Wednesday, June 10, 2009

Thơ Hoàng Quy


Về cùng anh em bé Hải Lăng ơi!

Về cùng anh em bé Hải Lăng ơi!
Xuân đã sang rồi
Dẫu phá Tam Giang lưới phơi chưa đầy bến
Chợ Sải phiên mai còn thiếu bao người
Rặng nhãn bờ sông lỡ làng một lứa
Đồng Triệu Phong bỏ vụ tháng mười
Dẫu mắt hỏa châu vẫn còn thao thức
Sau từng chiều vơi
Dẫu đất Hải Lăng chưa mờ vết nám
Người Hải Lăng còn tản mác những phương trời
Và cho dẫu đâu đây bóng dơi còn chập choạng
Lưỡi lê khua sắc rợn quỉ ma cười...

Nhưng em cứ về, về cùng anh hỡi bé
Lớn bước trên đường số Một mà đi
Những đụn cát trải dài, em chớ ngại ngùng chi
Anh đã dọn hết chông, mìn, ụ phaó
Như cánh gió Lào trườn qua rừng Lao Bảo
Mùa Hè dài nung bỏng đất quê ta
Đã tắt rồi em - Gió Xuân thổi hiền hòa
Giặc tan rồi em - Hãy cùng nhau trở lại

Về theo em - Mẹ già ơi có phải
Bà mẹ già khốn khổ sớm mai kia?
Áo rách, chân run, nước mắt đầm đìa
Không chôn kịp người con trai duy nhất
Đại đội con đang nương theo bờ đất
Cũng đành thôi trong thế một chống mười!
Mẹ dừng chân với cả mấy trăm người
-Đâu nỡ bỏ lính mình đơn độc chết?!!
-Không! Không được! Xin bà con chạy hết
Bọn giặc này đâu kể lính hay dân?
Vào phương Nam là cái chết xa dần
(Dân với lính quên đạn lùa pháo chụp
Phút lưu luyến giữa sa trường lửa rực
Dòng sử nào ghi nổi, Hải Lăng ơi!!! )
Mẹ vuốt lưng con - nước mắt nghẹn lời
-Ráng ở lại mà ngăn thù con hỉ!
Lạy Trời Phật độ trì cho chiến sĩ
Nhờ các con, mẹ gởi Hải Lăng ni...

Giặc tràn lên - Tăng rú - Pháo ầm ì
Dồn hỏa lực quét vào dân chạy loạn
Già trẻ gục, xác tơi bời dấu đạn
Sau lưng con la liệt những thây người!
Giặc phục bên đường bắn mãi không thôi
Đồng mông quạnh biết nơi nào ẩn náu?
Con đứng thẳng cắn vành môi bật maú
Nòng súng rung, tê buốt ngón tay cò
Hơn trăm người cùng đứng dậy hô to:
-Khóa súng giặc cứu đồng bào khỏi chết
Cả đại đội vụt ào lên, súng quét
Làm con đê xương thịt cản tăng thù
Để phía sau trong màn khói mịt mù
Bà con được xa rời vùng đất lửa
Chiến công ấy, đoàn quân nào dám hứa
Khi chúng con trong thế một chống mười...

Em bé Hải Lăng ơi!
Có phải em - Cậu học sinh bửa đó
Pháo địch tung nằm ngất bên đường
Đại đội anh đã tận tình chăm sóc
Rồi gởi vô bằng xe cứu thương?!!
Bao nhiêu bạn em không còn trở lại
Bao nhiêu mầm non rụi giữa sa trường!!!

Mà thôi kể làm chi thêm buồn hỡi bé
Xuân đã sang rồi
Vườn nhà em nỡ mấy nhánh hoa tươi
trên nhánh mai nào còn sót lại
Đóa hoa quí - Em về hãy haí
Quà Hải Lăng Xuân thứ nhất hồi sinh
Tặng bất cứ ai mang màu áo như anh
Những người lính mấy trăm ngày đội pháo
Để hôm nay quê nghèo tan gió bão
Trải niềm vui trên chót vót Cổ Thành
Cờ ta bay lồng lộng gió Xuân xanh...


