chung, hò giã gạo được xem là loại sinh họat vừa lao động vừa hát hò.

Trình tự của một buổi hò giã gạo được tổ chức như sau: - Mở đầu là những câu hò mời hò chào hỏi, giới thiệu, đưa duyên. - Tiếp đến chuyển qua những câu hát ân tình để hò hẹn, mời mọc. - Có khi dùng những câu hò đố, hò đâm bắt... như để thử thách tài năng ứng đối của đôi bên. - Cũng có thể là hò chuyên về một câu chuyện, nhân đó, thông qua nội dung, chen vào những lời gửi gắm, hẹn hò.

Nội dung thường mượn là: Truyện Kiều, Lục Vân Tiên, Nhị Độ Mai, Lưu Bình Dương Lễ, Thoại Khanh Châu Tuấn, Tống Trân Cúc Hoa. Cũng có thể kể tâm sự của kẻ tôi tớ, làm hầu, ăn xin, lính mộ, đánh bạc... Trong những câu chuyện, hai bên dùng lý để bắt bẻ nhau. Tuy nhiên vẫn phải dùng câu hò, điệu thơ ăn khớp, bóng bẩy. - Kết thúc: là những câu giã từ, hẹn lần sau, bày tỏ tâm tình xa cách.

Trong sinh họat, hò giã gạo thường tạo không khí hào hứng, rộn ràng hơn cả. Hò giã gạo mang tính chất tập thể. Người tham dự hò phải được rèn luyện để đối đáp. Phải biết cách dùng chữ khôn ngoan, khôn khéo, tinh vi để tấn công.

Hò chuyên nghiệp: Trong nhiều làng có những tay hò chuyên nghiệp. Chẳng hạn như trường hợp những tay hò kiệt chúng kiểu "ông Thiềm, bà Biên". Hò giã gạo có lớp vế kể, vế sô,lớp vế trống; cũng như loại hò mái nhì, có hò cái và hò con trong trường hợp có nhiều người giả gạo. Trong hò giả gạo thường có từng cặp trai gái được xếp đặt kề bên nhau và cũng được chọn lựa từ trước như cuộc hẹn hò, trong việc đối đáp.

Hai bên phải thật khéo léo trong những câu đáp và trả lời, vì giã gạo thường có nhịp điệu nhanh và những câu hỏi vấn thì nhiều khi khó đáp. Ở Huế và Thừa Thiên, sau khi mùa màng gặt xong và thời tiết tốt thì trai gái làng nầy đua nhau sang làng kia để hát giã gạo. Không phải chỉ một cối gạo mà có khi đến ba bốn cối gạo. Từ những chuyện hò giã gạo đối đáp, đi đến chuyện tình duyên là thường tình.


Khi họ làm việc thì có những loại hò hụi tức là hò nện của những người thợ đắp nền nhà, dùng những loại vồ khác nhau để đập đất, cũng để đánh nhịp:

Hụ là khoan là hụ là khoan - Là hụ là khoan, là hụ là khoan - Chim khôn Hụ là khoan - Đậu nóc nhà quan Hụ là khoan -Trai khôn tìm vợ - Hụ là khoan - Gái ngoan tìm chồng - Hụ là khoan - Ở chốn ba quân... - Ô khoan là khoàn, hù là khoan...

Thông thường thì dùng loại thơ lục bát được ngắt chia ra từng đoạn hai phần, xem kẻ vào là những đoạn "hụ là khoan". Loại hù nện trong trường hợp diễn tả nầy (theo tiếng chày vồ đập mạnh) rất mạnh mẽ, đồng thời cũng rất nhanh, thường do những người đàn ông vừa đập mạnh vồ vừa ca hát.

Hò thai:

Thai nghĩa là thai đố. Những người sáng tác ra những câu thai thường là nho sĩ, có học thức vững và tham hiểu nhiều, nhất là trong tục ngữ, ca dao. Có những câu thai vốn có từ trước; nhưng cũng có nhiều câu mới sáng tác ra cho nên rất khó trả lời. Hò thai không phải theo nhịp điệu, mà chỉ để dùng trong những khi nhàn hứng. Cũng có những người dùng loại bài thai để bày ra lối chơi cờ bạc. Hò thai trong những trường hợp nầy có ý nghĩa tương tự như hát bài chòi (Bình Định).Bài Thai về "tên của những con bài" trong khi chơi bài ghế hay bài chòi như sau:

