Wednesday, August 7, 2013

Hillary Clinton

Bà Tổng Thống Hillary Clinton?

Chuyện cả nước Mỹ và thế giới đều biết: Bà Hillary Clinton được Tổng Thống Barack Obama gọi điện thoại mời ghé Tòa Bạch Ốc ăn trưa hôm Thứ Hai, sau đó được Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Joseph Biden mời ăn sáng hôm Thứ Ba. Chuyện tất cả những ông bà nhà báo thích tò mò cũng đều biết: Bữa ăn trưa ở Vườn Hồng có món gà nướng với xà lách trộn dầu olive, bữa ăn sáng ở tư gia ông phó có nước cam, trứng chiên và thịt gà tây muối (turkey bacon). Ðiều cả nước Mỹ và thế giới đều muốn biết: Bà cựu ngoại trưởng cùng ông số 1 lẫn ông số 2 bàn với nhau những chuyện gì? Có phải tính chuyện tranh cử tổng thống 2016 hay không?


Cựu Ngoại Trưởng Hillary Clinton (phải) ăn trưa với Tổng Thống Barack Obama tại sân Tòa Bạch Ốc hôm 29 Tháng Bảy, lần đầu tiên hai người gặp nhau kể từ khi bà từ chức. (Hình: Chuck Kennedy/White House via Getty Images)

Mặc dù ông phát ngôn viên Josh Earnest của Tòa Bạch Ốc nói đi nói lại “cuộc gặp gỡ diễn ra chỉ vì lâu ngày các sếp không gặp nhau chứ không có chuyện gì khác cả” nhưng hầu như chẳng ai tin, vì chỉ một ngày trước khi bà Clinton đặt chân trở lại Washington D.C., ông cựu cố vấn David Axelrod cho hay “bà Clinton sẽ ra tranh cử và sẽ là đại diện cho đảng Dân Chủ” dự cuộc đua chính trị 2016. Dù nhắc đi nhắc lại nhiều lần những gì ông nói đều là ý kiến cá nhân, nhưng ông Axelrod bảo thêm “trong trường hợp bà Clinton không ra tranh cử, lúc đó Phó Tổng Thống Biden mới nhảy vào vòng chiến”.

Cho đến giờ cả bà Clinton lẫn ông Biden đều không nói gì về chuyện tương lai, nhưng đồn đãi ở Washington đều nhắm vào một chỗ: Hình như đang có dàn xếp chính trị để lần này phía đảng Dân Chủ sẽ công bố danh tánh người ra tranh cử sớm hơn thường lệ. Ðồn đãi này đi kèm với dự đoán đầu năm tới hoặc bà Clinton hoặc ông Biden sẽ loan báo tranh cử, khởi đầu cuộc vận động rất quy mô để tiếp tục giữ Tòa Bạch Ốc. Ðiều đáng chú ý là không ai nhắc tới liên danh Biden-Clinton hay Clinton-Biden, có lẽ vì họ nghĩ 8 năm làm phó đã quá đủ cho ông Biden, còn bà Clinton đã từng ra tranh cử -và hụt- ghế tổng thống, chắc chắn sẽ không gật đầu để giữ vị trí số 2.

Không biết những đồn đãi, dự đoán chính trị này đúng sai như thế nào, chỉ thấy vài ngày sau buổi ăn trưa giữa bà với tổng thống và buổi ăn sáng với phó tổng thống, một số cuộc thăm dò cử tri đã được thực hiện. Kết quả cho thấy nếu cuộc tranh cử diễn ra trong lúc này, bà Clinton thắng tất cả những chính trị gia nằm trong danh sách “sáng giá của đảng Cộng Hòa”, và... thắng luôn cả ông Biden. Theo cuộc thăm dò của ABC/The Washington Post, tới 67% người dân Hoa Kỳ có cảm tình với bà, cuộc thăm dò do Quinnipiac University thực hiện có kết quả bà sẽ được 60% cử tri tín nhiệm trong vai trò của người lãnh đạo quốc gia. Những con số thật ấn tượng đó mang ý nghĩa bà chính là người đảng Dân Chủ cần có để tiếp tục làm chủ Tòa Bạch Ốc.

Cũng chính vì tin tưởng bà Clinton xứng đáng làm chủ Tòa Bạch Ốc nên từ Tháng Tư vừa qua, một số người đã quyết định thành lập tổ chức vận động mang tên “Ready for Hillary”, kêu gọi những người khác ủng hộ và thúc đẩy bà cựu ngoại trưởng dự cuộc đua tranh chức tổng thống vào năm 2016.
 
Trên trạng mạng www.readyforhilllary.com, những người khởi xướng cho hay tổ chức vận động chính trị này cũng như người dân Hoa Kỳ “đã sẵn sàng” chờ ngày bà Clinton loan báo quyết định tranh cử, đồng thời kêu gọi mọi người cùng lên tiếng để nhân vật đang được cả thế giới chú ý đến “cũng sẵn sàng và thêm phấn khởi khi đồng ý nhận thử thách chính trị quan trọng nhất” và trở thành nữ tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Tổ chức đã đăng ký với chính phủ liên bang, cho biết thêm “trung bình mỗi ngày có cả ngàn người từ mọi địa phương tham gia, ủng hộ”, đồng thời cũng nói rõ tổ chức được thành lập trong tinh thần “tự phát”, không phải là tổ chức vận động chính thức của bà Clinton.

Trang mạng này có nhiều hình ảnh của bà Clinton đi kèm với những phát biểu của các nhân vật nổi tiếng thế giới, như cựu Thủ Tướng Anh Tony Blair gọi người từng điều khiển ngành ngoại giao của nước là chính trị gia “có lập trường và đường lối hoạt động rất rõ rệt”, đi kèm với câu kết luận cho rằng ông tin “hoạt động của bà Clinton sẽ không dừng lại ở đây”. Một số tài tử, nghệ sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ cũng lên tiếng ủng hộ bà Clinton, chẳng hạn như nữ tài tử lừng danh Sarah Jessica Parker trong bộ phim nổi tiếng “Sex and the City” nói rằng bà Clinton có quá nhiều tài năng, “có quá nhiều điều để cống hiến” cho quốc gia và cho thế giới.

Nhưng đến giờ, nhân vật chính vẫn chưa lên tiếng nói gì cả.

Kể từ khi rời Bộ Ngoại Giao, bà Clinton không hề đưa ra một dấu hiệu nào liên quan đến việc liệu có ra tranh cử hay không, trên trang mạng cá nhân, bà Clinton cũng không nói gì về chuyện sẽ tham gia hoạt động chính trị, trong những cuộc phỏng vấn bà đều bảo muốn có thì giờ nghỉ ngơi, đọc sách và lo cho gia đình. Mãi tới đầu Mùa Hè bà mới cho phổ biến đoạn video loan báo ủng hộ hôn nhân đồng tính, tức khắc được đồn đãi là “một quyết định mang tính chính trị” trong lúc -cũng theo dự đoán- bà “tiếp tục dọn đường trở thành người phụ nữ đầu tiên nắm chức tổng thống Hoa Kỳ”. Trước đó, cựu Tổng Thống Bill Clitnon và cô con gái cưng Chelsea cùng nhau gửi email cho những người ủng hộ, đề nghị “gửi thư cám ơn bà ngoại trưởng vì những công sức đã góp phần giúp quốc gia ổn định và thế giới hòa bình”, thư email với ý kiến này cũng dấy lên dự luận cho rằng “Cha con nhà Clinton đang dọn đường để bà mẹ lấy chìa khóa mở cửa Tòa Bạch Ốc”.

Nhưng chẳng phải ai cũng muốn thấy bà Clinton trở thành tổng thống. Một trong những người đang đựng hàng rào cản đường là ông Matt Rhoades, từng nằm trong ủy ban tranh cử của ứng viên Cộng Hòa Mitt Romney. Một tháng trước đây ông này cùng với một số người đồng chí hướng dựng một tổ chức siêu vận động (super-pact) mang tên America Rising và trang mạng StopHillary2016.org, mục đích được ghi rất rõ “nhằm ngăn chận, không để cho một Clinton nữa vào Tòa Bạch Ốc” vì “qua thời gian bà ta làm ngoại trưởng, chúng ta đã biết những gì sẽ xảy ra nếu bà ta làm tổng thống”, do đó “chúng ta không thể để cho một chính phủ Clinton thành hình sau 8 năm trời của Tổng Thống Obama”.
 
Nguyễn Văn Khanh
@nguoiviet  -  CNN

Tuesday, August 6, 2013

Cinderella

Chuyện cổ tích Cinderella: Cách người Mỹ dạy trẻ em

 Giờ học văn bắt đầu. Hôm nay thầy giảng bài Chuyện Cô bé Lọ Lem.
Trước tiên thầy gọi một học sinh lên kể chuyện Cô bé Lọ lem. Em học sinh kể xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.

Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa rồi?

Học sinh (HS): Thích Cô bé Lọ Lem Cinderella ạ, và cả Hoàng tử nữa. Không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.

Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?

HS: Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu như ban đầu, lại mặc bộ quần áo cũ rách rưới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm !

Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà xem, em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc luộm thuộm mà xuất hiện trước mặt người khác. Các em gái nghe đây: các em lại càng phải chú ý chuyện này hơn. Sau này khi lớn lên, mỗi lần hẹn gặp bạn trai mà em lại mặc luộm thuộm thì người ta có thể ngất lịm đấy (Thầy làm bộ ngất lịm, cả lớp cười ồ). Bây giờ thầy hỏi một câu khác. Nếu em là bà mẹ kế kia thì em có tìm cách ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử hay không? Các em phải trả lời hoàn toàn thật lòng đấy !

HS: (im lặng, lát sau có em giơ tay xin nói) Nếu là bà mẹ kế ấy, em cũng sẽ ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội.

Thầy: Vì sao thế ?

HS: Vì … vì em yêu con gái mình hơn, em muốn con mình trở thành hoàng hậu.

Thầy: Đúng. Vì thế chúng ta thường cho rằng các bà mẹ kế dường như đều chẳng phải là người tốt. Thật ra họ chỉ không tốt với người khác thôi, chứ lại rất tốt với con mình. Các em hiểu chưa? Họ không phải là người xấu đâu, chỉ có điều họ chưa thể yêu con người khác như con mình mà thôi. Bây giờ thầy hỏi một câu khác: bà mẹ kế không cho Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử, thậm chí khóa cửa nhốt cô bé trong nhà. Thế tại sao Cinderella vẫn có thể đi được và lại trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong vũ hội ?

HS: Vì có cô tiên giúp ạ, cô cho Cinderella mặc quần áo đẹp, lại còn biến quả bí thành cỗ xe ngựa, biến chó và chuột thành người hầu của Cinderella.

Thầy: Đúng, các em nói rất đúng ! Các em thử nghĩ xem, nếu không có cô tiên đến giúp thì Cinderella không thể đi dự vũ hội được, phải không?

HS: Đúng ạ !

Thầy: Nếu chó và chuột không giúp thì cuối cùng Cinderella có thể về nhà được không ?

HS: Không ạ !

Thầy: Chỉ có cô tiên giúp thôi thì chưa đủ. Cho nên các em cần chú ý: Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều cần có sự giúp đỡ của bạn bè. Bạn của ta không nhất định là tiên là bụt, nhưng ta vẫn cần đến họ. Thầy mong các em có càng nhiều bạn càng tốt. Bây giờ, đề nghị các em thử nghĩ xem, nếu vì mẹ kế không muốn cho mình đi dự vũ hội mà Cinderella bỏ qua cơ hội ấy thì cô bé có thể trở thành vợ của hoàng tử được không ?

HS: Không ạ ! Nếu bỏ qua cơ hội ấy thì Cinderella sẽ không gặp hoàng tử, không được hoàng tử biết và yêu.

Thầy: Đúng quá rồi ! Nếu Cinderella không muốn đi dự vũ hội thì cho dù bà mẹ kế không ngăn cản đi nữa, thậm chí bà ấy còn ủng hộ Cinderella đi nữa, rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử ?

HS: Chính là Cinderella ạ.

Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể làm cho Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên cô bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm thấy mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con chồng như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào ?

HS: Phải biết yêu chính mình ạ!

Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho mình mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô bé đi dự vũ hội của hoàng tử, chẳng ai có thể ngăn cản cô bé trở thành hoàng hậu, đúng không ?

HS: Đúng ạ, đúng ạ !

Thầy: Bây giờ đến vấn đề cuối cùng. Câu chuyện này có chỗ nào chưa hợp lý không ?

HS: (im lặng một lát) Sau 12 giờ đêm, mọi thứ đều trở lại nguyên dạng như cũ, thế nhưng đôi giày thủy tinh của Cinderella lại không trở về chỗ cũ.

Thầy: Trời ơi! Các em thật giỏi quá! Các em thấy chưa, ngay cả nhà văn vĩ đại mà cũng có lúc sai sót đấy chứ. Cho nên sai chẳng có gì đáng sợ cả. Thầy có thể cam đoan là nếu sau này có ai trong số các em muốn trở thành nhà văn thì nhất định em đó sẽ có tác phẩm hay hơn tác giả của câu chuyện Cô bé Lọ lem! Các em có tin như thế không?

Tất cả học sinh đều hứng thú vỗ tay reo hò. Đó là chuyện lớp học bên Mỹ, với những thầy cô yêu nghề, phân tích sâu sắc, phương pháp sống động, mang đầy nét sáng tạo và tích cực.
 
Bài “Người Mỹ giảng dạy chuyện Cô bé Lọ Lem như thế đấy” để lại trong tôi một ấn tượng mạnh hơn bất cứ lời bình nào về nền giáo dục của nước Mỹ. Người thầy giáo trong bài báo ấy chẳng khác một thiên thần. Ông đem lại cho lũ trẻ lòng công bằng, tình yêu thương, tinh thần đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, tư duy lý tính, ý nghĩa của cuộc đời … Với cách giáo dục như thế, sao mà lũ trẻ không có tình thương, sao mà chúng còn chịu sự ràng buộc và hạn chế bởi những điều này khoản nọ nào đấy?

Lan Chi

Monday, August 5, 2013

CHINA

Trung Quốc Ngàn Năm
 
Những nhập nhằng của Bắc Kinh và hiểu lầm của thế giới về Trung Quốc
 * Lãnh thổ "Trung Quốc" thời Nguyên Mông... Hốt Tất Liệt, Khang Hy, v.v... là người Hán ư?

Với dư luận thế giới, Trung Quốc là cường quốc đã có ảnh hưởng quốc tế trong cả ngàn năm, sau thế kỷ lụn bại chỉ bằng chớp mắt, nay đang chiếm lại ngôi vị truyền thống. Cho nên các chiến lược gia đều thấy sự thật này trong cách xử trí với một quốc gia từng là trung tâm thế giới hay thiên hạ, như tên gọi của Trung Quốc. Khốn nỗi, sự thật này chỉ là một huyền thoại.

Sự thật là Trung Quốc chưa từng là trung tâm của thế giới, dù chỉ là thế giới của đại lục Âu-Á. Và ngàn năm qua, Hán tộc đã từng bị các sắc tộc khác thống trị trong nhiều thế kỷ. Bài này sẽ nói về giai đoạn đầu của "ngàn năm Trung Quốc", từ năm 960 với Đế chế của nhà Đại Tống cho đến năm 1911 khi Đế chế nhà Đại Thanh sụp đổ, chấm dứt luôn sự cai trị của các Hoàng đế Trung Hoa, khởi đầu từ Tần Thủy Hoàng Đế vào năm 221 trước Công nguyên.

Sau ngàn năm đó là "trăm năm huy hoàng" của Hán tộc, từ 1912 đến 2013 - một chuỗi huyền thoại cận đại mình sẽ xét sau....
***
 
Thế giới ngoài Châu Á, là Âu Châu hay "Tây phương", có thể đã lần đầu tiên biết về Trung Quốc dưới cái tên là CATHAY, hình như là do lầm lẫn của Marco Polo khi kể lại chuyện Trung Quốc thời nhà Nguyên với cái tên phổ biến KHITAN tại Tây Á và Trung Á của Đế quốc Khất Đan hay Khiết Đan.

Khác với nhiều quốc gia mà tên nước phản ảnh chủ quyền của một sắc tộc chính (Đại Việt là một thí dụ, Afghanistan là một thí dụ khác, đất của người Afghan), Trung Quốc có tên nước khá trung hoà, chung chung, là "quốc gia trung tâm". Bên trong có nhiều sắc tộc khác nhau, nhưng Hán tộc giữ vai trò chính - hoặc làm như là đã từng giữ vai trò chính. Đấy là huyền thoại đầu tiên, một sai lầm cứ lưu truyền như chân lý. Ngày nay, khi tiếp tục dùng chữ "Trung" như Bắc Kinh hay con vẹt Hà Nội, chúng ta lưu truyền sự sai lầm đó. Vô tình hay cố ý thì xin cứ chọn!

Trong ngàn năm Trung Quốc, từ 960 đến 1911, Hán tộc đã nằm dưới, hoặc bị các dị tộc bợp tai đá đít trong nhiều thế kỷ, khoảng hai phần ba thời gian đằng đẵng này.

