Sunday, March 7, 2010

Nguyễn Lương Hải Khôi


Trung Quốc trong mắt Nhật Bản :
Cách nhìn tạo ra số phận

Nếu như lịch sử hiện đại của các nước Đông Á (Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản) là lịch sử quan hệ với Phương Tây, thì trong các thời kỳ tiền hiện đại, lịch sử của Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản là lịch sử của mối quan hệ với Trung Quốc.

Trong thời đại ngày nay, khi Trung Quốc đang ôm tham vọng giành lại vị trí lịch sử đặc biệt trước đây. Để định vị chính mình, Việt Nam không thể không định vị Trung Quốc. Chúng ta hãy thử nhìn lại lịch sử, tham chiếu Nhật Bản, một nước cũng là láng giềng Trung Quốc như Việt Nam, nền văn minh cũng sinh sau đẻ muộn như Việt Nam, và quy mô quốc gia cũng nhỏ bé như Việt Nam, đã định vị Trung Quốc như thế nào trong một bối cảnh lịch sử tương tự như Việt Nam.

Trung Quốc không phải là "thiên triều"

Nước ta suốt nghìn năm, mỗi khi Trung Quốc xâm lăng thì ngoan cường tuyên bố Nam quốc sơn hà Nam đế cư, nhưng thắng họ rồi thì lại đều đặn triều cống, các Vua mỗi khi lên ngôi thì luôn xin “thiên triều” phong tước, tự coi mình là nước nằm trong vòng ảnh hưởng của Trung Quốc.

Trong con mắt Nhật Bản, Trung Quốc không may mắn có cái vị trí ấy. Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. Ngay trong bức thư đầu tiên gửi Tùy Dạng Đế để thiết lập quan hệ ngoại giao, thái tử Shotoku đã mở đầu : Thư này là thư của thiên tử xứ mặt trời mọc gửi thiên tử xứ mặt trời lặn.

Trung Quốc dĩ nhiên là tức giận, nhưng phải chấp nhận. Rồi dần dần thành quen, và... chấp nhận vĩnh viễn.

Với chúng ta, chỉ khi nào bán nước như Lê Chiêu Thống thì mới bị nguyền rủa, còn nộp cống xưng thần là chuyện nhỏ, ngay cả với Lê Thái Tổ hay Quang Trung. Ở Nhật Bản, Ashikaga Yoshimitsu (cuối thế kỷ 14), là vị shogun (tức tướng quân, dưới quyền Nhật hoàng) duy nhất trong lịch sử Nhật nhận tước phong của Trung Quốc. Và chỉ có thế, cái tên của ông này đã bị lịch sử Nhật Bản muôn đời nguyền rủa như một vết nhơ khó rửa của dân tộc.

« Trong suốt lịch sử trung đại, không có bất kỳ một ông Nhật hoàng nào cử sứ giả sang Trung Quốc xin tước phong. »

Như vậy, ngay cả khi không hề có chiến tranh, họ vẫn thiết định một tư thế bình đẳng trong ngoại giao.

Đừng nghĩ rằng vì Việt Nam quá gần Trung Quốc mà đành nhân nhượng. Chỉ cần xem quá trình Vương An Thạch phải mất nhiều năm chuẩn bị cho cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt năm 1076 là rõ. Thời đó, chuẩn bị một cuộc chiến tấn công Việt Nam không hề dễ dàng.

Việt Nam lựa chọn như vậy về mặt chính trị, vì một nguyên nhân văn hóa: chúng ta chấp nhận văn hóa Trung Quốc là khuôn mẫu đỉnh cao, do đó, dù kháng chiến ngoan cường để giữ độc lập trong thực tế, nhưng về mặt chính trị, lại chấp nhận mình thuộc vùng ảnh hưởng của nó.

Vậy, tiếp theo, ta thử xem Nhật Bản trước đây nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào.

Trung Quốc không phải là khuôn mẫu

Nhật Bản dĩ nhiên thừa nhận Trung Quốc là một nền văn minh rực rỡ và học tập nó hết mình, nhưng khác Việt Nam, Nhật Bản không cho phép Trung Quốc trở thành khuôn mẫu. Có thể thấy sự lựa chọn này ở tất cả những lĩnh vực chủ yếu của nền văn hóa.

Cắm rễ trên nền tảng văn minh nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á, Việt Nam dĩ nhiên có một bản sắc khác biệt với Trung Quốc, ngay từ cội rễ. Nhưng ta thử nhìn vào phần văn hóa bác học, phần được tầng lớp tinh hoa dân tộc du nhập về và “đặt chình ình” vào giữa cơ thể dân tộc.

Là một nước đi sau, Việt Nam muốn bắt kịp Trung Quốc. Nhưng ít nhất là từ thế kỷ XV trở đi, chúng ta có một cách nhìn lạ lùng: không thua Trung Quốc nghĩa là... không khác Trung Quốc.

Bị dẫn dắt bởi cách nhìn này, những sáng tạo của chúng ta thật đáng tự hào, nhưng chỉ có điều, ở khá nhiều lĩnh vực chủ yếu, chưa bao giờ vượt ra ngoài “chiếc hộp Trung Quốc”. Tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Sắp xếp bộ máy nhà nước như Trung Quốc. Dùng hoạn quan như Trung Quốc. Viết chữ Hán như người Trung Quốc viết... Xây dựng Văn Miếu, biểu tượng của nền văn hiến nước nhà, chúng ta không dám làm bất kỳ chi tiết nào khác với Khổng miếu ở Trung Quốc.

Văn miếu (Việt Nam) xây dựng từ thế kỷ 11. Khang Hy ở thế kỷ 17 đến thăm Khổng miếu (Trung Quốc), viết tám chữ “Vạn thế sư biểu. Khang Hy ngự thư”. Chúng ta cũng lật đật làm một tấm bảng y như vậy để treo ở nhà mình, đến nỗi Hồ Cẩm Đào ở thế kỷ 21 này đến thăm Văn miếu (Việt Nam), nhìn tám chữ ấy, từng bối rối vì ngỡ đang... ở nhà.

Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc: sáng tạo chữ Nôm, nhưng theo đúng những nguyên tắc của chữ Hán, bắt buộc những ai muốn học chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước.

Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau. Họ không tổ chức khoa cử như Trung Quốc. Không xây dựng hệ thống nhà nước như Trung Quốc. Không dùng hoạn quan như Trung Quốc. Dùng chữ Hán, nhưng ngay trong cuốn sử đầu tiên, Cổ sự ký, họ phá vỡ mối quan hệ giữa âm và nghĩa của chữ Hán để viết một thứ chữ Hán mà người Trung Quốc... không đọc được.

Suốt hơn một nghìn năm độc lập phong kiến và tự chủ khi học hỏi Trung Quốc, Việt Nam có nhiều sáng tạo độc đáo, rất riêng, nhưng không có những đóng góp khiến Trung Quốc ngày nay nhìn lại mà hổ thẹn.

Chúng ta không thể làm điều đó, vì ngay từ xuất phát điểm là cách nhìn và cái nhìn, chữ thánh hiền là chữ Trung Quốc, người thánh hiền là người Trung Quốc, nhìn chung, mọi hình mẫu đều nằm ở Trung Quốc.

« Ngay cả trong những sáng tạo nhằm mục đích phân biệt mình với Trung Quốc, chúng ta cũng sáng tạo trong khuôn khổ của Trung Quốc »

Vậy chúng ta thử nhìn xem ông bạn Nhật kia học Trung Quốc bằng thái độ văn hóa nào.

Trả ơn thầy bằng cách giỏi hơn thầy

Các bậc đại Nho của chúng ta coi mọi điều hay lẽ phải đã được thánh hiền Trung Quốc nói hết cả, mình không cần phải lập thuyết làm gì, chỉ cần sống sao cho đúng.

Ở Nhật Bản xưa, các nhà Nho được tôn vinh là bậc đại Nho là những người dám làm một việc mà đối với các nhà Nho Việt Nam là không thể chấp nhận được: phủ định triệt để thánh hiền Trung Quốc, để xây dựng một cách nhìn và cái nhìn một mới về nhân sinh.

« Nhật Bản thì không cho phép Trung Quốc có vinh dự là một lò gạch để đúc nên những cục gạch giống nhau.»

Trong văn hóa Việt Nam, có bậc đại Nho nào của chúng ta khi biện luận mà dám đặt vấn đề một cách vô lễ như thế này với thánh hiền Trung Quốc ? Sách Sentetsu Sodan (Tiên triết tùng đàm) của Nhật kể về Yamazaki Ansai, bậc đại Nho của Nhật Bản thế kỷ 17, như sau: Một hôm Yamazaki Ansai hỏi các môn đệ: Nếu bây giờ Trung Quốc cử Khổng tử làm chánh tướng, Mạnh tử là phó tướng, dẫn vài vạn binh thuyền tấn công nước ta. Là học trò của Khổng Mạnh, các trò sẽ làm gì?. Nghe câu hỏi là biết câu trả lời rồi. Các học trò của Khổng Mạnh sẽ phải... chém đầu Khổng Mạnh để báo ơn vua, như chính Khổng Mạnh đã dạy.

Việt Nam thì chỉ có thể chém đầu Ô Mã Nhi, Liễu Thăng, chứ chém đầu cụ Khổng cụ Mạnh thì không dám. Chúng ta không cảm thấy cần phải đặt vấn đề về mặt văn hóa với Trung Quốc.

Thế kỷ 17, Nhật Bản có một bậc đại Nho là Ito Jinsai phê phán triệt để Tống Nho: Để hiểu Đạo của người, không thể bằng cách nhìn đạo của Trời thông qua lý, như Tống Nho quan niệm, mà cần nhìn thẳng vào chính cuộc sống đời thường và trần tục này.

Tominaga Nakamoto, đầu thế kỷ 18, còn đi xa hơn nữa, lớn tiếng tuyên bố rằng, đạo Nho là của Trung Quốc, đạo Phật là của Ấn Độ, Thần đạo thì của Nhật Bản nhưng của thời xưa.

Cần một triết thuyết mới cho cuộc sống thực hôm nay. Nakamoto tuyên bố vậy, nhưng chẳng làm được gì cả. Chí nguyện là một chuyện, còn có sáng tạo được cái triết thuyết mới ấy hay không là chuyện khác.

Tuy nhiên, điên như Nakamoto là dở cho riêng ông nhưng tốt cho đất nước ông. Khoảng nửa thế kỷ sau, thái độ thách thức cái vị trí đỉnh cao văn hóa của Trung Quốc đã đi đến đích: ngay từ trước duy tân Minh Trị gần một thế kỷ, cậu học trò Nhật Bản có những cống hiến thực sự trong thực tế để dạy lại ông thầy của mình.

Các học phái Kokugaku, Rangaku, Mito... đã phủ nhận tận gốc vị trí lãnh đạo của văn hóa Trung Quốc, bằng cách chỉ ra những lý luận phi tự nhiên của Nho giáo Trung Quốc, sự cực đoan của học thuyết thiên mệnh, những sai lầm trong những kiến thức y học Trung Quốc về giải phẫu người...

Học tập Trung Quốc là chịu ơn Trung Quốc. Chịu ơn thầy thì phải trả ơn thầy. Cách trả ơn duy nhất đúng là cống hiến cho ông ấy những hiểu biết mới của riêng mình.

Lời cuối cho một khởi đầu

Sang đến thế kỷ 19, ở Việt Nam, đáp lại tiếng khóc canh tân thảm thiết của Nguyễn Trường Tộ là cái im lặng đáng sợ của một hoang mạc tinh thần, vì ngay cả khi Việt Nam đã bị Pháp nghiền nát, những ông quan hay chữ trong triều đình Huế vẫn chưa thôi sùng bái Trung Quốc như là khuôn mẫu đỉnh cao.