Chơi Xuân gặp lúc e hè, "Ông ầm", "Thái tử" đưa "xe" qua đò. "Lục chuôm" làm bạn "cửu chùa" Bán con "lá liễu" mà mua "nhất trò". Nghiêng tai nghe nhặt "sưa" hò, Nâng niu "bạch tuyết", nỏ lo chi "nghèo". Tai "voi", "đỏ mỏ" chạt theo, "Cột nọc" trăng gió, thả lèo "tám giây". Đêm khuya "tứ cẳng" tới đây, Bên nớ "hai trạng" bên nầy "trạng ba" Sự tình "gà" mới gáy ra, "Gối" đầu trên "rốn", "ngủ" mà thiu thiu. "bát bồng", "nhị đấu" mĩ miều, Thợ cưa "một mắt" đánh liều chơi tiên. Bên nớ đã có "tám tiền", Bên ni "tám mảng" đánh liền "thắt" lui.

Hò ô và hò đạp nước:

Loại nầy thường được dùng trong khi đạp nước vào ruộng. Trong trường hợp nầy thì người đạp nước không phải theo một nhịp điệu nào cả, khi khoẻ thì đạp nhanh, khi mỏi mệt thì đạp chậm hơn. Đây cũng là loại thơ lục bát được chia làm hai phần: phần dành cho hò cái và phần dành cho hò con. Tiếng hát thường là chậm và dùng nhiều tiếng đệm ơ..a..ê hay ô..ồ..hợ.


Hò nện vôi là một loại hò nện nhưng mang tính chất chắc khoẻ hơn, tiết tấu lại dồn dập, khẩn trương. Khi đâm vôi, mỗi cối có khoảng 4 hay 5 người. Một người "thợ hò" đứng bên ngoài, tay cầm đôi sênh, đánh nhịp cho đều với tiếng chày giã vôi. Người thợ hò hô lên một câu và đánh môt tiếng sênh, thì tất cả mọi người đứng bên các cối đều giơ chày lên, thợ hò đánh tiếp tiếng sênh thứ 2, thì mọi người đều xô "là hô hồ khoan" và cùng nện chày đồng loạt xuống cối vôi.

Thợ hò lại tiếp và đánh sênh tiếp lần thứ 2 thì mọi người đều giơ chày lên... cứ như thế mãi. Nhịp điệu mỗi lúc một khẩn trương thêm cho đến khi nào vôi đã được quánh lại thì mới dừng nghỉ. Thợ hò xướng lên: - Ai mà (nì), Tất cả đều xô: - là hô hồ khoan - Lợp miếu thiếu tranh, - Là hô hồ khoan .- Lợp đình (mà) thiếu ngói (nì - Là hô hồ khoan - Xây thành thiếu vôi - Là hô hồ khoan.

Hò nàng Vung:

Hò nàng Vung được dựa theo một thiên tình sử nổi tiếng tại Huế: Chuyện O Hiên, trò Siêu. Trò Siêu người làng Thanh Lương, huyện Quảng Điền (Thừa Thiên - Huế) mồ côi cha từ thuở nhỏ, được người mẹ tảo tần nuôi dưỡng, cho ăn học để nên người có địa vị trong xã hội. Trò Siêu thành công trong giai đoạn đầu của việc dùi mài kinh sử; nhưng cũng trong khi đó, trò Siêu làm quen và yêu thương một cô gái làng Phú Bài, huyện Hương Thủy tên là cô Hiên.

Nàng là con một gia đình giàu có, địa vị. Siêu được cô Hiên đáp tình lại, tuy nhiên gia đình nàng lại khinh Siêu nghèo khó, chưa đạt đến đường công danh họan lộ, nên cương quyết cắt đức mối tình, và đem nàng gã cho một nơi môn đang, hộ đối.

Siêu và Hiên tìm cách để vượt qua khó khăn, bèn tìm kế. Chàng về thưa với mẹ mình, được chính thức hoá mối tình, bằng cách đem trầu rượu sang nhà song thân cô Hiên để xin làm lễ hỏi. Cha mẹ Hiên thấy mẹ trò Siêu sang, đoán biết được mọi chuyện, xua đàn chó dữ của mình ra cắn, bà mẹ Siêu què chân. thất vọng và xấu hổ, cam tội bất hiếu, trò Siêu đã tìm nơi vắng vẻ thắt cổ chết.

Nàng Siêu nghe chuyện đau đớn vô cùng, tìm đến gặp xác người yêu, chính nơi mà họ thường hò hẹn, rồi thắt cổ chết theo chàng.

Chuyện O Hiên, trò Siêu trở thành đề tài sáng tác của nhiều nghệ nhân hò hát. Trong các điêu hò nầy, trình tự và nội dung tương ứng trong từng đoạn của chuyện kể. Nổi tiếng nhất là “hò nàng Vung” (cô Hiên).