Trước hết, sử sách lười biếng - và kẻ đọc sử theo tinh thần bị Hán hoá, là không dùng óc phê phán - thường ghi rằng nhà Đại Tống khởi nghiệp nhờ Triệu Khuông Dận vào năm 960 sau 70 năm loạn lạc của thời "ngũ đại thập quốc" ("năm đời 10 nước"), và kết thúc vào năm 1279. Ngàn năm qua, đấy là triều đại của Hán tộc có thiên mệnh lâu nhất, dài hơn ba thế kỷ (319 năm).

Sự thật lại không hẳn như vậy. Trước hết là về nhà Đại Tống.

ĐẠI TỐNG 960-1279

Nhà "Đại" Tống quãng 1114, dưới chân Tây Hạ và nhà Kim, bên cạnh Tây Tạng và Đại Lý (Nam Chiếu)

Sự thật là nhà Tống có nhiều thành tựu chói lọi về văn chương hay kỹ thuật, nhưng là thời "đa nguyên" khi chính quyền trung ương suy yếu nhất trong các triều đại của Hán tộc. Lý do là một sự thật khác: lãnh thổ Trung Quốc tuột khỏi tầm kiểm soát của Hán tộc vì bị các triều Khất Đan, Tây Hạ và nhà Kim cai trị trong cả thế kỷ. Xin hãy đọc lại:

Từ năm 960 đến 1279, nhà Đại Tống bị mất đất 1) cho Khất Đan từ năm 916 (Triệu Khuông Dận chưa thống nhất tất cả như thiên hạ thường nghĩ) đến năm 1125; 2) cho Tây Hạ (thuộc tộc Tangut, Thông Cổ Tư, có họ với dân Tây Tạng) từ 982 đến 1227; 3) cho nhà Kim, thuộc sắc tộc Nữ Chân, có họ với dân Khất Đan và Mãn tộc sau này, từ năm 1115 đến 1234.
 
Không chỉ mất đất, nhà Tống còn bị chia hai. Sau trăm năm đầu thì Bắc Tống bị tộc Liêu uy hiếp và bị nhà Kim tiêu diệt năm 1127. Còn Nam Tống thoi thóp đến năm 1279 là tiêu vong.

Trong 319 năm đó, sự thật ai oán là nhà Đại Tống của Hán tộc chịu phận chư hầu, phải triều cống cho Khất Đan từ năm 1004 và cho Tây Hạ từ năm 1044. Năm 1207, Hoàng đế Nam Tống là Ninh Tông Triệu Khoách còn tăng mức triều cống và tự xưng cháu, "Hoàng điệt", với "Hoàng thúc" nhà Kim. Chúng ta kính trọng các anh hùng của họ, như Nhạc Phi hay Văn Thiên Tường, nhưng, khi thấy Hán tộc coi thường các sắc tộc họ gọi là tứ di thì đừng quên sự thật: trong hơn ba thế kỷ của nhà Tống, có hai thế kỷ là bị "man di" khuất phục. Ta nhớ lại các anh hùng dân tộc của ta đã đánh bại quân Tống, như Lê Đại Hành năm 981 hay Lý Thường Kiệt năm 1075....

Nam Tống trước khi tiêu vong

NGUYÊN MÔNG 1279-1368

Sau đó là thời của cháu nội Thành Cát Tư Hãn, là Hốt Tất Liệt, người lập ra nhà Nguyên của sắc tộc Mông Cổ trên một lãnh thổ bát ngát.

Sau khi Thành Cát Tư Hản lấn đất cắm dùi từ năm 1207 thì Mông Cổ hoàn toàn làm chủ Trung Quốc từ năm 1279 đến 1368. Hán tộc là dân thứ cấp, hạng dưới, của người Mông Cổ. Dù có thi đỗ để ra làm quan từ năm 1315 trở về sau cho triều Nguyên Mông thì sĩ phu Hán tộc chỉ được nhậm chức ở địa phương. Triều đình trung ương thuộc các Đại Hãn. Họ kết nạp trí thức Tây Á, Trung Á, Á Rập, thậm chí Âu Châu (Marco Polo là thí dụ).

Đây là một thời "đa nguyên" khác vì tầng lớp ưu tú xuất phát từ nhiều sắc tộc, thuộc các tôn giáo hay văn hóa như Phật giáo Tây Tạng, Hồi giáo, Cảnh giáo hay Mani giáo ("Minh giáo" theo cái hiểu thông tục nhờ truyện võ hiệp Kim Dung).... Tư tưởng Khổng Nho và cả chữ Hán có được sử dụng, nhưng chỉ là phương tiện cai trị thực tiễn ở dưới. Và trí thức Hán tộc có hai ngả giải thoát là văn chương, và.... lại luyện thuốc trường sinh theo Đạo giáo.

ĐẠI MINH 1368-1644
 
Vạn lý Trường thành vào đời Minh - Tân Cương, Mông Cổ và Mãn Châu ở đâu?

Sau trăm năm dưới ách Nguyên Mông (1279-1368) Hán tộc có cơ hội quật khởi khi Chu Nguyên Chương sáng lập ra một triều đại kéo dài từ 1368 đến 1644.

Trải ngàn năm của Trung Quốc nếu có một thời kỳ mà Hán tộc thật sự thi thố tài năng hoặc nguyện ước "bình thiên hạ" thì đấy là vào nhà Minh, ít ra trong nửa đầu của 276 năm cai trị, là hơn một thế kỷ. Kết luận là không có gì sáng láng!

Tính trung bình thì trong 276 năm, mỗi năm lại có một cuộc chiến (con số chính xác của Alastair Johnson, một học giả Harvard, là 1,12!) Ngoài chuyện loạn lạc triền miên với hơn 300 vụ xung đột giải quyết bằng quân sự, những điểm nổi bật nhất của nhà Minh của tộc Hán là:

Thứ nhất, mở rộng và củng cố Vạn lý Trường thành, một kỳ tích của sự sợ hãi có thể thấy được từ mặt trăng. Thứ hai và đấy là lý do, vì khu vực Trung Nguyên của Hán tộc thường bị các dị tộc Mông, Mãn tấn công. Thứ ba, nhà Minh quay đầu vào núi, giữ thể thủ để tồn tại: sau bảy chuyến hải hành từ 1405 đến 1433 của Tam bảo Thái giám Trịnh Hoà, một Đô đốc Hồi giáo, thì Hán tộc ra lệnh "hải cấm". Nhường đại dương cho thế giới. Thứ tư, nhà Minh trở lại lý luận tinh thuần của Khổng Nho, không tranh đua buôn bán với thiên hạ.

Một lý do quan trọng không kém của kỳ tích tự cô lập này là kinh tế: công khố bị kiệt quệ.

Mười năm chiếm đóng (1407-1418) và thu vét tài nguyên của Đại Việt lại ộc ra hết và lỗ vốn vì 10 năm kháng chiến của Lê Lợi từ 1418 đến 1427 ! Xin đặt lại "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn Trãi vào bối cảnh "geopolitics"....

Và dù đã nâng cao mở rộng Vạn lý Trường thành, Hán tộc dưới đời Minh vẫn không ngăn nổi thác lũ từ Đông Bắc, họ lại bị dị tộc khuất phục sau khi gặp cảnh tham ô và động loạn liên miên từ trước đời Sùng Trinh 1611-1644.

Kết luận thì lãnh thổ Trung Quốc thời Nguyên Mông rộng lớn chừng nào thì co cụm dúm dó chừng đó vào thời nhà Minh của Hán tộc. Rồi chỉ mở rộng là nhờ dị tộc Mãn Thanh.

ĐẠI THANH 1644-1911
 
Bản đồ Đại Thanh - và nghệ thuật nhận vơ của Hán tộc

Mối duyên, hay cái nợ, của Hán tộc với các sắc tộc Nữ Chân, Khất Đan hay Liêu Kim không kết thúc với nhà Nguyên hoặc được Trường thành Liêu Đông của nhà Minh ngăn trở. Các sắc tộc thiểu số trên vùng Đông Bắc đã tranh đua với nhau, thoát khỏi ách Nguyên Mông và quật khởi. Đó là Mãn Tộc, tự xưng nhà Hậu Kim rồi đổi thành nhà Thanh. Họ vượt trường thành vào làm chủ Trung Quốc từ năm 1644.