Ở Nhật Bản, vì dám thách thức thầy mình về mặt trí tuệ, nên sang đầu thế kỷ 19, trí thức Nhật không bất ngờ khi thấy Trung Quốc đại bại trước Anh quốc trong chiến tranh nha phiến. Và nhờ thế, họ được chuẩn bị sẵn về mặt tinh thần để đáp lại tiếng gọi canh tân của Fukuzawa Yukichi bằng một nhịp bước quân hành khiến cả bầu trời rung chuyển.

Cách nhìn tạo ra cái nhìn. Cái nhìn tạo ra sự lựa chọn. Sự lựa chọn tạo ra số phận. Số phận thay đổi khi cách nhìn thay đổi.

Người Nhật ngày trước nhìn văn hóa Trung Quốc như thế nào thì sau đó họ cũng nhìn văn minh Phương Tây theo cách ấy. Học tập Phương Tây, Đuổi kịp Phương Tây. Vượt qua Phương Tây – đó là tinh thần Nhật Bản suốt từ thời kỳ Duy tân đến nay. Tinh thần này trùm lên mọi lĩnh vực, kể cả văn chương nghệ thuật.

Dĩ nhiên, khi nghe khẩu hiệu này của Nhật Bản, ta sẽ cảm thấy họ lộng ngôn. Bởi Phương Tây là cả một thế giới khổng lồ và đa dạng. Nhật Bản không thể so sánh được về mặt quy mô. Nhưng, lộng ngôn thì cũng như... Nakamoto ở thế kỷ 18 là cùng.

Mỗi dân tộc khi tham gia vào dòng chảy toàn cầu hóa đều không thể xác định vị trí quốc gia mình trên bản đồ thế giới. Mỗi người Việt định vị bản thân mình trước cuộc đời như thế nào thì Dân tộc Việt định vị chính nó trước thế giới như thế ấy.

Sức mạnh của một dân tộc thể hiện rõ nhất không phải khi nó đứng ở vị thế của kẻ mạnh, mà khi nó sinh ra, mới ngước mắt nhìn mặt trời đã nhận thấy mình là kẻ yếu.

Một dân tộc yếu khi còn chưa thôi thách thức những đỉnh cao, nó vẫn còn đang sống, đang hành trình. Một dân tộc đã chấp nhận một đỉnh cao nào đó là khuôn mẫu vĩnh viễn, nó là một chiến binh gục bên súng mũ bỏ quên đời.

Nguyễn Lương Hải Khôi
Nguồn toquoc

Welcome home LTCN


LÊ THỊ CÔNG-NHÂN
Người con gái phi thường
Video sbtn - asia 56
Giữa cao điểm của chế độ toàn trị CSVN hôm nay có một người con gái phi thường vượt mọi sợ hãi, đã dám đứng lên đương đầu với cả hệ thống bạo lực, người con gái có tên rất gần gũi với những người VN cùng khồ: đó là cô Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi.

Chúng tôi xin được tổng hợp câu chuyện của nữ luật sư trẻ tuổi Lê Thị Công Nhân tại VN qua các bài viết của một số tác giả tên tuổi trong thời gian gần đây để chúng ta cùng có một niềm tin sắt son về một ngày mai tươi sáng của tuổi trẻ VN cũng như dân tộc VN. Trước hết chúng tôi xin giới thiệu bài viết của tác giả Trần Phong Vũ có tựa đề "Lê Thị Công Nhân - Người con cưng của Thượng Đế".

Cho đến hôm nay, Lê Thị Công-Nhân đã trở thành một tên tuổi lớn. Không phải lớn vì cô là một luật sư trẻ tuổi, tài ba. Cũng không phải lớn vì cô đã được cả thế giới biết đến, nhưng chính cái nhân cách phi thường ẩn giấu đàng sau vóc dáng mảnh mai, yếu đuối một trái tim nhân hậu, một thái độ can đảm, một ý chí kiên cường, bất khuất của một con người có niềm tin son sắt nơi Thượng Đế, đã khiến cho tên tuổi của cô trở nên vĩ đại, lẫy lừng và sáng chói. Tên Công-Nhân của cô được ghép lại bởi hai từ: Công-Bằng và Nhân-Ái.

Cái tên đã được nói ra từ cửa miệng của người Mẹ đã cưu mang Lê Thị Công-Nhân,
Khi có kẻ tò mò muốn rõ vì sao một thiếu nữ trí thức có nhân dáng thanh cao, trong suốt và một vẻ đẹp hồn nhiên như thiên thần lại có tên là Công-Nhân, bà Trần Thị Lệ cho biết: vì sống dưới một xã hội lưu manh, gian dối, bất công và độc ác bà kỳ vọng sau này con gái bà ý thức được bổn phận và trách nhiệm của mình nên đã rút gọn hai từ Công-Bằng & Nhân-Ái để đặt tên cho cô là “Công-Nhân”. Từ đấy cái tên định mệnh này đã chi phối trọn vẹn cuộc đời cô bé.

Ra đời năm 1979 tại Tiền Giang, phần đất của miền nam nước Việt, năm nay cô vừa tròn 31 tuổi. Như vậy là trong ngót ba thập niên đầu đời, Lê Thị Công Nhân đã sống và lớn lên trong lòng chế độ cộng sản độc tài, độc đảng, phi nhân và tàn ác. Nhưng giống như bông sen, cô sống “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Được như thế chính là nhờ nhân cách và công lao dưỡng dục của một bà mẹ đạo đức từng thừa hưởng môi trường tự do, dân chủ, phóng khoáng trong suốt nửa đời trước, khi may mắn sống và được giáo dục dưới chế độ miền Nam trước tháng tư năm 1975.