Trên chiếu hò nàng Vung, nữ nghệ nhân đóng vai nàng Vung, đồng thời cũng là O Hiên. Còn vai trò Siêu thì do những nam thanh niên giỏi hát xướng trong vùng dự vào cuộc hò đảm nhận.

Diễn viên nam vai trò Siêu cất tiếng hát:

Tại vì: thầy mẹ bên em phụ khó, tham sang," Mẹ của anh không vay lúa, nỏ (chẳng) tạm vàng," Hô vàng, hô vện, hô đốm, hô khoang..." Một đàn chó dữ cắn mẹ anh què!" Bận nầy hổ thẹn với thế gian!" Anh đi tự vẫn, bỏ nghĩa tam cang không đền!"

Diễn viên nữ trong vai O Hiên đáp lại như sau:

-"Xin chàng hãy dằn lòng tự ái," Thiếp dang tay níu lại, khoan, khoan!" Chàng đưa ngực thiếp vuốt, cho hạ chín lá gan," Nhất mẫu, nhất tử, chàng đòi tự tử, bỏ mẫu từ ai nuôi?"

Diễn viên nam nhân đó tha thiết hơn:

"Anh mong Hiên, thấu tình, cạn lẽ," Sống dương trần, anh không mất lòng đứa trẻ," Lỡ thác rồi, em có nhớ:" Tình chồng, nghĩa vợ, thì hãy nuôi lấy mẹ già thay anh!

Khi hình ảnh của trò Siêu ngã sấp xuống, thì O Hiên đáp lại:

-"Hỡi anh ơi!" Chẳng thà ta thác có đôi," Không thà anh thác, em ngồi chịu tang?" Đây sơi dây mây, xin vái Thiên Hoàng," Cho tôi theo kịp gót chàng thủy chung..."

Chuyện tình O Hiên, trò Siêu đến đây là trọn vẹn phần diễn xướng.

Ngay khi đó, nàng Vung chuyển sang vai khác, để hò hát nỗi lòng uẩn khúc của mình.Về phần những người tham dự bên ngoài, cũng đã thâm nhập vào cuộc diện của hai người, hát khẩn nài hồn linh thiêng của Nàng Vung như sau:

"Sai nàng Vung:" Nàng Vung: đánh trống lung tung," Ba hồn, chín vía nàng Vung hãy -về!"- Dẫu mà đi chợ xa quê,"- Cũng xin nàng về mà nhập vô Vung."- Vung đất khác thể Vung đồng,"- Cơm cha, áo mẹ, xây Vung cho tròn." -Một mẹ sinh đặng ba con,"- Lưng eo, vú xách, hãy còn như xưa."- Bà Ân, bà Quán cây dừa," Ăn no, tắm mát, ngồi chờ nàng Vung."- Nàng Vung! Ơi hỡi Nàng Vung!"- Có thương, có nhớ, thì vùng mà lên!" Lên trời, che đám trăng lu," -Che lọng, che dù, chớ để nghênh ngang."- Mặt trời đã xế mái trang,"- Hồn xiêu, phách tán, Nàng Vung cũng về..."

Hò mái xấp:

Loại nầy dùng cho những người chèo thuyền, cũng như hò mái nhì và hò mái đẩy. Mái đẩy có nghĩa là dùng chèo lướt mạnh để đẩy cho thuyền đi tới nhanh. Hò mái xấp cũng có ý nghĩa tương tự, vì sấp hay xấp có nghĩa là quay ngược chèo để đẩy tới cho thật nhanh.

Hò đưa linh Quảng Bình:

Đưa linh là tiễn đưa linh hồn của người quá cố qua bên kia thế giới. Những thể điệu về đưa linh thường là giọng bi thương, não nùng, tha thiết, gây cãm xúc thương nhớ.

Thể điệu: đưa linh thường sáng tác theo điệu ngũ ngôn trong những đoạn tự sự và lục bát trong những đoạn tình cảm. Câu cuối của khổ thơ được lặp đi, lặp lại hai ba lần và mỗi khổ thơ là một câu hò trình bày một nội dung đầy đủ.

Nội dung: Trong nội dung của một buổi hò đưa linh có thể nhiều câu hỏi , tức là nhiều khổ thơ đi liền nhau làm thành một chương đoạn ghép lại với nhau, tuy nhiên toàn thể làn điệu của một bài đưa linh thì không thay đổi.

Thành thử, trong khi đưa đám tang mà có hò đưa linh (trong buổi tế hay khi lên đường) mà khi nghe điệu hò đưa linh của những đoàn hát chuyên ngành, thì những người tham dự tiễn đưa sẽ phải liên tục cảm hoài, buồn thương không dứt.