Ngẫm lại thì thế giới bên ngoài biết quá ít về các sắc tộc hay bộ lạc như Mông Cổ, Tây Hạ hay Thông Cổ Tư, hoặc Mạt Hạt, Nữ Chân, Khất Đan, Cao Ly hay Mãn Châu, v.v.... Có lẽ Hán tộc cũng tránh nói đến cái phần kém vinh quang của họ trên những khu vực hoang vu cằn cỗi nơi "quan ngoại", ngoài Vạn lý Trường thành. Cho đến khi bàng hoàng vì bị một sắc dân thiểu số từ đó bước vào cai trị trong 267 năm.

Các sắc dân này cũng có đại anh hùng, như Đại Hãn Nỗ Nhĩ Cáp Xích và con trai là Hoàng Thái Cực, hai người sáng lập nhà Đại Thanh. Họ là tổ phụ của những Khang Hy và Càn Long nổi tiếng trên thế giới và góp phần nhân đôi diện tích của Trung Quốc vào đời Minh!

Quả thật là nhà Đại Thanh đã là đại cường Đông Á trong thời kỳ đầu, với các cuộc viễn chinh mở rộng bờ cõi nhờ các chiến công quân sự tại Tân Cương, Tây Tạng, Nepal và Miến Điện. (Trường hợp nước ta với Quang Trung Nguyễn Huệ là ngoại lệ tê tái, y như các chiến công đời Trần).

Thế giới khi ấy chỉ có ba Đế quốc xứng tài là Đế quốc Ottoman theo Hồi giáo, Đế quốc Moghul của văn hóa Ba Tư và Đế quốc Đại Thanh của Mãn tộc.

Dưới triều Mãn Thanh, Hán tộc lại là loại công dân hạng nhì, thắt bím nằm im dưới các sắc tộc thiểu số. Trong tổ chức quân sự và dân sự, là "bát kỳ", dưới tám lá cờ, các tộc Mãn và Mông vẫn lãnh đạo ở trên, Hán tộc là nô bộc chỉ được tham dự về sau, và ở cấp thấp. Trong sinh hoạt trị quốc, chữ Hán có được dùng, nhưng chỉ là phương tiện điều hành cho cấp dưới, chứ các văn từ quan trọng nhất đều viết bằng tiếng Mãn. Việc Hán tộc đã "Hán hóa" của dị tộc cũng là một huyền thoại khác. Nhà Thanh áp dụng tư tưởng Khổng Nho vì có lợi cho bộ máy thống trị - và cũng khiến xứ sở lụn bại dần - chứ vẫn khinh thường người Hán. Chỉ những ai đã nhiều đời phục vụ các tộc Nữ Chân, Kim Liêu về trước hay Mông Mãn về sau mới được trọng dụng. Họ là thành phần bị gọi là "Hán gian"....

Chính là sự miệt thị này mới giải thích phản ứng dội ngược của Hán tộc trong cuộc cách mạng gọi là "Dân Quốc" vào năm 1911 - và những thảm kịch về sau. Chuyện về sau, khi sẽ nói sau....
***

Khi điểm lại "ngàn năm Trung Quốc", từ 960 đến 1911, ta thấy ra quy luật của sự nhập nhằng, lồng trong mặc cảm tự ti được che giấu bằng tinh thần tự tôn nhờ chiến công của người khác.

Trong 319 của nhà Tống, có hơn 200 năm bị ngoại thuộc từng phần rồi toàn phần. Cộng với gần trăm năm thống trị của Mông Cổ và 267 năm của Mãn Thanh, Trung Quốc thực tế bị ngoại tộc khuất phục trong khoảng 600 năm. Xin viết lại cho dễ nhớ: 600 năm cúi đầu trong 950 của Đế chế Trung Quốc.

Nói cách khác, đa số các Hoàng đế Trung Quốc không phải là người Hán. Hai phần ba thời gian vinh quang của Trung Quốc ngàn năm là một chuỗi dài nhục nhã cho Hán tộc.

Khi các dị tộc man rợ này cai trị thiên triều thì họ mở cơ hội cho nhiều sắc tộc khác tham gia. Khi Hán tộc có thể một mình một chợ thi thố tài năng thì chủ nghĩa duy chủng thắng thế, Hán tộc là nhất. Trung Quốc có sự "ổn định" huy hoàng - trăm năm đầu của nhà Tống và nhà Minh. Sau đó là nội loạn, ngoại xâm và lụn bại.

Ngày nay, khi lãnh đạo Trung Quốc lấy chiến công chinh phục của dị tộc để nói về chủ quyền của họ, từ vùng Mãn Châu qua Nội Mông, Tân Cương hay Tây Tạng, họ nhập nhằng với lịch sử. Và với địa dư. Những vùng đất nằm ngoài Vạn lý Trường thành, dù là xây vào đời Chiến Quốc, hay Tần, hay mở rộng vào đời Minh, không thể là lãnh thổ của Trung Quốc.

Lãnh đạo Bắc Kinh còn nhập nhằng với các sắc tộc khác khi lại đề cao Hán tộc và coi thường những sắc tộc đã bị đồng hóa lần mòn, mà vẫn chưa thấy yên tâm trong bụng.... Nếu hiểu ra tâm lý đó, ta có thể hiểu được những động thái ngày nay của Bắc Kinh, rất hung hăng với bên ngoài, để che giấu mối lo ở bên trong.

Đặt vào bối cảnh địa dư chiến lược của trường kỳ, ta mới thấy sự kiêu hùng của Đại Việt từ các chiến công lẫy lừng vào đời Tống, đời Nguyên, đời Minh đến thời Thanh làm Càn Long phải tâm phục.... Còn đâu cái nét kiêu hùng ?
 
 Nguyễn-Xuân Nghĩa

Sunday, August 4, 2013

Nguyễn Ngọc Bích

Đọc “Đứng vững ngàn năm” của Ngô Nhân Dụng
 
Là một dân-tộc bị đánh bật ra khỏi đất tổ của mình, không lạ là nhiều người Việt từ năm 1975 đã tìm cách “về nguồn” để xem ta từ đâu đến và đang đi về đâu? Chỗ đứng của ta đối với quê hương, đồng-bào, tiền-đồ dân-tộc?(Right ; Nhà báo Ngô Nhân Dụng (tức Đỗ Quý Toàn
)
Nhà văn-nhà thơ Đỗ Quý Toàn, người được biết dưới tên Ngô Nhân Dụng khi ông viết xã-luận cho báo Người Việt ở Cali, cũng vừa làm một nỗ lực như vậy khi ông cho in cuốn sách đồ sộ của ông, Đứng vững ngàn năm (Nhà xb Người Việt), có tiểu-tựa là “Nhờ đâu nước Việt vẫn còn sau ngàn năm Bắc thuộc.” Với gần 500 trang khổ lớn, chữ nhỏ, đây không phải là một cuốn sách ta có thể đọc lướt qua được. Nhưng tôi đã đọc với nhiều thích thú bởi gần như trang nào trong sách của ông cũng mang đến cho ta những thông tin mới hay những nhận-định sâu sắc, độc-đáo dựa vào những kết-quả rất đáng kể của ngành sử-học, xã-hội-học, khảo-cổ-học mà ta đã thụ đắc được trong gần 100 năm qua, kể từ quyển Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim.

Xây dựng trên những kết-quả nghiên cứu của mọi miền

Cách đây 12 năm, ông Nguyễn Gia Kiểng ở Pháp cũng có một cuốn sách, quyển Tổ Quốc Ăn Năn, viết về những vấn-đề tương-tự như trong sách của ông Ngô Nhân Dụng, bằng-chứng là bản dịch tiếng Anh cuốn ấy do Nguyễn Ngọc Phách (ở Úc) thực-hiện còn mang tựa đề là Whence… Whither… Vietnam?, “VN từ đâu đến và đi về đâu?” Nhưng khác với quyển sau này, cuốn của ông Kiểng chỉ đi từ những sở-kiến của ông mà hầu như không nhắc đến những nghiên cứu của ai khác. Ngược lại, cuốn Đứng vững ngàn năm thì gần như chỗ nào cũng “nói có sách, mách có chứng,” ông nêu ra những tìm tòi của Lê Thành Khôi, Pierre Gourou, Vũ Quốc Thúc, Paul Mus, Nguyễn Phúc Long (Les nouvelles Recherches archéologiques au Vietnam) trong tiếng Pháp, của Keith Taylor (The Birth of Vietnam), Nguyễn Quốc Trị trong tiếng Anh, của cả sử-gia Nhật viết về Việt-nam, và nhất là những sử-gia Việt-nam có sách gần đây, như Lê Mạnh Hùng (Nhìn Lại Sử Việt), Tạ Chí Đại Trường (Thần, Người và Đất Việt), Trần Gia Phụng (Việt Sử Đại Cương), Vĩnh Sính, Lê Mạnh Thát. Ông cũng không ngại nhắc đến những sử-gia hay tác-giả đứng đắn ở Hà-nội như Phan Huy Lê (Tìm về Cội nguồn), Trần Quốc Vượng hay Trần Từ (Cơ cấu tổ chức của Làng Việt cổ truyền), Trần Nghĩa, hay những tác-giả cổ hơn nhưng vẫn còn giá-trị (Phan Kế Bính, Lê Dư, Đào Duy Anh, Nguyễn Đổng Chi, Toan Ánh, Bình Nguyên Lộc…). Tóm lại, đọc Ngô Nhân Dụng, ta có cảm-tưởng được xem một bảng tổng-quan về những tiến-bộ sử-học, xã-hội-học, văn-học, khảo-cổ-học, thậm chí cả kinh-tế-học về Việt-nam, nghĩa là được thấy kiến thức của ta được phong phú hẳn lên.