Từ tiểu học đến hết trung và đại học, cô Công Nhân có dịp học ở Hà nội. Ước vọng của cô là trở thành một luật sư giỏi để mai này mang sở học và tâm huyết của mình bên vực giới công nhân, lao động cùng khổ. Cô tốt nghiệp Cử nhân Luật khóa K22 (1997-2001) và sau hai năm chuyên ngành cô trở thành luật sư thực thụ, hành nghề tại Văn Phòng luật sư Thiên Ân (Ơn Trời) của luật sư Nguyễn Văn Đài. Từ đấy, lý tưởng tranh đấu cho một xã hội công bằng và nhân ái đã trở thành niềm đam mê âm thầm nhưng mãnh liệt trong trái tim nhân hậu của người nữ trí thức trẻ.

Trong suốt mấy năm đầu, khi linh mục Nguyễn Văn Lý tái phát động cuộc đấu tranh cho tự do tôn giáo, cho nhân quyền, nhân phẩm Việt Nam, cùng với luật sư Nguyễn Văn Đài và nhiều nhà dân chủ khác, Lê Thị Công-Nhân bắt đầu viết những bài tham luận trực diện chỉ trích chế độ độc tài cộng sản về những hành vi xâm phạm quyền sống, quyền làm người của giới lao động trong nước. Cô kịch liệt tố cáo tổ chức Tổng Công Đoàn Việt Nam, một cơ cấu do đảng và nhà nước bảo trợ để ngầm kiểm soát và khống chế công nhân. Những bài viết của cô đã được loan truyền rộng rãi trên các mạng lưới thông tin toàn cầu cùng với những cuộc phỏng vấn của các đài phát thanh quốc tế dành cho cô. Sự kiện này đã chọc giận chế độ. Và giọt nước cuối cùng đã làm tràn ly: cô chính thức gia nhập Khối 8406 do linh mục Nguyễn Văn Lý khởi xướng, công khai nhận làm phát ngôn nhân đảng Thăng Tiến, được mời qua Ba Lan tham dự hội nghị thành lập tổ chức yểm trợ phong trào bảo vệ người lao động Việt Nam1. Mạng lưới công an, mật vụ bắt đầu khép chặt gọng kìm giám sát quanh cô. Tất cả mọi đường đi nước bước của luật sư Lê Thị Công-Nhân đều được con mắt của đảng và nhà nước cộng sản bám sát từng phút giây. Từ đó, những buổi gọi là “làm việc” với cơ quan an ninh Hà Nội ngày càng nhiều.

“Lửa thử vàng, gian nan thử sức”. Chính những cơn phong ba, bão tố đổ xuống liên tiếp trên thân phận người thiếu nữ nhỏ bé, yếu đuối như cánh hoa trước gió này đã chứng nghiệm giá trị câu tục ngữ trên đây của tiền nhân. Trước những lời vừa phủ dụ vừa hăm dọa của người thẩm vấn tại Sở Công An Hà nội hay trước câu hỏi của phái viên các đài RFI, BBC, VOA, RFA, câu trả lời của người nữ luật sư trẻ Lê Thị Công-Nhân vẫn không hề thay đổi về nội dung cũng như âm sắc. Trầm tĩnh, gan dạ, minh bạch và dứt khoát. Đó là cái gan dạ, minh bạch, dứt khoát phát xuất từ một lập trường quốc gia dân tộc chuyên nhất: nhất quyết không lùi bước trước cường quyền bạo lực, không lý tới sự an toàn sinh mạng của bản thân.

3 giờ 40 phút sáng (giờ Việt Nam) ngày 26-2-2007, nhờ các tổ chức đấu tranh hải ngoại nối mạng, cùng với nhà dân chủ Nguyễn Khắc Toàn, người nữ trí thức trẻ tuổi họ Lê đã có dịp cất lên tiếng nói kiên cường, quả cảm nhưng đầy ắp tình người của cô trong một cuộc biểu tình của đồng hương tại nam California, Hoa Kỳ. Với cách phát ngôn nghiêm trang, chậm rãi như để cân nhắc từng chữ, từng lời khiến người nghe cảm nhận được đến tận cùng nỗi xúc cảm dâng đầy trong tâm hồn người nói, cô cho hay:

“Chỉ còn hơn 3 tiếng đồng hồ nữa thì tôi sẽ bị công an thẩm vấn tại số 87 đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội là trụ sở của công an tại đây. Đây là lần công an Hà Nội gửi giấy triệu tập lần thứ bốn so với lần triệu tập gần đây nhất mà tôi đã kiên quyết khước từ không đi, và rất có thể ngày mai họ sẽ đến áp giải tôi đi thẩm vấn…”

Ở một đoạn khác, Lê Thị Công-Nhân phát biểu tiếp:

“Tôi là thành viên cuối cùng trong 4 thành viên công khai của Đảng Thăng Tiến Việt Nam được công an triệu tập làm việc chính thức, tính từ sau Tết âm lịch cho đến nay. Và thật sự tôi cũng không đoán trước được cụ thể những việc gì có thể xảy ra với tôi. Nhưng tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: Tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi. Tôi không thách thức nhưng Cộng Sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản thì tùy họ có quyền hành xử với những cái gì mà họ có. Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa: đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra.”