Khác với hò đua linh Quảng Bình, đây là một hệ thống diễn xướng, gồm các điệu múa, hường, ngâm hát, hò, lý, liên tiếp nhau. Cũng như trên thể hát nầy để trình bày trước quan tài, khi đưa người quá cố đến mộ và khi sắp hạ huyệt.

Theo ý nghĩa chung, thì đây là cách tiễn đưa linh hồn của người chết về cõi âm với tất cả niềm hoài cảm của những kẻ thân thương.

Thể điệu: Trong một buổi hò đưa linh - chèo cạn thường gồm các hình thức: hát nam linh, hường (một kiểu nói lối nhưng mạnh hơn,dài hơn và chặt chẻ bi thương hơn), hát bắt bài (tùy cảm hứng nói lái đưa linh, lý đưa linh và hát lui thuyền (gồm có: điệu lý ta lý và điệu hò chèo thuyền).

Phần kết thúc, thông thường là hò nện và đọc vè.

Nhạc điệu: Hò đưa linh của vùng Thừa Thiên và Quảng Trị được hò khi thì theo ngũ cung đúng, khi thì hò theo ngũ cung hơi nam giọng ai.

Nội dung: bất cứ một bài đưa linh - cửa cạn nào cũng phải được thể hiện tâm trạng đau thương thống thiết của người còn sống đối với người đã khuất. Ngoài ra, phải có những chi tiết thích hợp cho hoàn cảnh gia đình của họ trong giai đoạn vĩnh biệt nầy.

Tổ chức: trong một buổi hò đưa linh tại Huế, dẫn đầu của đoàn là kép chủ diễn, thường mang y phục như một kép diễn tuồng; theo sau là 12 chèo con, y phục giống nhau như binh phục lính thú đời xưa; sau cùng là người lái, chỉ khoác y phục bình thường.

Chèo cạn: tại làng Tùng, xã Vĩnh Giang, phủ Vĩnh Linh, tỉnh QuảngTrị có đội chèo cạn chuyên nghề. Đội nầy gồm có: cai tùy, cai tấu, một dàn bát âm gồm sáo, nhị nguyệt, kèn sô-na và một tốp 12 thành niên trai khoẻ mạnh.Lễ hò đưa linh tại đây thường tổ chức ngay trước quan tài và khi đưa quan tài đến huyệt.

Lý:

Trong những thể dân ca Huế, điệu lý thường được nói bên cạnh những điệu hò và điệu vè. Điệu nầy có phải là lối ca nhạc dân gian hay mang tính chất bác học, điều nầy, cho đến nay vẫn còn trong vòng tranh luận. Thậm chí một số lại nhấn mạnh đến tính "hai mang", vừa dân gian, vừa bác học.

Theo nhạc sĩ Phạm Duy, thì "Người miền Trung gọi lý là bài hát quê mùa (lý = làng), so với ca Huế vốn là sản phẩm của giới phong lưu (hoàng phái, nho sĩ, quan lại).

Ngoài lý giao duyên là thơ bảy chữ hát với câu đệm, câu láy, tất cả những dân ca ở hai miền Trung và Nam mà không phải là hò thì được gọi là lý" (Đặc khảo về dân nhạc Việt Nam- 1972- trang 81). Những danh xưng về loại lý trong một số bài cũng mang tính chất bác học: lý Giang Nam, lý Hoài Nam, lý Tiểu Khúc, lý Tử Vi, lý Mã Ô, lý Dạ khúc, lý Quỳnh Tương, lý Vọng Phu...

Lại có ý kiến khác như tác giả Văn Lang trong "Ca Huế và ca Kịch Huế" - 1993 - đặt vấn đề: Có người đặt câu hỏi: Lý là gì? Có phải là những bài ca được sáng tác dưới triều Lý? Không phải thế, "lý" ở đây là "ca lý". Lý có nghĩa là "hát".

Trước kia đã có câu nói "Chiêm Thành ca lý đa ai oán". Như vậy, lý có nghĩa là hát, một loại hát ngắn gọn. Từ trước đến nay, một số nhà nghiên cứu cho rằng: Lý là dân ca (lý, hò, vè dân ca vùng Bình Trị Thiên).