Với những cái nhìn lý-thuyết từ phương Tây

Viết nhắm vào một độc-chúng mà không ít người hiện đang sinh sống ở phương Tây, nhất là các thành-phần trí-thức ở trong đó đã được làm quen với những lý-thuyết về sử-học, di-truyền-học, nhân-chủng-học, ngôn-ngữ-học nên cuốn sách cũng đem ra đối-chiếu kinh-nghiệm lịch-sử của dân Việt với những thuyết của Ernest Renan (sử-gia Pháp), Gottfried Herder (sử-gia Đức), để định nghĩa sự hình-thành của dân-tộc quốc-gia (nation-state) Việt-nam và xem nó bền vững được tới đâu dù như tổ tiên Lạc Việt của chúng ta đã phải chịu hơn một nghìn năm đô-hộ của nước khổng-lồ ở phương Bắc, Trung-hoa với một nền văn-minh rực rỡ đã đồng-hóa được không biết bao nhiêu dân-tộc trong nhóm Bách Việt –trừ chúng ta.

Tác-giả không chỉ nhắc đến những lý-thuyết đã có từ thế-kỷ 19 ở châu Âu, ông còn đem vào cuộc thảo-luận của ông những lý-thuyết hiện-đại hơn như “Game Theory” (“Lý-thuyết trò chơi”), “Soft Power” (“Quyền-lực mềm”), các thuyết về quản-trị và truyền-thông đại-chúng (“Management and Communication Theories”), vấn-đề xã-hội dân-sự (“Civil Society”) v.v. Như ông có những nhận xét thật sắc sảo về “làng” của người Việt (trong lũy tre xanh như ở miền Bắc) như một cơ-cấu trung-gian giữa các tộc họ trong dân-gian và nhà nước trung-ương (“Phép Vua thua lệ làng”), về các “hội” ở trong làng như một xã-hội dân-sự manh nha rất khó kiểm-soát từ trung-ương, về các hình-thức tổ-chức tôn-giáo (nguyên-thủy gốc bản-địa Đông-Nam-Á hay du nhập từ ngoài vào như Phật-giáo từ Ấn-độ, Khổng-giáo và Lão-giáo từ Trung-quốc) hay nhu-cầu bảo vệ đê điều dẫn đến sự đoàn-kết vượt ra ngoài làng xã hay địa-phương… Những sự nhào nặn đó đã dẫn đến một xã-hội bao dung với những quan-niệm như “một mẹ trăm con” (học của Ấn-độ, từ bộ sử-ca vĩ đại Mahabharata), “con Rồng, cháu Tiên,” hay “tam giáo đồng nguyên” cho phép sự tồn tại, cộng-sinh của nhiều cộng-đồng dân-tộc (53 cả thảy) trên dải đất chữ S với những ngôn ngữ, phong-tục, tập-quán rất khác nhau.

Một tổng-hợp hài-hòa

Nhìn vào tương-lai, tác-giả Ngô Nhân Dụng cảm thấy khá lạc-quan. Ông cho rằng như một dân-tộc ta đã “đứng vững ngàn năm” thì không có lý-do gì mà ta không có thể đứng vững thêm một nghìn năm nữa. Tuy-nhiên, với điều-kiện, những điều-kiện mà tác-giả thâu tóm trong chương cuối của cuốn sách (chương 32, “Vang vang trời vào xuân”).

Song kết-luận này không phải là một kết-luận dễ dãi mà tác-giả đến một cách dễ dàng, kiểu “lạc-quan tếu.” Với mỗi khẳng-định của ông là cả một cơ-cấu lập-luận vững chãi, có cơ-sở qua những đề-tài như:
- Sự hình-thành của ý-thức dân-tộc, ngay từ trong thời Bắc-thuộc (các chương 2-4).
- Sự khác-biệt giữa quan-niệm “Thiên-hạ” của người Hán và quan-niệm “trong Đế ngoài Vương” của các vua VN, kèm theo đó là sự biết tự-chế của các vua VN không bao giờ đòi ngôi vua “Thiên-hạ” (các chương 5-6).
- Sức mạnh của văn minh Hoa Hạ” và khả-năng bành-trướng của nó (các chương 7-9).
- Nhưng sức mạnh đó gặp “sức đề kháng” không kém phi thường của dân Việt dựa trên ngôn ngữ (chương 15-17), trên tín ngưỡng (chương 18-20, trong đó ta có cả khả-năng bản-địa-hóa các tín ngưỡng ngoại-lai) và trên “di-sản Đông-Nam-Á” ở ngã ba của Á-châu (chương 21-23).
- Qua hai chương phân-tích nữa về “sức mạnh của văn minh Hoa Hạ” (chương 24) đối-chiếu với “sức mạnh của người phương Nam” (chương 25) cho phép ta hòa-hợp hai dòng phát triển này (chương 26) miễn là ta đủ sáng suốt (chương 27).

Chương 28 là một chương tổng-kết rất đáng đọc kỹ càng bởi nhiều ý-tưởng then chốt của cuốn sách nằm ở đây.

Là một nhà thơ (bên cạnh chuyên-môn của ông là ngành kinh tế, tài-chánh mà ông đã giảng dạy trong nhiều năm ở Canada), không lạ là ông nhắc đến quan-niệm của nhà thơ Muhammad Iqbal, cha đẻ Hồi-quốc Pakistan (“Các dân tộc sinh ra từ trái tim của thi sĩ”), ông còn trích thơ tù của Thanh Tâm Tuyền vào đầu sách:
 
Đứng vững không khuỵu chân
Trên mảnh đất nghèo khổ
Thở hít tận vô cùng
Ngây say đóa hồng rợ
Vang vang trời vào xuân…

để kết thúc cũng bằng một câu thơ trong bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên:
 
Ta về cho kịp độ xuân sang…

Đồng Xuân, Bang Trinh Nữ
Hoa Kỳ Quốc
Ngày 27/6/2013
Nguyễn Ngọc Bích
@diendantheky
 

Saturday, August 3, 2013

Ngô Nhân Dụng

Nhờ đâu vẫn còn nước Việt Nam? 
 
Các nhà nghiên cứu lịch sử nước ta, sau khi viết về thời Bắc thuộc ai cũng muốn giải thích tại sao dân Việt Nam không bị Hán hóa sau một ngàn năm bị đô hộ. Trần Trọng Kim viết chương “Kết quả của thời Bắc Thuộc” trong Việt Nam Sử Lược nhấn mạnh đến ý chí của tổ tiên: “Hết thời Bắc thuộc rồi thì người Giao Châu ta có một cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng để độc lập, chứ không chịu lẫn với người Tàu.” Sử gia Lê Thành Khôi trong Histoire du Việt Nam giải thích rằng hiện tượng người Việt bảo tồn được tiếng nói là một sức mạnh đề kháng bền bỉ nhất. Sử gia Keith Taylor, trong cuốn The Birth of Vietnam, đồng ý về yếu tố ngôn ngữ; ông ghi nhận thêm sự phát triển của Phật Giáo trong thời Bắc thuộc là một nhân tố quan trọng đóng góp vào sự hình thành nước Việt Nam. Trong cuốn Nhìn Lại Sử Việt (tập I) Lê Mạnh Hùng nêu thêm các yếu tố kinh tế, xã hội. Ông nhắc tới tình trạng tập trung dân số rất đông ở vùng Ðồng Bằng Sông Hồng, với nền tảng kinh tế vững chắc; dựa trên hai lợi thế đó, tổ tiên chúng ta bảo vệ được một nền văn minh cổ truyền trong hai thế kỷ đầu tiếp xúc với người Hán; nhờ thế về sau khả năng đề kháng càng vững mạnh hơn. Tất cả những ý kiến trên đều có lý. Nhưng người Việt học sử dân tộc vẫn còn tò mò muốn biết rõ hơn. “Cái nghị lực riêng và cái tính chất riêng” mà Trần Trọng Kim nói, thực ra đó là gì, nhờ đâu tổ tiên chúng ta có được, và đã được thể hiện như thế nào?