Ẩn sâu trong lời khẳng định sau chót, hẳn đã được cân nhắc chín chắn, trên đây, người ta đọc được dự phóng xa hơn của Lê Thị Công-Nhân. Tù đày chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra thì còn gì khác hơn là cái chết mà chế độ có thể trút xuống tấm thân yếu đuối của cô? Và như thế, hàm ngụ trong đó, người nữ luật sư trẻ đã gián tiếp cho đồng bào trong và ngoài nước, kể cả kẻ thù của cô hiểu rằng: không chỉ tù đày, mà cả khi phải thí mạng sống của chính mình để bảo toàn lập trường và nhân cách, cô cũng dứt khoát không bao giờ chấp nhận thỏa hiệp hay đầu hàng những thế lực của sự ác. Điều này gợi nhớ tới tấm gương kiêu dũng của linh mục Jerzy Popieluszko, linh hướng tình nguyện của tổ chức Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan trong những năm đầu thập niên 1980. Vào những giờ phút căng thẳng bị các lực lượng an ninh vũ trang của chế độ cộng sản Varsovie tìm cách ám hại hòng làm bặt đi tiếng nói đối kháng đầy uy lực của cha, linh mục Popieluszko đã tâm sự với những đoàn viên Công Đoàn Đoàn Kết là: cho dù có phải chấp nhận cái chết thì mọi nỗ lực của cha chỉ có một mục tiêu duy nhất là tiếp tục con đường đấu tranh ôn hòa cho quyền sống và quyền tự do của người dân Ba Lan.

Những động lực thúc đẩy người nữ luật sư mang tên Lê Thị Công-Nhân quyết liệt dấn thân tranh đấu cho nhân quyền, tự do và dân chủ Việt Nam, bất chấp sự an toàn sinh mạng của chính mình, ngoài tư cách con người còn do sự thôi thúc từ lương tâm của người Con Chúa. Cũng trong dịp được nối mạng để lên tiếng tỏ bày ý chí và quyết tâm tranh đấu của mình với công luận trong và ngoài nước sáng sớm hôm 26-2-2007, một thời gian không lâu trước khi bị bắt, cô đã công khai xác định những nhân quyền căn bản mà cô có, không phải ai khác mà chính Thượng Đế đã trao ban cho cô từ thuở lọt lòng. Và vì thế cô quyết tâm bảo vệ. Cho mình cũng như cho hơn 80 triệu đồng bào trong nước. Cô nói:

“Không ai hơn, chính Đấng tạo hóa -Thượng đế đã sinh tôi ra trên cõi đời này nhờ qua một thể xác đó là mẹ tôi và cha tôi, và tôi đã được sinh ra là một con người thì tôi có đầy đủ những nhân quyền cơ bản mà Thượng đế -Đấng tạo hóa đã ban cho tôi, chứ không phải là người mẹ người cha xác thịt đã sinh ta tôi trên đời. Và tôi đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền và tự do cho Việt Nam hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, đối với dân tộc Việt Nam và đối với Đấng tạo hóa đã sinh ra tôi.”

Trong một bài nhan đề “Hãy Làm Một Cái Gì Để Không Ân Hận” được phổ biến rộng rãi trên các trang báo điện tử sau khi luật sư Lê Thị Công-Nhân bị cộng sản cầm tù, nhà văn và cũng là chiến sĩ yêu chuộng tự do, dân chủ Nguyễn Xuân Nghĩa ở Hải Phòng đã thố lộ những suy tư của ông khi gặp cô và mẹ cô –bà Trần Thị Lệ như sau:

“Khi Lê Thị Công Nhân xuất hiện, chúng tôi ngắm cô từ xa với thứ tình cảm trộn lẫn giữa kính trọng, quý mến và quan ngại. Nhìn Lê Thị Công-Nhân, tôi ao ước được nhìn thấy cô trên sàn diễn thời trang, trên kịch trường hoặc một cuộc thi hoa hậu chứ không phải giữa vòng vây dày đặc của mật vụ Hà Nội. Một Jeane Darc đã chết như một liệt nữ cho nền tự do của nhân dân Pháp. Lê Thị Công Nhân lọt vào giữa chúng tôi với một chiếc khăn len rộng màu trắng vắt hờ qua đầu, một thân hình nhỏ nhắn trong bộ váy áo màu đen xám sang trọng và nụ cười trẻ trung, tự tin, thông minh cùng một bàn tay dịu dàng. Với riêng tôi cô nói thêm bằng thanh đới trong trẻo, dịu dàng và tin cậy:

Tôi ước được nắm chặt bàn tay cô thật lâu. Đó là một chiếc lá xanh non của một thân cây xanh non nổi bật giữa hàng ngàn thân cây còn xanh mà đã tàn úa tâm hồn và ý chí đang qua lại ngoài kia vì bị đầu độc bởi học thuyết cộng sản từ trong ghế nhà trường hoặc bị ném vào chiếc máng bố thí bổng lộc của chính quyền, hoặc bị nhào nặn thành nô lệ của nỗi sợ cường quyền, thành những viên bi óng ánh trên truyền hình, trên sàn thời trang, trong hộp đêm và các kỳ thi tuyển Speaker... đặng thay tấm khăn voan che đậy một xã hội ô nhục. Tôi không có can đảm để nói với Lê Thị Công Nhân rằng tôi ước có một người con gái như cô; bởi ngoài tư chất là một người con gái dịu dàng, xinh đẹp, thông thái, có học vấn, Lê Thị Công-Nhân còn mang tư chất của một nhân vật của cộng đồng đau khổ và đang biết phản kháng, một thủ lĩnh tinh thần cho ngay cả lớp đã có tuổi như tôi nữa.

Đó là hình mẫu của người con gái Việt Nam anh hùng và một người mẹ Việt Nam anh hùng trong một tương lai không xa, đạp đổ hình ảnh phi nhân tính và thô lậu của những “người mẹ Việt Nam anh hùng” made in cộng sản mụ mị tiễn con vào chốn nồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn trong cuộc nội chiến Bắc–Nam gây bao đau thương di hận.

Bắt giam luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân sau vụ bắt giam linh mục Nguyễn Văn Lý đầu tết Đinh Hợi, khép những nhà hoạt động nhân quyền, dân chủ này vào tội danh “tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” chính quyền cộng sản đã phơi bày bộ mặt nham hiểm, đổi trắng thay đen vi phạm Hiến Pháp, vi phạm Công Ước Nhân Quyền Quốc Tế mà họ đã ký kết.