Hoàng Quy
1972

Nguồn levanduyet.com

Tuesday, June 9, 2009

Saigon xưa


Logo bia rượu và thuốc lá Saigon 1955-1975





Source saigon.vietnam.free.fr

Victor Hugo


Saison des semailles, le soir

video le semeur

C'est le moment crépusculaire.
J'admire, assis sous un portail,
Ce reste de jour dont s'éclaire
La dernière heure du travail.

Dans les terres, de nuit baignées,
Je contemple, ému, les haillons
D'un vieillard qui jette à poignées
La moisson future aux sillons.

Sa haute silhouette noire
Domine les profonds labours.
On sent à quel point il doit croire
A la fuite utile des jours.

Il marche clans la plaine immense,
Va, vient, lance la graine au loin,
Rouvre sa main, et recommence,
Et je médite, obscur témoin,

Pendant que, déployant ses voiles,
L'ombre, où se mêle une rumeur,
Semble élargir jusqu'aux étoiles
Le geste auguste du semeur.

Victor Hugo

Source
victor-hugo.info
A la suite:

Monday, June 8, 2009

Họa sĩ Nguyễn Gia Trí


Tranh Nguyễn Gia Trí











Họa sĩ Nguyễn Gia Trí(1908-1993) - Chân dung Nhất Linh










Bến phi lao Sầm Sơn (1940 - sơn mài) - Đám cưới nhà quê












Thiếu nữ bên hoa phù dung - Thiếu nữ trong vườn

Đọc thêm :
buixuanphai.com
artistphuong

Sunday, June 7, 2009

Nguyễn Văn Vĩnh


Chữ Quốc-ngữ
(le Quốc-ngữ)

Lời thưa cuả người thực hiện: chúng tôi dựa trên bản chụp lại và cố gắng sao chép đúng với nguyên bản. Cứ theo luật lệ chính tả và văn phạm ngày nay thì bài văn có nhiều chỗ sai, nhất là ở các cặp chữ s/x, ch/tr, gi/r/d, và những chỗ chấm, phẩy và viết hoa. Không rõ những chỗ sai này do cụ Vĩnh lầm, hay do hồi đó chưa có luật lệ rõ rệt, hoặc gỉa cụ Vĩnh chủ trương viết theo cách phát âm cuả mình; vấn đề này mong được các học gỉa nghiên cứu làm sáng tỏ. Riêng chúng tôi khi thực hiện chỉ mong thấy sao chép vậy, vì chúng tôi quan niệm những bài viết này, ra đời cách nay trên dưới 100 năm, vào thời kỳ phôi thai cuả Việt ngữ, nên mang ít nhiều tính chất lịch sử. Ở trên chúng tôi nói cố gắng giũ đúng nguyên bản vì chúng tôi chỉ có bản chụp; bản chính được hình thành cách nay non một thế kỷ, vào lúc kỹ nghệ in ấn và giấy mực còn thô sơ, rồi tài liệu đuợc lưu trữ gần một thế kỷ nên ngay bản chính cũng đã mờ nhạt; nay chúng tôi có bản chụp cuả bản mờ nhạt nên không tránh khỏi có những chỗ không thể nào phân biệt được chữ gì, dù đã dùng đến kính phóng đại. Trong trường hợp đó, chúng tôi chỉ còn cách dựa trên ngữ cảnh mà đoán.
Hiện chúng tôi đang sưu tầm thêm những tài liệu về cụ Nguyễn Văn Vĩnh, quý vị nào có xin vui lòng liên lạc nguyenhongphuc54@yahoo.com . Xin đa tạ
Kính báo

Chữ quốc-ngữ tuy rằng có mấy nơi khuyết-điểm, có mấy chỗ không-tiện, song tỉ với chữ-nôm ta, và chữ-nho thì thực là một lối tiện quá rồi, cho nên ai cũng đành rằng cứ nên để y như vậy mà dùng.
Mấy năm nay có người bàn cách sửa đổi chữ quốc-ngữ cho phải lẽ, nhưng mà chẳng lý nào bằng thói-quen cuả người ta, cho nên tuy đã có nghị-định y lời Kuốk-ngữ tân-thứk, mà không ai chiụ theo, tân-thứk lại mang tiếng oan rằng khéo vẽ vời cho nhiễu-sự.