Yếu tố quan trọng nhất giúp tổ tiên người Việt không bị Hán hóa có lẽ là, trước khi người Hán tới, dân Việt đã có sẵn một nền nếp trong cuộc sống chung, gọi là văn minh. Tổ tiên chúng ta đã có bản sắc văn hóa đủ vững chắc, nhiều đời trước khi bị chiếm đóng rồi bị đô hộ trực tiếp. Tổ tiên người Việt đã xây dựng một đời sống xã hội đủ chặt chẽ để họ có thể tự hào về chính mình. Nhờ thế họ không bị hấp dẫn, không bị cuốn chìm vào lối sống mà người phương Bắc đem tới, bắt phải theo. Ngoài những yếu tố chủ quan, như ngôn ngữ, chủng tộc, phong tục riêng, tinh thần bất khuất, vân vân, chúng ta còn thấy những điều kiện khách quan cũng thuận lợi cho ý thức dân tộc thành hình và phát triển. Có nhiều yếu tố bên ngoài hỗ trợ dân tộc Việt Nam. Vị trí nước ta ở ngã ba Châu Á, giữa Thái Bình Dương và Ấn Ðộ Dương giúp cho dân Việt tiếp nhận nhiều nguồn văn minh trước khi gặp người Hán; cho nên bản sắc thêm vững chắc và bền bỉ đủ để tự vệ. Nhiều biến cố chính trị, kinh tế vào mỗi thời, ở Trung Quốc hay trong vùng Ðông Nam Á, cũng tình cờ tạo cơ duyên thuận lợi cho các cố gắng giành tự chủ của người Việt. Các điều kiện địa dư, khí hậu do thiên nhiên cống hiến góp thêm những hàng rào ngăn cản khiến người Hán bành trướng xuống tới biên giới nước Việt thì bị ngăn lại.

Chúng ta càng thấy rõ sức đề kháng mạnh tiềm ẩn trong dân tộc Việt khi hiểu những “sức mạnh mềm,” với chữ viết và các định chế chính trị, luân lý, tư tưởng của nền văn minh Trung Hoa mà họ dùng để đồng hóa sau khi chinh phục. Họ đã Hán hóa bao nhiêu sắc dân khác sống ở phía Nam Trường Giang, còn gọi là sông Dương Tử; vùng đất trước đời Tần còn đứng ngoài Trung Quốc. Khác với tổ tiên người Việt, các nhóm dân cư miền Hoa Nam nay đã hoàn toàn hòa nhập vào một quốc gia với khối người Hán từ phương Bắc. Con cháu họ bây giờ tự nhận là người Hán, hãnh diện là thành phần của một quốc gia đông dân nhất thế giới, với một nền văn minh cổ và tồn tại liên tục nhất trong lịch sử nhân loại. Còn người Việt Nam thì nuôi niềm hãnh diện khác: Họ giữ được một quốc gia độc lập không chịu biến thành người Hán. Có người sẽ hỏi: Giữa hai con đường này, làm dân một nước nhỏ độc lập, hay làm dân của một nước lớn như Trung Quốc, con đường nào tốt hơn, nghĩa là giúp cho người dân sống yên lành, hạnh phúc hơn? Tổ tiên người Việt Nam chọn con đường độc lập vì đã gây nên ý thức dân tộc và quyết tâm tự chủ. Lựa chọn đó có thể gọi là “phúc ấm” do tổ tiên để lại, cho chúng ta bây giờ hãnh diện nhận mình vẫn là dân Việt.

Việc tìm hiểu các nhân duyên khiến dân tộc Việt Nam vẫn còn độc lập sẽ giúp chúng ta hiểu công trình của bao nhiêu thế hệ trước, sẽ biết ơn tổ tiên và tin tưởng ở tương lai dân tộc. Nếu sau một ngàn năm Bắc thuộc dân Việt vẫn tồn tại, thì bây giờ cũng không lo sẽ mất. Ðã không bị đồng hóa thành người Hán, tổ tiên chúng ta còn thu hút được các di dân từ miền Bắc tới học sống theo mình, trở thành người Việt. Chúng ta sẽ thấy biến chuyển quan trọng nhất trong thời Bắc thuộc không phải là hiện tượng người Việt chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa. Các nước khác ở Á Ðông không bị đô hộ ngày nào mà cũng vẫn tự nguyện tìm học những điều hay của nền văn minh đó. Ảnh hưởng Khổng Giáo trên nước ta không phải là một điều đáng ngạc nhiên. Nếu nước Việt Nam không bao giờ bị lệ thuộc người Hán thì chắc chắn tổ tiên chúng ta cũng vẫn tìm học; không khác gì các dân tộc Triều Tiên và Nhật Bản. Khổng Giáo chỉ được triều đình nhà Lê đề cao từ những thế kỷ 15.

Hiện tượng đáng kể nhất trong một ngàn năm Bắc thuộc là quá trình chuyển hóa các di dân người Trung Hoa sang nước ta, bắt đầu từ thế kỷ thứ nhất, họ đã dần dần hòa nhập vào khối người Việt ở địa phương; chính họ cũng góp phần bảo vệ và xây dựng nước Việt. Lâm Ngữ Ðường từng công nhận chính các di dân thuộc các sắc tộc “Rợ Hồ” từ phương Bắc tràn xuống vùng sông Hoàng Hà trong nhiều thế kỷ đã “góp máu,” giúp cho dân tộc Trung Hoa cường tráng, hùng mạnh gấp đôi. Người Hoa di dân sang nước ta trong một ngàn năm cũng đóng góp cho dân tộc Việt nhiều như vậy.

Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục làm người dân Việt, tiếp tục bảo vệ một nước Việt Nam?

Tìm hiểu niềm bí nhiệm đó, chúng ta càng thông được “cái nghị lực riêng và tính chất riêng” của tổ tiên mình, như Trần Trọng Kim nhận xét. Tổ tiên không những để lại một mảnh đất và một nền nếp văn hóa để chúng ta sống với nhau; mà còn để lại cả cái nghị lực và tính cách riêng mà họ đã nung nấu suốt ngàn năm Bắc thuộc.

Ngẫm nghĩ về lịch sử thời Bắc thuộc thì phải tin là nước Việt sẽ không bao giờ mất được. Ngàn năm trước đã không mất thì ngàn năm sau chắc chắn sẽ không mất. Ngàn năm trước, tổ tiên từng chịu đựng những áp lực lớn, nghĩ đã thấy rợn mình. Thế mà vẫn đứng vững. Bây giờ dân mình đông hơn, ý thức dân tộc vững chắc hơn, kinh nghiệm dày dạn hơn. Loài người bây giờ cũng văn minh hơn và liên đới chặt chẽ với nhau hơn, không để cho nước lớn hiếp nước nhỏ.

Hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa có thể sống bên nhau trong hòa bình và lòng tôn kính nếu nước Việt Nam vẫn giữ được chủ quyền của mình, không quá tùy thuộc vào Trung Quốc. Khi hai quốc gia đều sống trong dân chủ tự do thì những xung đột biên giới, biển, đảo, cũng sẽ được giải quyết một cách ôn hòa. Trên thế giới, chưa thấy hai quốc gia tự do dân chủ gây chiến tranh với nhau bao giờ. Vì khi người dân nắm quyền quyết định những việc quan trọng, thì bình thường họ sẽ thấy gây chiến tranh chỉ có hại, bên nào cũng bị thiệt. Trên quan điểm kinh tế, chiến tranh không bao giờ đạt được những lợi ích đủ lớn để bù lại những phí tổn phải chịu đựng. Hiện nay, bên cạnh nước Việt Nam cũng không phải chỉ có một cường quốc duy nhất, như thời Bà Trưng hay thời Ngô Quyền. Trên thế giới sẽ không còn nước lớn nào đi chiếm các nước nhỏ mà các nước khác đứng ngoài coi; vì quyền lợi kinh tế đều dính líu đến nhau.

Nước Việt Nam sẽ không bao giờ mất. Ðiều đáng lo không phải chỉ là mình còn được độc lập hay không. Ðáng lo hơn nữa là nước mình chậm tiến quá, trong khi những nước chung quanh, kể cả Trung Quốc, đang tiến rất nhanh. Ðáng lo hơn hết, là dù nước mình vẫn còn nhưng dân mình không đuổi kịp các nước trên thế giới về kinh tế, chính trị và cả văn hóa. Làm sao để kinh tế nước ta có thể tiến lên; để dân mình được sống tự do; để nền nếp đạo lý trong xã hội không tiếp tục suy đồi; để nước mình có thể so sánh ít nhất cũng ngang hàng với các nước đã phát triển vùng Á Ðông?