Nhưng quan niệm đó đã không vững chắc. không riêng gì Huế, tại miền Nam điệu lý cũng thịnh hành và đa dạng: lý Con mèo, lý Con cua, lý Cây chuối, lý Dừa tơ, lý Mù u, lý Bánh ít, lý Bánh canh, lý Nàng dâu, lý Chú Chệt... tất cả đều là dân ca thuần túy. Thành thử không thể nhầm lẫn giữa các điệu lý tại Huế và điệu lý của những địa phương khác được. Những nhà nghiên cứu khi trình bày tính chất dân ca trong thể lý thường nêu ra những đặc tính như sau:

(a) Trước hết, hệ thống các điệu lý được phổ nhạc, theo những lời thơ lục bát. Thành thử, thể điệu nầy gần gủi với dân ca. Chứng cớ là một số nhạc phẩm hiện nay được sáng tác theo âm điệu của dân ca nầy).

(b) Trong thể lý, bài bản thường ngắn gọn. Mỗi điệu lý chỉ có 2 vế: vế trống và vế mái. Vế trống có âm cao, vế mái có âm trung và âm thấp.

Những đọan lý thường nối tiếp nhau, có khi chồng chéo nhau. Một số tác giả khác thì cho rằng: lý từ địa hạt của lối hát giao duyên, hát chơi nhảy, rồi từ đó nhảy vào ca Huế. (Theo Phạm Duy - Sđd)

Thông thường, trong lúc hát chơi, bất cứ câu ca dao nào được ưa thích cũng được đưa vào thể lý một cách dễ dàng. Khi so sánh hò và lý, có tác giả so sánh: nếu hò là dân ca lao động thì lý lại là nhũng khúc dùng trong lúc vui chơi, gặp gỡ giữa những đôi trai gái. Lý thường dùng để giải bày tâm sự, diễn tả nỗi niềm, trạng thái tâm hồn thay đổi của mình.

Khác với hò, là những giai điệu còn mang nhiều tính chất tự do, phóng khoáng, thì thể lý là những giai điệu khá hoàn chỉnh, cố định. Mỗi điệu lý thường mang tính chất riêng biệt, khi thì mang vẻ tình tứ, tha thiết, có khi lại buồng thảm não nùng. Cũng có khi nói lên niềm phấn khởi vui tươi, nhưng cũng có thể nói lên khía cạnh tâm tư của con người.

Như đã trình bày ở trên, lý nguyên nghĩa là quê mùa, để đối lại với lối hát cung đình giành cho vua chúa thưởng thức tại Duyệt Thị Đường trong Hoàng Thành. Bài lý lúc đầu chỉ là những câu thơ lục bát (2 câu) và bất cứ câu thơ nào cũng có thể chuyển sang điệu lý cả. Nhan đề của bài lý rút ra một số chữ trong bài ca dao đó.


Lý Con Sáo là điệu lý thịnh hành nhất của xứ Huế. Nhiều tác giả nhắc đến lý Con Sáo tại Nam Trung Phần và Nam Phần, nhưng lại xem là những điệu lý vay mượn từ lý Con Sáo ở Huế, với ít nhiều biến thể cho thích hợp với làn điệu của địa phương.

Bài lý Con Sáo là một trong những trường hợp điển hình của sự biến thể của từng vùng khác nhau. Biến thể đây được hiểu theo hai nghĩa: - Cách ngắt câu - Cách thêm những tiếng đệm

Nguyên thủy đây là bài ca dao thượng lục hạ bát:

Ai đem con sáo sang sông, Cho nên con sáo sổ lồng bay xa.

Những người dân vùng Thừa Thiên và kinh thành Huế thì hát như sau:

Ai đem con sáo sang sông.Để cho, (để cho) con sáo,(Ơi người ơi), Sổ lồng, (ơi người ơi) Bay xa...

Khi bài lý nầy được đưa vào vùng Quảng Nam (và Quảng Ngãi) thì lại không còn giữ lại cách ngắt câu và những tiếng đệm như giọng hát ở vùng Huế và tỉnh Thừa Thiên nữa:

Ai đem con sáo (tình bạn) sang sông (Ứ ư, ư ư, làm răng?) Để cho, (để cho) con sáo (Ứ ư, ư ư), Để cho (để cho) con sáo sổ lồng bay xa (Ứ ư, ư ư làm răng?) Để cho, (để cho) con sáo sổ lồng bay xa...

Một khi bài lý Con Sáo được đưa vào Nam và chuyển theo thể hát thuần túy của địa phương thì lại được biến thể điệu như sau đây:

Ai đem con sáo, (Ai sông rồi lại) sang sông? (Kià kia, kía kia, kìa kia) Để cho (nọ) con sáo (ơi) (sô) sổ lồng, nó bay...

Những lối thêm những tiếng dặm nầy không theo một quy luật nhất định. Miễn là cho thuận tai và mọi người công nhận, thì tự nhiên sẽ được phổ biến. Đây là nguyên tắc “thuận lời chứ không thuận lý” mà nhiều loại dân ca đã vâng theo.