Như chúng ta đã biết, tất cả các nước (trừ 4 nước cộng sản còn sót lại) không ở đâu và một chính đảng nào được phép dùng bạo lực đàn áp một chính đảng khác; cũng không một chính phủ nào dám coi việc chỉ trích chính phủ là “chống lại nhà nước”. Tương tự như vậy không còn một lực lượng cảnh sát nào và ở đâu là công cụ của một chính đảng đàn áp một đảng đối lập. Ông Nguyễn Xuân Nghĩa kêu gọi ĐCSVN và lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam hãy suy nghĩ thật nghiêm túc hành vi họ đang làm để không bị mang tiếng là một chính đảng man rợ cùng một công cụ rừng rú trong sinh hoạt chính trị cộng đồng nhân loại. Bạo lực đang và sẽ bị loại trừ hoàn toàn khỏi đời sống chính trị và xã hội loài người.

Và ông Nguyễn Xuân Nghĩa kêu gọi rằng: “Hãy làm một cái gì đó để không ân hận!”
Phụ họa với nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, cựu chiến binh già CS Vũ Cao Quận đã nói về người thiếu nữ trí thức tài danh này bằng những lời lẽ thấm thía, đầy tình nghĩa dồng bào, nhất là tình nghĩa “cha con”, làm xúc động lòng người như sau:

“Lê Thị Công Nhân chẳng khác nào một chiếc li pha lê, trong suốt, mỏng manh. Với một người hoạt động dân chủ, ông luôn ao ước có một cô gái xinh đẹp, thông minh, can trường trong lực lượng, một bông hoa giữa gió sương phũ phàng để có cái noi gương và có cái bảo vệ. Nhưng với tâm trạng của một người bố, ông không thể đành lòng để Lê Thị Công-Nhân nhiều phen phải “trần trụi giữa bầy sói” khi bước vào con đường hoạt động chính trị. Còn tôi ví Lê Thị Công Nhân như một viên kim cương quý hiếm đã được mài giũa rực sáng lên, cả trong đời thường và trong môi trường chính trị

“Với Lê Thị Công Nhân tôi chỉ là một người dưng, một ông già qua đường. Tôi không được phép dám coi cháu như một đứa con gái của mình. Nhưng khi nghe tin Đài và con bị bắt, lòng tôi quặn đau, căm phẫn và vô cùng lo lắng cho con hơn cả con gái của mình. Vì con gái tôi nó vốn là đứa yếu đuối, nhút nhát. Nếu bị bắt, nó sẽ cam lòng khuất phục.

Còn con, là đứa con gái bé bỏng nhưng đầy lòng can đảm, nhà cầm quyền cộng sản sẽ tiêu diệt đến cùng lòng dũng cảm của con. Vì theo chúng những kẻ đang chăn dắt một đàn cừu, tính dũng cảm không phải là điều cần có của bất cứ một con nào trong bầy cừu. Và nó sẽ thản nhiên đẩy con trần trụi cho bày sói cắn xé.

Nếu tất cả các vị tôn kính còn chút nước mắt xin hãy nhỏ xuống vì Lê Thị Công Nhân, vì một đứa con gái Việt Nam bé bỏng, yếu ớt. Hãy rủ lòng thương nó như thương một đứa con tội nghiệp mà các vị mạnh mẽ lên tiếng buộc nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam phải trả tự do ngay cho nữ luật sư Lê Thị Công Nhân cùng luật sư Nguyễn Văn Đài chỉ vì 2 luật sư này đã”phạm tội” san sẻ truyền đạt những điều cao thượng, bác ái thuộc về “Dân chủ và Nhân quyền” của nước Mỹ, của nước Pháp, của George Washington, Thomas Jefferson, Franklin Roosevelt, Abraham Lincoln, Bill Clinton, George Bush, của Montesquieu… cho thế hệ trẻ Việt Nam tội nghiệp đang bập bõm về dân chủ và về cái quyền được làm người.

Đằng sau lưng tôi dựa chỉ là cái chết, nhân danh cái chết, tôi xin quỳ xuống van xin các vị, van xin lòng nhân ái của bốn phương trời:

“Hãy vì thân phận nhỏ nhoi của một bé gái ở đất nước VN xa xôi còn đầy khốn khổ này!.

Hồi cuối tháng 10 năm 2006, khi cô được mời đến Warszawa, thủ đô Ba Lan, để tham gia Hội nghị yểm trợ Công Đoàn Độc Lập Việt Nam, cô đã chuẩn bị bài tham luận, nhưng đến phút chót kẻ cầm quyền đã ngăn cản, không cho cô lên máy bay. Tại hội nghị, bài tham luận của cô đã được tuyên đọc, trong đó cô phân tích rõ Tổng Công Đoàn Việt Nam tuy mang danh là tổ chức cúa công nhân lao động, nhưng thực ra chẳng bảo vệ gì quyền lợi cho công nhân lao động cả, trái lại hùa theo cán bộ ĐCS để bảo vệ quyền lợi của giới chủ nhân, chính vì thế công nhân lao động cần thành lập tổ chức riêng của mình là các công đoàn tự do để bảo vệ quyền lợi cho mình. Đó là một việc làm hoàn toàn hợp lý và hợp pháp. Cô còn kêu gọi mọi người, mọi tổ chức ra sức yểm trợ cho Công Đoàn Độc Lập mới ra đời trong nước.

Tháng 9-2007, khi bị chủ tịch Quốc hội Ba Lan, ông Bogdan Borusewicz hạch hỏi ráo riết về tình trạng tự do, dân chủ và nhân quyền tại Việt Nam tiếp tục bị chà đạp, điển hình là những nhà tranh đấu bất bạo động như linh mục Nguyễn Văn Lý, các luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công-Nhân bị bắt bớ và kết án phi pháp, thủ tướng CS Nguyễn Tấn Dũng đã hứa là sẽ để cho cô Công-Nhân qua sống ở Ba Lan. Rõ ràng là CS đã coi thường các ý nguyện tự do dân chủ của người dân và bạc đãi chính con dân mình như thế. Thật không còn một chính quyền nào hèn hạ và tồi tệ đến như vậy!