Nghiền ngẫm lại lịch sử ngàn năm Bắc thuộc chúng ta càng thấy rõ bổn phận của mình đối với các thế hệ tương lai.

Ngô Nhân Dụng
@nguoiviet

Friday, August 2, 2013

Mai Thảo



Thăm Thẳm Núi, Non.


Mỗi lần đi vào tiệm rượu quen của anh bạn Thuận trên đường Brookhurst, kiểm lại túi tiền, thấy cái túi bớt phần hiu quạnh, lần ấy tôi thường ở lại tiệm Thuận lâu hơn. Đi tà tà một vòng qua những kệ rượu, trên vai kề vai cả ngàn nhãn hiệu danh tiếng của mọi vùng trời Lưu Linh thế giới. Chọn cho mình một chai “xuất sắc” hơn thứ uống khiêm nhượng hàng ngày.
 
Chọn. Chọn rượu - mấy vị làm thơ tình Nguyên Sa, Du Tử Lê cả đời chanh đường, xá xị chắc ở ngoài vấn nạn văn chương này - là cả một nghệ thuật, không phải chuyện rỡn. Nhất là chọn được rượu hay còn hợp với túi tiền. Dễ như anh chàng “Johnny Đi Bộ” ngày trước cả nước Saigòn cùng uống, cũng phải phân biệt. Sư phụ Johnny “cổ đen,” nhãn ghi đầy đủ mười hai năm bế môn luyện kiếm, chất men dịu, đằm cùng năm tháng, một vực trời hơn đệ tử Johnny “cổ đỏ” còn trẻ thơ tuổi ngọc tuổi vàng. Đến “Cognac” đã khó hơn một bậc. Có chai trong, có chai mờ. Cái nhãn “VS” cấp thấp lên dần tới Tỉnh Ủy “OP,” tới chót vót đỉnh Giải Xanh, Giải Bạc. Rồi tới Chát đỏ, còn phức tạp và kinh điển hơn nữa. Rượu chọn theo tuổi rượu, còn trên nơi chốn chào đời, trên mùa rượu xấu, tốt. Cùng một ngọn đồi Côte du Rhône, sườn đồi đông nhiều mặt trời, vị nho đã khác với đồi tây không nắng. Mỗi năm nho cũng một khác. Năm được mùa, nhờ thời tiết và mưa nắng thuận hòa, chưa cần ngon vì nấu, cất, rượu đã ngon từ trên cành ngon đi.
 
Vắn tắt, phải có thời gian, phải có năm tháng. Chưa tới được trưởng thành những đời người chưa đủ số nếm sinh nhật. Rượu ngon hệt vậy. Muốn xuất sắc phải một rừng nến thắp, đừng một ngọn đã cắt liền bánh ăn. Thâm niên, có quá khứ, rượu ngon hơn bội phần nhờ thời gian là người thợ hoàn chỉnh siêu việt, biến được rượu từ trạng thái khởi đầu xóc gắt tới cái trạng thái gấm nhung đậm đà, ông Lý Bạch uống một hớp uống cả nỗi buồn vạn cổ, cụ Tản Đà làm một tợp, thấy cả “nước đi đi mãi không về cùng non!” Trong “Chùa Đàn,” Nguyễn Tuân đã dành nhiều trang yêu ngôn để tả cái ngon tuyệt vời của hai nhãn rượu huyền thoại. Một là “Vô Cố Nhân”, một là “Ức Sầu Viên.” Rượu do thiên tài Út Lãnh cất riêng cho chủ, đã tới tột đỉnh của bí truyền mà chưa thể uống ngay, trong cánh rừng Mê Thảo còn phải đủ chín tháng mười ngày hạ thổ. Thời gian đất, nước phải tới tuần, trăng phải tới vận mới đúng. Nóng là không được. Phải chờ. Phải chờ mới có XO; mới có Giải Bạc, mới có Ức Sầu Viên. 
 
Là tửu đồ đời sau, tôi yêu lắm hai câu thơ tuyệt tác của Tản Đà, tửu đồ đời trước:
 
"Trăm năm thơ túi rượu vò
“Ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai.”
 
Yêu cái nhịp lục bát lồng lộng. Còn yêu cái ý thời gian được nói trong thơ. Trăm năm thơ - ngàn năm rượu. Lâu chưa. Ghê chưa. Trăm năm, ngàn năm cả, chốc lát, chỉ là chữ và giấy mất tích, cái chất men làm cho nhức đầu. Suy diễn thêm, thấy đích thực thơ hay và rượu ngon, trong cùng một tiêu chuẩn, rượu và thơ hay từ cùng một chân lý. Phải mùa tốt trước đã. Mùa xấu, trái nho gầy, chế biến giỏi mấy cũng chỉ một thứ vin de table. Nho trồng trên ngọn đồi tâm hồn thi sĩ cũng vậy. Xấu từ mùa từ gốc, mỹ viện cho thơ cách nào cũng không hóa trang được cái chất thơ dở thành hàng châu ngọc, đem dự thi Hoa Hậu Long Beach, rớt từ vòng đầu là tự nhiên thôi.
 
Quan yếu hơn hết là yếu tố thời gian. Tôi gọi thời gian này là thời gian hạ thổ của thơ, là Cõi Thơ Bên Trong. Thơ trong đầu, trong tâm, thơ chưa thành tiếng thành lời, chính là cái mùa nho xấu hoặc tốt của từng thi sĩ. Địa hạt tiểu thuyết gọi đó là khoảng cách. Thiếu khoảng cách, tầm mắt chỉ nhìn thấy một phiến lá không thấy được toàn thể cánh rừng. Khoảng cách, trọng lượng, chiều sâu, gọi là gì cũng là thời gian cả. Thiếu thời gian là những cõi thơ thiếu tháng, đủ thời gian thơ là Vô Cố Nhân chín tháng mười ngày. Quy luật ấy của đời sống cũng là quy luật thơ. Từ những mạch nước dồn đẩy mới có con suối thủy tinh. Lúa mẩy hạt từ mạ lực lưỡng. Phải cả một mùa nắng mới có kết tinh của đường của mật, và một trăm đêm sương mới có một bình minh hoa nở đầy cành. Đó là vận trình của thơ đi tới thơ hay. Vận trình đó bao giờ cũng thấy ở những tài thơ lớn. 
 
Nhận định về người thơ và tiến trình của thơ hắn với chính hắn, thì thời gian gần đây Du Tử Lê làm thơ hay, có nhiều thơ hay, trong cái nhìn của tôi và như phiếm luận nhỏ về rượu ở trên về rượu, trước hết là bởi trên ngọn đồi Côte du Rhône ở Ranchero Way, nhà thơ vừa có một năm nho, một mùa nho đặc biệt. Rồi cất, nấu cũng tinh xảo hơn. Rồi hạ thổ nữa, đầy đủ tháng ngày. Những bài tôi yêu và cho là xuất sắc nhất trong “Love Poems” cho thấy rõ vậy. Rằng có thể vẫn trong dòng rung động trữ tình của những bài thơ đã làm trong quá khứ – tính chất đồng nhất của tác phẩm là bản thể bất biến của thi sĩ – nhưng chất thơ của thi sĩ bây giờ mới thật sự và hoàn toàn loại bỏ được cái xóc, cái gắt để chỉ còn cái đằm, cái đằm trong dáng điệu của bài thơ và hình ảnh của lời thơ. Rằng hầm rượu dưới đất, bông hồng trong tuyết, cõi thơ bên trong, con tầm và tơ vàng, cái chai mờ trong tiệm rượu của Thuận, một tiến trình đã viên mãn tới bến. Rằng thơ đã có “hương thời gian tím ngát” – Thơ còn có “màu thời gian thanh thanh” và thơ hay. 
 
“tôi ngồi trong cõi tôi, riêng
“bên trong ghế lạnh, ngoài hiên bóng, rời
“phòng tôi trần thiết gương người
“tường sơn kỷ niệm, vách bồi dáng xưa
“tóc người chảy suốt cơn mưa
“ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão, về...”
 
Thấy chưa, thời gian. Ngồi thiệt lâu đấy. Không đứng ngay lên ngay. Ngồi kỹ. Tới ghế lạnh đi, bóng rời đi kia mà. Tới “ngực thơm hoa bưởi, môi đưa bão về” “vưỡn” cứ còn ngồi kia mà. Bởi thế thơ có “tháng tám về rất lạ,” có “tháng chín” nắng về còn kỳ lạ hơn nữa. Bởi thế có thơ hình người trong gương, dáng người trên tường, lấp lánh thật nhiều hình tượng sinh động trong căn phòng tâm hồn đó mà Du Tử Lê gọi chung là “Cõi Tôi Riêng.”  
 