Những nhà phân tách dân ca thường gặp khó khăn trong phân loại và tiêu chuẩn hoá, để rồi phải rút ra từng kết luận riêng rẻ của từng bài mà thôi... Lý Con sáo có nhiều thể hiệu riêng: lý Hoài Xuân, lý Tình tang, lý Giang Nam, lý Thầy Tu...


Một trong những thể điệu của lý Con sáo là lý Hoài Xuân: Trong nguyên nghĩa lý Hoài Xuân là thơ tưởng nhớ tuổi xuân xanh của những người đã luống tuổi; nhưng trong thể lý của đất Huế, thì bài lý nầy dùng để khuyên học trò:

Ơi trò đi học nhà trường, Phải chăm (phải chăm) mà bước, (Ơi trò ơi), Kẻo đường (Ơi trò ơi) Còn xa...

Dần dà về sau thì những bài thơ lục bát được dùng trong loại lý đã gia tăng nhiều, nhưng vẫn giữ được mức độ cân bằng của Lục bát đơn thuần.

Bài lý Mười Thương (còn gọi tên là lý Tình Tang) chứng minh điều đó:

Một thương tóc bỏ đuôi gà, Hai thương, hai thương, ăn nói, Ô tang, ố tang, tình tang, Mặn mà, duyên, có duyên, Ô tang, ố tang, tình tang, Mặn mà, duyên có duyên... Ba thương...

Cứ như thế trình bày cho hết mười thương.


Thể điệu lý Con sáo khác là lý Hoài Xuân. Nếu trong bài lý Con Sáo tại vùng Huế và Thừa Thiên có thêm những câu dặm theo "Tình, Tình Tang" thì không còn tên như cũ, mà lại đổi thành là lý Tình Tang. Điều nầy cho thấy rõ là những bài lý đã dung hợp được nhiều thể điệu khác nhau trong ca dao, đồng dao, phong dao Việt Nam và như vậy dễ dàng làm giàu cho câu ca, điệu hát.

Mặt khác, cho ta thấy rõ là ngay trong văn chương bình dân đã ẩn tàng sẵn những âm thanh rồi. Nội dung của bài lý chỉ gồm hai câu đơn giản,cộng thêm những tiếng dặm cho nên chỉ nói lên được một bài tư tưởng, tình cảm đơn thuần. Nếu muốn diễn tả sâu rộng hơn thì lại dùng các thể hát chèo, quan họ, ả đào, trống quân. Thể lý là giai đoạn đầu của những thể nhạc khác trong dân ca.


Thể điệu thứ ba của lý Con sáo là lý Giang Nam. Đây là một trong những điệu lý ở Huế có cả một hệ thống tiếng đệm lót, đệm nghĩa tiếng đưa hơi láy luyến phong phú.

Nhịp điệu của thể nầy thường khoan thai, chậm rãi, dập dìu. Giai điệu cũng khá uyển chuyển, êm nhẹ, lên bổng, xuống trầm, khá uyển chuyển. Khi đến phần cuối cùng của lý Giang Nam thì thường có những âm giai vang vọng, lời nhạc nói đến niềm chia ly,luyến tiếc.

Nhìn chung, lý Giang Nam chứa chan nhiều tình cảm, đam mê, say đắm. Trong phân tách, loại lý nầy gần với những bản ca nhạc Huế cổ điển thuộc điệu nam, hơi ai.

Về cấu trúc âm thanh rất uyển chuyển, làm đảo lộn ngữ âm bình thường, biến những từ không dấu thành có dấu sắc hay dấu huyền.Cứ phân tách một đoạn lý Giang Nam sau đây thì rõ:

Ai đem con sáo - ư ừ ứ,- sàng sang sáng sang sàng sồng, sáo sang sồng, tình bạn sàng sồng- ư ư ừ - tình bạn sàng sồng- ứ ư ừ.- Để cho, để cho, còn sáo,- ừ ư,- sồ sổ sổ sổ sổ sồ lồng, sáo sổ lồng, tình bạn, xa - ư ừ,- tình bạn bày xa - ư ừ-.


Thể điệu thứ tư của lý Con Sáo là lý Thầy Tu. Loại lý nầy có nhịp điệu chậm vừa, được đệm bằng nhịp mõ. Đây là điệu hát dân gian có mang âm hưởng của điệu tán tụng ở chùa chiền; hơi nhạc gần với các bài bản của nhạc Huế, thuộc điệu “nam âm thiền”.