Luật sư Lê Thị Công Nhân cũng đã viết một bài công phu, phân tích việc bỏ Nghị định 31 CP về quản chế hành chính, mà thực ra là nhà cầm quyền đã đưa việc quản chế hành chính vào các văn bản pháp lý khác. Đến ngày 06.03.2007, kẻ cầm quyền đã ra lệnh bắt giam cô tại Hà Nội. Sau đó toà án CS đã kết án luật sư Đài 5 năm tù giam, 4 năm “tù” quản chế, luật sư Công Nhân 4 năm tù giam, 3 năm “tù” quản chế!

Nhưng trong nhà tù, Công Nhân vẫn tiếp tục đấu tranh. Những ai đã từng biết nhà tù cộng sản, đều hiểu rõ tính chất độc ác, phi nhân của nó. Vì ĐCS và kẻ cầm quyền muốn dùng nhà tù để đày đoạ tù nhân về thể xác và tinh thần, bắt họ phải sống trong cảnh chật hẹp, bẩn thỉu, nóng bức, mất vệ sinh, bắt phải làm việc vất vả, phải chịu đựng những cảnh bạo hành, đâm chém, cướp giật diễn ra hàng ngày trong tù, lại thường xuyên bị đám cai tù (mệnh danh là quản giáo) trấn áp về mặt tinh thần và tâm lý cốt đè bẹp ý chí phản kháng của tù nhân chính trị, bắt họ phải khuất phục, đầu hàng. Xin các bạn cứ thử hình dung một tù nhân chính trị mà bắt phải sống chung với đám tù hình sự, trong đó không ít kẻ lưu manh tay đã từng nhuốm máu tội ác! Một người con gái mảnh mai như Công Nhân, quen sống trong môi trường có văn hoá, có giáo dục, tâm hồn trong trắng nay bị đày đoạ trong một cuộc sống kinh khủng như vậy thì đủ hiểu thấu tâm trạng của cô khi phải ở tù. Kẻ thù muốn cô cúi đầu khuất phục, nhưng cô vẫn hiên ngang ngẩng cao đầu.

Cô không hề chùn bước, cô vẫn giữ vững khí tiết bất khuất của mình. Những lời nói nồng nhiệt của cô sáng ngày 26.02.2007 vẫn còn mãi mãi âm vang “…Nhưng tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì dù chỉ là thoả hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng về phía tôi…”.

Đúng là trái tim nóng bỏng của cô bơm trong huyết quản dòng máu hào kiệt của Hai Bà Trưng, Bà Triệu và của muôn nghìn vị Anh hùng tiên liệt của Tổ quốc Việt Nam. Dòng máu đó đã giúp cô đứng vững trước cơn bão táp bạo tàn mà ĐCS và giới cầm quyền toàn trị đã trút xuống đầu cô. Giới trẻ Việt Nam ngày nay có quyền tự hào là đã có một nữ anh hùng kiệt xuất trong thời đại đấu tranh cho Tự do, Dân chủ và Nhân quyền để mà noi gương. Dân tộc Việt Nam cũng tự hào đã có một người con trung kiên như thế biết yêu nước, thương dân rất mực.

Chính vì thế, khi được tin Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam đã tiến cử luật sư Lê Thị Công Nhân – người đã từng được Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam trao Giải Nhân Quyền năm 2007 nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm 2007– làm ứng viên Giải Nhân Quyền Gwangju 2008 của Nam Hàn thì mọi người dân chủ trong và ngoài nước đều nhiệt liệt hoan nghênh, đều cầu mong cho ứng viên Lê Thị Công Nhân sẽ được trúng giải.

Trong ngày phát hành tem thư Lê Thị Công Nhân và cuốn sách Nhị Kiều Nước Nam do Cộng đồng NVTD tại Úc châu tổ chức trước đây, tác giả Bảo Giang đã thu thập những bài vở thật giá trị của nhiều tác giả trong và ngoài nước cũng như những bài thơ yêu nước đẫm lệ để cùng nhau nói lên tiếng nói bất khuất của một Nhị Kiều Nước Nam rằng: “Cuộc đấu tranh này sẽ ngày càng phát triển vì đây là một hiện thực khách quan. Hai tiếng Nhị Kiều nước Nam ngày xưa chúng ta vẫn hằng nghe khi nói đến gương anh hùng liệt nữ của Hai Bà Trưng, Bà Triệu”. Ngày nay tác giả Bảo Giang muốn dùng tiếng Nhị Kiều nước Nam để nhân danh hai người phụ nữ, một ở trong nước và một ở ngoài nước cũng song hành tranh đấu cho Tự do dân chủ và Nhân quyền cho VN. Đó là Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh tại Hoa kỳ và luật sư Lê Thị Công Nhân tại VN mà quý đồng hương chắc cũng đã nghe những lời ca ngợi tận đáy lòng của Nhạc sĩ Nam Lộc và Bà Dương Nguyệt Ánh trong cuốn băng Asia 56. Nhạc sĩ Nam Lộc nói: “Trong nỗi khốn cùng của dân tộc, đất nước VN hôm nay đang có một người con gái phi thường mang tên Lê Thi Công Nhân". Bà Dương Nguyệt Ánh phát biểu “Trong bóng tối của đàn áp bất công, họ là những thiên thần đem ánh sáng soi đường cho lương tâm nhân loại. Trong đêm đen của lịch sử VN, họ chính là những bàn tay dẫn dắt dân tộc dành lại Tự do Công bình Bác Ái cho một bình minh VN.”