“em về thăm thẳm núi, non
“hồn sông, lòng suối, thịt, xương chốn nào
“mai quên nhau, mất lời chào
“hôm nay chăn, gối vẫn ngào ngạt hương...”
 
Đêm ra mắt “Thơ Tình” ở Lup, tôi cũng có dưới gầm bàn một chai mờ. Bèn cùng Hoàng Anh Tuấn làm một ly cho “thăm thẳm núi, non,” cho “môi đưa bão về.” Rồi lên đọc mấy câu thơ trên của “Thơ Tình.” Được lắm. Thấy là hồn sông, lòng suối. Thấy là vách bồi dáng xưa. Thấy là tường sơn kỷ niệm. Thấy là thăm thẳm núi, non.
 
Mai Thảo
1-1985.
(Tuần báo Tay Phải, 31-1-85 / Sưu tập của Trần Duy Đức.)

Thursday, August 1, 2013

Living

Bia và những cuộc...cách mạng


Bia có tầm quan trọng sống còn đối với người dân Đức trong vùng Bavaria. Nó được liệt vào hàng lương thực thực phẩm (đóng thuế ít hơn), tức là thuộc vào loại thiết yếu, không thể thiếu được trong cuộc sống hàng ngày.

Bia có một truyền thống lâu đời ở đây. Ngay từ năm 1040, thứ nước nấu từ lúa mạch này đã là vị ngọt trong cuộc sống thanh đạm của các tu sĩ dòng Thánh Biển Đức ở tu viện Weihenstephan gần München (Munich). Ở vùng này, bốn mùa trong năm không quan trọng, mà quan trọng là mùa bia nặng, mùa vườn bia và "mùa" Lễ hội tháng Mười.


Vườn bia München. Tranh của Max Liebermann, 1884.

Truyền thống mùa bia nặng của Đức bắt đầu từ năm 1651. Lúc đó là đang mùa Chay, các tu sĩ của dòng tu Anh Em Rất Hèn Mọn cảm thấy sức lực đã kiệt quệ. Vì vậy mà hầu tước Ferdinand Maria của vùng Bayern đã cho phép họ nấu một thứ "bánh mì nước" đặc biệt, có nhiều chất dinh dưỡng: một loại bia màu nâu, có khoảng 7-8% nồng độ cồn. Họ gọi loại bia đó là Salvator tức là Đấng Cứu Thế và chẳng bao lâu sau đó cũng bắt đầu bán loại bia này. Thương hiệu này còn tồn tại cho tới ngày hôm nay.

Còn mùa vườn bia thì thường hay được bắt đầu ngay từ những ngày ấm áp của tháng Hai và kéo dài cho đến cuối tháng Mười Một. Vườn bia xuất phát từ quy định nấu bia của xứ Bayern (Bavaria) năm 1539. Người ta chỉ cho phép nấu bia từ 29 tháng Chín (Lễ Thiên thần Michael) cho tới ngày 23 tháng Tư (Lễ thánh George). Mùa hè cấm nấu bia vì dễ gây ra hỏa hoạn. Thế là để có thể giữ được hơi lạnh trong hầm trữ bia vào mùa hè, các hãng nấu bia thường rãi sỏi trên nóc hầm và trồng cây dẻ cho nhiều bóng mát. Rồi Vua Ludwig I (1786-1868) của xứ Bayern (Bavaria) cho phép các hãng nấu bia được phép bán bia ở ngay tại nơi sản xuất, nhưng không được phép bán thức ăn để bảo vệ các quán ăn. Lệnh cấm của nhà vua ngày nay tất nhiên là không còn nữa, nhưng truyền thống tự mang theo thức ăn theo thì vẫn còn tồn tại. Một vườn bia mà trên nguyên tắc cấm không cho ăn thức ăn mang theo thì thật ra chỉ là một "quán vườn". 

 
Vườn bia Hofbräukeller ở München. Ảnh: Wikipedia

Vì bia mà dân München đã … từng làm cách mạng, và không chỉ một lần. Vào ngày 1 tháng Ba năm 1844, vua Ludwig I ra lệnh nâng giá bia (do chính phủ Bayern quy định) lên thêm một xu. Ngay trong chiều tối ngày hôm đó, hàng ngàn người dân trong thủ đô München đã nổi dậy đập phá tan tành các hãng nấu bia trong thành phố. Quân đội được gọi tới đã bất tuân mệnh lệnh, không tiến hành đàn áp những người nổi dậy. Thế là đến ngày 5 tháng Ba, vua đã phải nhượng bộ, rút lại lệnh tăng giá. Không những thế, đến tháng Mười ông còn buộc hãng bia Hofbräuhaus phải hạ giá bia xuống thêm một xu, "để cho giới quân đội và giai cấp công nhân có được thức uống bổ dưỡng và ngon lành."

Rồi trong năm 1995, trong một vụ kiện cáo dân sự, Tòa án trung thẩm bang Bayern tuyên án quy định một vườn bia ở khu Pullach thuộc München phải đóng cửa vào lúc 21 giờ 30 để bảo vệ người dân chung quanh đó trước sự ồn ào. Thế là vào ngày 12 tháng Năm năm 1995, tròn 25.000 người München đã xuống đường biều tình, yêu cầu bảo toàn văn hóa vườn bia. Ngay trong tuần sau đó, chính phủ Bayern đã phải ra Quy định Vườn Bia Bayern, cho phép mở cửa tới 23 giờ. Cuộc "cách mạng" này đã được giới truyền thông tặng cho danh hiệu "Cách mạng Vườn Bia".

Nhưng bây giờ quán bia nào là nguyên thủy nhất ở München? Gần Quảng trường Stachus ở đầu khu dành riêng cho người đi bộ ở München, cách nhà ga chính không xa là quán Augustinerkeller đầy quyến rũ trên đường Arnulf (Arnulfstraße). Quán này được xem là biểu tượng của vườn bia München. Có cây dẻ cho bóng râm, có bia từ thùng gỗ và cá khô nướng: Ở đây mọi thứ đều đúng như truyền thống và dân sành điệu chỉ gọi thêm vại bia khi người ta rung chuông báo hiệu đổi thùng bia mới. Cũng có tàu điện chạy qua đường Arnulf tới quán Hirschgarten ở công viên cùng tên rộng 40 hecta. Ở đây có chỗ cho 8000 người "khát nước", và người ta cho rằng đó là vườn bia lớn nhất thế giới. (Nên chăng đi thăm Lâu đài Nymphenburg ở gần đó trước khi uống vài vại bia giải khát?) Ở ngoài München một chút có quán Menterschwaige trong khu Harlaching, nơi Vua Ludwig I đã từng lui tới uống bia và cũng là nơi cư ngụ của Lola Montez, người tình trẻ trung của vua.



Quán Hofbräuhaus nổi tiếng thế giới ở München. Ảnh: Wikipedia
 
Nhưng chắc chắn là phải vào quán bia Hofbräuhaus am Platzl nổi tiếng thế giới nằm trong khu vực dành riêng cho người đi bộ của München. Quán này xưa là hãng nấu bia cho hoàng cung xứ Bayern, do Công tước Wilhelm V cho xây năm 1589.  Mãi đến năm 1896, do lượng du khách đến ngày càng đông nên Hoàng tử nhiếp chính Luitpold (1821-1912) mới cho dọn xưởng nấu bia sang nơi khác để mở rộng diện tích quán. Và rồi làm sao mà tiếng tăm của nó lan truyền đi khắp thế giới với vận tốc chóng mặt như vậy thì cho tới nay vẫn còn là câu hỏi triệu đô không có lời giải đáp của giới chuyên tiếp thị. Vào thời Cộng hòa Xô viết Munich, Hội đồng Công nhân và Quân nhân đã tuyên bố thành lập Cộng hòa Xô viết Cộng sản vào ngày 13 tháng 4 năm 1919 ở trong quán này. Đảng Đức Quốc Xã của Hitler cũng được tuyên bố thành lập ở đây vào ngày 24 tháng 2 năm 1920. Năm 1901, Lênin cũng đã bị tát tai ở đây vì sàm sỡ với một cô phục vụ có tính tình cứng rắn. 

Sau một ngày dài du lịch, vườn bia thơ mộng  của quán này có thể là nơi nghỉ chân yên tịnh. Còn nếu thích sự ồn ào náo nhiệt vui vẻ thì có thể vào ngồi trong gian "Schwemme" có đủ chỗ cho 1300 người ngồi nhậu. Cheers!
 
Phan Ba