Những đoạn hát ngắn, lại được đệm thêm những tiếng lót như "a li", những tiếng đưa hơi như "ứ ừ ư" kéo dài ra, tạo một nét buồn sâu sắc:

Ai đem con sáo (tình bạn) sang sông;- a li, sông sang sông,- Nên chi (nên chi) con sáo (ừ hừ ư) - Nên chi (nên chi) con sáo - sổ lồng bay xa (a lai) - xa bay xa...


Lý giao duyên tại Huế được trình bày qua thể điệu như sau đây:

Gặp nhau đây, mới đầu trăng gió, Hỏi một lời: tên, họ là chi? Hỡi nàng, nàng ơi!Hỏi một lời, tên, họ là chi?

Trong trường hợp người con gái muốn đi vào những liên hệ tình cảm (trong đối đáp mà thôi) thì sẽ trả lời tương tự như sau đâu:

Bạch Lai thơ, quê nơi Trung lĩnh, Thung huyên mất rồi, muộn cảnh chồng con..

Thịnh hành nhất là loại lý Giao Duyên hay lý Vọng Phu. Lý giao duyên thường được sáng tác rất sâu sắc và do những nho sĩ hay những tài tử nổi tiếng đặt lời hát.

Lý Giao duyên có nhiều nội dung khác nhau, về tình cảm, về thời tiết,về mây nước. Lý Giao duyên thường hát trong những điệu Ca Thư Phòng. Chẳng hạn như bài lý Giao Duyên Mười hai Tháng sau đây:

Đầu tháng Giêng, mãn thiên xuân sắc,Ai nấy vui mừng, thiếp bắt mặt trông, - Qua tháng Hai, hoa nhà ướm nở, Thiếp trông chàng, vừa trở gió đông. - Qua tháng Ba, trăm hoa cảnh phát, Thiếp trông chàng, bát ngát niềm tây. - Qua tháng Tư, mùi hương phảng phất, Thiếp trông chàng, hạ bất hồng liên. - Qua tháng Năm, ve sầu kêu oán, Thiếp trông chàng, như đại hạn trông mưa, - Tháng Sáu trông già hoè im mát, Thiếp trông chàng: phấn nhạt, hương phai. -Tháng bảy trông: bắc cầu Ô, Thước, Qua Ngân Hà, mới thấy được phu nhân. - Tháng Tám trông, gương trăng tròn vạnh, Thiếp trông chàng, một gánh tương tư. - Tháng Chín trông gương trong đài trùng cửu, Ngày vắng, đêm dài, ly cốc tửu giải khuây. - Tháng Mười: bông hoa lài nở nhụy, Ngắm cảnh thêm buồn, thêm nhớ, thêm thương. Tiết Dương sanh: tùng mai xanh tốt, - Thiếp trông chàng: tháng Mười Một vắng tin. - Tháng Mười hai: xuân lai bất tận, Tháng hết, năm cùng, lận đận theo anh...

Đây là trường hợp đặc biệt của một thể hò, vì chứa nhiều câu, diễn tả nhiều tâm sự, theo diễn biến của thời gian và của tâm trạng của con người.

Thể điệu nầy không còn là hát đối ca của nam nữ, mà lại dùng để trình bày tình cảm biến chuyển của con người. Từ bài hò đơn giản đến bài hò dài, phức tạp, đa dạng, tự sự, quả là một chuyển biến lớn trong các giai điệu nầy.


Ðây cũng là một loại lý được phổ biến nhất trong vùng Huế, Thừa Thiên. Cửa quyền là nhà cửa của quan lại trong triều đình Huế. Người dân quê chỉ đề cập đến một số nét, gần như là dùng thể hoạt kê để chỉ trích một phần nào những trò chơi ngông, phách lối, kiểu cọ của lớp người nầy:

“Cửa quyền chạm bốn câu thai. Hai câu thơ phú hay bài ca ngâm”...

Trong điệu lý Cửa Quyền thịnh hành ở miền Trung, nơi có triều đình Huế đóng đô, đã trở thành như sau:

Cửa quyền chạm bốn câu thai - Hai câu (tình mà) thi phú, (A ớ a, a ớ a) - Hai bài (hai bài) thơ ngâm... - Cửa quyền khắc những bài văn, Khen che (khen che) rất mực - (A ớ a, a ớ a) - Mặn nồng (mặn nồng) với ai.Cửa quyền có những quan sai - Có đoàn (có đoàn) lính lệ (A ớ a, a ớ a) - Ra oai (ra oai) cửa quyền...