Nay bản-quán lấy việc cổ-động cho chữ quốc-ngữ làm chủ-nghĩa, tưởng cũng nên đem hết cảc khuyết-điểm, các nơi không tiện ra mà bàn lại, chẳng dám đem cách nào mới mà xin thế vào lối cũ, sợ thiên-hạ lại bảo vẽ vời, song cũng nên bàn các nơi bất-tiện ra để ai nấy lưu-tâm vào đó, thì dễ có ngày tự-dưng chẳng phải ai bàn mà chữ quốc-ngữ tự đổi dần dần đi.

Trước hết chữ quốc-ngữ không biết bởi ai mà thành ra, nhưng quyết được rằng những người dùng đầu-tiên, không phải là người Đại-pháp. Ý hẳn là bởi mấy ông cố-đạo Bồ-đào-nha đến đất Nam-kỳ từ đầu XVII thế-kỷ, cho nên nhiều vần không giống vần Đại-pháp. Sự ấy đến ngày nay thành ra khuyết-điểm. Vì gía thử chữ quốc-ngữ đặt theo vần Lang-sa, thì người học chữ quốc-ngữ vừa học được vần Lang-sa nhân thể mà trong vần quốc-ngữ gía có lộn tiếng Lang-sa vào, cứ viết theo cách Lang-sa ai ai cũng đọc được. Chẳng may vần Lang-sa khác, cho nên những tiếng Lang-sa viết lộn vào văn quốc-ngữ, như là các tên người, tên các xứ, những tiếng chỏ các thứ đồ vật ta không có tên, phải dùng tiếng tây, thì không mấy người đọc được, muốn cho người ta đọc được, lại phải dịch vần Lang-sa ra vần quốc-ngữ, nghe nó ngô nghê khó chịu quá mà lại sai mất cả cách viết, mà trong tiếng Lang-sa thì cách viết là một điều quan-hệ, như chữ l'on (là người ta) mà dịch ra vần quốc ngữ là long thì có lẽ lẫn với tiếng long (là dài), thì khác nào chữ nho viết lẫn với chữ chi (1 chữ nho*) ra chữ chi (1 chữ nho**).
Ví thử vần quốc-ngữ mà đặt theo vần Lang-sa thì có lẽ tránh được cái phiền phải đặt hai chữ mới như chữ đ và chữ ơ. Chữ u Lang-sa thì đáng lẽ dùng tạm làm chữ ư quốc ngữ còn chữ u quốc ngữ thì vần tây viết ou.
Nghe đâu có mấy ông Tây dùng lối vần tây mà viết tiếng an-nam, chỉ thêm 5 dấu, thế mà dạy các qúy-quan học tiếng ta tiện lắm.

Tôi ước ao rằng một ngày kia sẩy ra một lẽ gì làm cho lối mượn vần tây ấy thành ra lối quốc-ngữ teune thúque thực diệu. Chỉ ước thế chứ không dám bàn, vì một lối chữ đặt ra lúc nào không ai biết được, vì cớ gì mà theo lệ nào cũng không phòng định được, lúc tự-dưng nó đổi đi, xong rồi mới biết được nhẽ tại làm sao, chớ ai có nên bàn cái thể thức một lối chữ, một tiếng nói, một văn- chương.
Còn như chữ quốc-ngữ có mấy điều người Bắc-kỳ ta tưởng rằng bất-tiện nhưng tôi đã nghiệm ra ở Trung-kỳ và ở Nam-kỳ thì thực là nên để như vậy.