Những bài hát như vậy cứ kéo dài mãi, mà mỗi người có thể theo nhận định và phê phán của mình để tấn công Cửa quyền. Có thể đây là tinh thần đối kháng của người dân nghèo khi nhìn vào cửa quyền; nhưng cũng có thể là những lối trào lộng, vui chơi, vô tội vạ.

Những thể nói lý của miền Trung đều xoay chung quanh những đề tài như vậy: đời sống an nhàn, quan lại hống hách, lao động cần cù, tình duyên trai gái, làng trên xã dưới. Nói chung mọi sinh hoạt dân chúng đều có thể thể hiện trong thể lý, vốn nghĩa là tác phẩm của người bình dân.


Một trong những bài ca lý nổi tiếng ở Huế là bài lý Tử Vi, nhưngnội dung và giọng điệu thì thuộc về loại ca phòng hơn là bài hát ngoài dân gian.

Lý Tử Vi còn gọi là lý Trăm Huê, một trong những điệu lý xứ Huế, đã có những tính chất xa dần tính chát đơn thuần, mộc mạc của dân ca Huế, để tiến sang phạm vi tinh tế cuả ca nhạc Huế.

Nỗi niềm được trang trải rộng, ý thơ mang tính biểu tượng, nỗi xa xa lai láng như trang trãi khắp không gian. Tử Vi là tên một loài hoa do thi hào Bạch Cư Dị đặt tên, sau khi viết khúc Tỳ bà hành.

Thể điệu của bài lý Tử Vi miền Trung như sau:

Dầu giải nắng mưa, - Tử Vi dầu giải nắng sương, - Huê cam (tình như) huê quít, Biết thương huê nào? - Anh thương huê mận, huê đào, (Huê mận, huê đào) - Anh đây thương huê mận, huê đào, - Cầu bông (tình như) huê cúc, Biết vào tay ai? - (Ơi tình ơi) thăm thắm chớ phai (Ơi tình ơi) - thăm thắm chớ phai, - Ham bông (tình) huê lài ,- Mà lại thơm lâu, (Ơi tình ơi) chớ phụ huê ngâu, - Chớ phụ huê ngâu, (Ơi tình ơi) - Chớ phụ huê ngâu, - Ham nơi (tình như) phú quý, - Lại hầu mẫu đơn, - Anh tìm em, trăm giận nghìn hờn, - Trăm giận nghìn hờn, - Anh tìm em, trăm giận nghìn hờn, - Ước chừng (tình như) cho đặng, - Xích lại gần đây,- Có thương, xích lại gần đây, - Thời xích lại đây, - Đừng còn (tình như) mơ tưởng - Núi mây cơ nghèo. Trèo lên hòn núi cheo leo, - Hòn núi cheo leo,- Anh trèo lên hòn núi cheo leo, - Cảm thương (tình như) nỗi mẹ,- Lo nghèo phận em , -- Anh tìm em đã khắp núi non.

Dù là điệu lý, nhưng qua bài lý Tử Vi trên đây thì giọng Ngũ Cung Oán Nam được chuyển hệ một cách tài tình, cho nên bài ca được liệt vào một trong ba bài ca hay nhất của vùng đất Thần Kinh thế kỷ thứ XIX cho đến nay vẫn là bài mở đầu cho những tổ chức nhạc ca phòng và cả nhạc cung đình nữa. Miền Nam cũng có những bài lý, nhưng vần điệu thì khác nhau, về cách ngắt câu, tiếng đệm, nhịp điệu, nhất là Ngũ Cung oán được chuyển hệ.

Kiêm Thêm

Thơ Châu Thạch


CẢNH CÁO


Khi cổ thụ bị người cưa trốc gốc
Khóm phong lan dập nát dưới thân cây
Dòng suối trong mất bóng bụi hoa đầy
Con bướm nhỏ không còn nơi hút nhụy

Chính khi đó là khi trời cáo thị
Mùa đông cao nước lũ phá làng xanh
Mùa hè kia nắng đổ đốt cây, cành
Khô gốc rạ và khô nguồn thực phẩm

Chim sẽ hót tiếng kêu buồn đứt ruột
Bướm sẽ bay trên xác những loài hoa
Trên rừng cao hoang thú mất ngôi nhà
Và dưới thấp loài côn trùng tuyệt giống

Người sẽ đội cả bầu trời trống rổ
Không gì ngăn những sự chết xông pha
Bệnh trên đầu, trong bụng, ngoài da
Những lưởi hái từ trên cao gặt xuống.

Cả nhân loại ôm đầu mình bủn rủn
Những tiếc thương ân hận đã dư thừa
Nếu bây giờ ngừng lại vẫn còn chưa
Còn phá mãi ngôi nhà chung đang ở .

Châu Thạch
@vanngheqt