Như những tiếng nên viết ch hay là tr ngoài Bắc ta thì không phân biệt chút nào, nhưng ở Nam-kỳ thì thật có phân biệt. Như con trâu mà viết thành châu ( hạt châu) thì người Nam-kỳ không hiểu. Xét kỹ ra, thì sự phân biệt ấy có chữ quốc-ngữ rồi mới phân biệt, chứ không phải vốn vẫn phân biệt. Nghĩa là ngày xưa trong cách đọc cũng có mấy cách đọc ch không uốn lưỡi với một cách đọc nặng tr, nhưng mà cách đọc khác nhau ấy không làm cho một tiếng khác nghĩa đi. Về sau có chữ quốc-ngữ rồi, đặt thành tự-vị, thì người sau theo người trước, mà lấy cái tình cờ làm ra một cái lệ, đến ngày nay quen mắt quen tai đi rồi, người nông nổi tưởng là vốn tiếng Nam-kỳ ngày xưa con trâu phải đọc nặng mà hạt châu phải đọc nhẹ. Việc này tôi đã thí nghiệm ở người không biết chữ quốc-ngữ thì thực họ không phân chỉ có mấy người biết chữ quốc-ngữ thì cho cách phân biệt ấy là một cách cuả người có học. Sự này tôi đã có ý nghiệm từ Thanh-hoá vô tới Quảng-nam và ở Sài-gòn.

Còn như chữ s với chữ x thì cũng vậy. Ngoài Bắc với trong Trung-kỳ thực không phân. Còn Nam-kỳ thì bảo chữ s phải đọc uốn lưỡi như chữ ch tây, còn chữ x thì đọc như chữ s tây.
Chữ gi chữ d, chữ r thì ở Bắc-kỳ ta không phân, còn ở Nam-kỳ và Trung-kỳ phân biệt được chắc chữ r mà thôi, còn d với gi cũng đọc như chữ y***, mà không mấy người biết chắc được tiếng nào đáng viết d hay gi.

Xét ra những cách phân biệt đó, tuy là có quốc-ngữ rồi mới sinh ra, (trừ ra chữ r thì nguyên bao giờ Trung-kỳ với Nam-kỳ cũng vẫn có) nhưng mà tưởng những cách phân-biệt ấy cũng làm cho tiếng an-nam thêm rõ ra được một đôi chút. Bây giờ ta cứ cho như vốn vẫn có cũng chẳng sao, mà những người dùng chữ quốc-ngữ sau cũng nên theo người dùng chữ quốc-ngữ trước.

Trong cách hai xứ đàng trong đàng ngoài dùng chữ quốc-ngữ, lại còn một điều ngộ nữa, là đàng ngoài ta thì không phân biệt khai-khẩu âm, như d, gi, r, ch, tr, mà đàng trong thì lại hay lẫn bộ khẩu-âm.
Như can thì người Nam-kỳ hay đọc lầm viết lầm ra cang, mà có chữ phải viết có chữ g, (giọng muĩ) về sau người Nam-kỳ lại yên trí rằng an đọc là ang thì bỏ chữ g đi. Như trong sách quốc ngữ Sài-gòn, nhiều chữ phang kế viết là phan kế; kính trình chư vị đặng tàn, (tàn Bắc-kỳ ta là tường đáng lẽ phải viết là tàng). Khách sạn, trong ấy viết khách sạng.
Tài sắc, viết lẫn là tài sắt.
Mà sắt đanh thì lại viết lộn là sắc đanh.

Bao nhiêu tiếng mũi dài, Nam-kỳ theo cách đọc sai, viết ra tiếng vắn: Như cái hình viết theo cách đọc ra hìn, khánh viết là khán.
Trong vần Nam-kỳ có mấy vần ngoài Bắc ta không có, như vần uơ (thuở) uơi (thuới) uơn (nguơn) uơt (duợt y). Ngoài ta thì bốn tiếng ấy đọc và viết thủa, thoái, nguyên, duyệt.
Vì chữ quốc-ngữ ở Nam-kỳ trước lại còn khuyết mất mấy vần đáng lẽ quốc-ngữ có đủ mà hoá ra không có. Như tiếng bong (chuông kêu) đáng lẽ viết bong, mà hoá ra không được vì bong đọc là bong (vần phong). Chính lẽ thì bong là bong–ra phải viết bonh, mà bong thì là tiếng chuông kêu; ông đáng lẽ phải viết ônh. Ong thì đọc phải lẽ.
Đó là mấy nơi khuyết tưởng nên nhớ mà đợi khi nào có dịp thì sửa đi.
Dịp ấy là dịp nào, không ai nói được.

V. ****.
Chú thích: * và ** : 2 chữ nho mà chúng tôi chưa biết cách đánh máy vào văn bản này. Tra Hán Việt Tự Điển của Nguyễn Văn Khôn thì chữ nho thứ nhất đọc là chi và có nghĩa là đi, đấy. Chữ nho thứ hai viết khác nét nhưng cũng đọc là chi và có nghĩa là chống đỡ.
*** Đáng lẽ phải là d hay gi thì đúng hơn.
**** Chữ ký tắt của cụ Nguyễn Văn Vĩnh.


(trích Đông dương tạp chí số 33)
Nguyễn Văn Phổ và Nguyễn Kỳ sưu tầm.
Nguyễn Nga Mỹ đánh máy theo bản chụp lai.

Hình trên Ông Nguyễn Văn Vĩnh

Chú thích thêm:
-chữ chi
*之 (3 nét),nghĩa là đi,đấy.
- chữ chi **支 (4 nét),nghĩa là chống đở.
(diendan chú thích thêm)

Saturday, June 6, 2009

Thơ Cao Bá Quát


沙 行 短 歌

長 沙 復 長 沙,
一 步 一 回 卻。
日 入 行 未 已,
客 子 淚 交 落。
君 不 學 仙 家 美 睡 翁,
登 山 涉 水 怨 何 窮。
古 來 名 利 人,
奔 走 路 途 中。
風 前 酒 店 有 美 酒,
醒 者 常 少 醉 者 同。
長 沙 長 沙 奈 渠 何,
坦 路 茫 茫 畏 路 多。
聽 我 一 倡 窮 途 歌。
北 山 之北 山 萬 疊,
南 山 之 南 波 萬 級,
君 胡 為 乎 沙 上 立。

高 伯 适

Sa hành đoản ca

Trường sa phục trường sa,
Nhất bộ nhất hồi khước.
Nhật nhập hành vị dĩ,
Khách tử lệ giao lạc.
Quân bất học tiên gia mỹ thuỵ ông ,
Đăng sơn thiệp thuỷ oán hà cùng.
Cổ lai danh lợi nhân,
Bôn tẩu lộ đồ trung.
Phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu,
Tỉnh giả thường thiểu, tuý giả đồng.
Trường sa, trường sa, nại cừ hà?
Thản lộ mang mang uý lộ đa.
Thính ngã nhất xướng cùng đồ ca.
Bắc sơn chi bắc, sơn vạn điệp,
Nam sơn chi nam, ba vạn cấp,
Quân hồ vi hồ sa thượng lập?

Bài ca đi trên cát

Bãi cát, bãi cát dài!
Mỗi bước lại như lùi.
Mặt trời đã lặn đi chưa nghỉ,
Khách bộ hành nước mắt tuôn rơi!
Không học được tiên ông phép ngủ,
Trèo non, lội suối, giận không nguôi.
Xưa nay phường danh lợi,
Bôn tẩu trên đường đời.
Gió thoảng hơi men trong quán rượu,
Say cả, hỏi tỉnh được mấy người?
Bãi cát, bãi cát, ngao ngán lòng,
Đường phẳng mờ mịt, đường hiểm vô cùng!
Nghe ta ca "cùng đồ" một khúc!
Phía bắc núi Bắc, núi muôn lớp!
Phía nam núi Nam, sóng muôn đợt!
Sao mình anh còn trơ lại trên bãi cát?

HUỆ CHI dịch

Nguồn thivien.net

Friday, June 5, 2009

Thơ Bùi Kim Anh


Củ rồi còn vương

Ngồi buồn giở lục bát chơi
Đếm trong câu sáu hạt cười giòn tan

Câu tám hắt dọc hắt ngang

Một cơn lũ hắt cả làng thành sông

Mênh mang cùng với mênh mông
Ruộng không còn nữa biết trông nơi nào

Trông cỏ thời cỏ mọc cao
Trông lúa thời rũ trông sao thời mờ

Phận nghèo chiếc lá xác xơ
Chờ cơn nắng mới như chờ thần tiên

Câu sáu cười ngả cười nghiêng
Câu tám ngồi gục dưới thềm mà lo

Nhà nông bán đất trời cho
Thiên hạ mua đất bán cho ông trời

Cũng là quanh quẩn vậy thôi
Như câu lục bát cũ rồi còn vương

BÙI KIM ANH