Theo tác giả Bảo Giang thì đất nước VN hôm nay không thể thiếu một trong Nhị Kiều. Họ có thể là ngọn đuốc soi đường cho dân tộc ta trong giai đoạn này. Chúng tôi xin dùng lời kết luận của tác giả Bảo Giang về cuốn Nhị Kiều Nước Nam để kết thúc đề tài này “Nếu Nhị Trưng xưa, nay lại lên đường, nhất hô vạn ứng thì đường lưu đày sẽ không còn nước mắt. Trái lại toàn dân ta sẽ reo mừng trong ngày Hội Tự do dân chủ và Nhân quyền. Khi ấy ký sinh ở mồ Ba Đình có ngã đổ vật xuống dưới chân Nhị Kiều và toàn dân nước Nam mà nhận lấy án lệnh của công lý thì cũng là lẽ thường, chẳng có gì là lạ"./-

Nguyễn Triệu Việt

Tài liệu tham khảo:
- Bảo Giang, "Nhị Kiều Nước Nam", Úc châu 2008
- Gs Nguyễn Thanh Trang, Mạng lưới Nhân Quyền, Bài phỏng vấn 3/2008
- Trần Phong Vũ, "Lê Thị Công Nhân
- Người con cưng của Thượng Đế", Nguyệt san Diễn Đàn Giáo Dân số 72, Little Saigon, CA,11/2007.
- Trần Thị Lệ, "Đôi nét về Ls Lê Thị Công Nhân", Hà nội, 7/2007
- Trung Tâm Băng Nhạc Asia 56, USA, 2008

Friday, March 5, 2010

Sống đẹp


Phép màu giá bao nhiêu?

Một cô bé tám tuổi nghe cha mẹ mình nói chuyện về đứa em trai nhỏ. Cô bé chỉ hiểu rằng em mình đang bị bệnh rất nặng và gia đình cô không còn tiền. Chỉ có một cuộc phẫu thuật rất tốn kém mới cứu sống được em trai cô bé, và cha mẹ em không tìm ra ai để vay tiền. Do đó, gia đình em sẽ phải dọn đến một căn nhà nhỏ hơn vì họ không đủ khả năng tiếp tục ở căn nhà hiện tại sau khi trả tiền bác sĩ.

Cô bé nghe bố nói với mẹ bằng giọng thì thầm tuyệt vọng: “chỉ có phép màu mới cứu sống được Andrew”. Thế là cô bé vào phòng mình, kéo ra một con heo đất được giấu kỹ trong tủ. Em dốc hết đống tiền lẻ và đếm cẩn thận.

Rồi cô bé lẻn ra ngoài bằng cửa sau để đến tiệm thuốc gần đó. Em đặt toàn bộ số tiền mình có lên quầy.

Người bán thuốc hỏi: “Cháu cần gì?”

Cô bé trả lời: “Em trai của cháu bệnh rất nặng và cháu muốn mua phép màu.”

- Cháu bảo sao? – Người bán thuốc hỏi lại.

- Em cháu tên Andrew. Nó bị một căn bệnh gì đó trong đầu mà bố cháu nói chỉ có phép màu mới cứu được nó. Phép màu giá bao nhiêu ạ?

- Ở đây không bán phép màu, cháu à. Chú rất tiếc. – Người bán thuốc nở nụ cười buồn và tỏ vẻ cảm thông với cô bé.

- Cháu có tiền trả mà. Nếu không đủ, cháu sẽ cố tìm thêm. Chỉ cần cho cháu biết giá bao nhiêu?

Trong cửa hàng còn một vị khách ăn mặc thanh lịch. Sau khi nghe câu chuyện, ông cúi xuống hỏi cô bé: “Em cháu cần loại phép màu gì?”

- Cháu cũng không biết nữa. – Cô bé trả lời, rơm rớm nước mắt. – Nhưng em cháu rất cần phép màu đó. Nó bị bệnh nặng lắm, mẹ cháu nói rằng nó cần được phẫu thuật, và hình như phải có thêm loại phép màu gì đó nữa mới cứu được em cháu. Cháu đã lấy ra toàn bộ số tiền để dành của mình để đi tìm mua phép màu đó.

- Cháu có bao nhiêu? – Vị khách hỏi. Cô bé trả lời vừa đủ nghe: “Một đô la mười một xu.”

Người đàn ông mỉm cười: “Ồ! Vừa đủ cho cái giá của phép màu” .

Một tay ông cầm tiền của cô bé, tay kia ông nắm tay em và nói: “Dẫn bác về nhà cháu nhé. Bác muốn gặp em trai và cha mẹ cháu. Để xem bác có loại phép màu mà em cháu cần không.”

Người đàn ông thanh lịch đó là Bác sĩ Carlton Armstrong, một phẫu thuật gia thần kinh tài năng. Ca mổ được hoàn thành mà không mất tiền, và không lâu sau Andrew đã có thể về nhà, khỏe mạnh.

Mẹ cô bé thì thầm: “Mọi chuyện diễn ra kỳ lạ như có một phép màu. Thật không thể tưởng tượng nổi. Thật là vô giá!”. Cô bé mỉm cười. Em biết chính xác phép màu giá bao nhiêu. Một đô la mười một xu, cộng với niềm tin chân thành của một đứa bé, và lòng tốt của người bác sĩ.

Vâng! Niềm tin, sự chân thành và lòng trắc ẩn của con người có thể khiến phép màu xảy ra!

Nguồn internet
Đọc thêm : seek-blog – tales2u

Thursday, March 4, 2010

Thơ Hoài Tường Phong


Trăng nghẹn
Mẹ sinh tôi vào một đêm rằm mưa gió ngày xưa,
Lúc chào đời đã lỡ hẹn cùng vầng trăng viên mãn.
Vùng tản cư hồi nầy ruộng hoang nhà trống,
Rước được bà mụ vườn, ngoại cực trần thân.

Tôi lớn trong quê mùa như cây tạp vườn hoang,
Bảy tuổi biết leo lưng trâu, không từng ngồi xe đạp.
Không biết lời bải buôi để mua lòng người khác,
Nên thua thiệt cả đời vì không thể dối lừa ai.

Ngơ ngác buổi ra thành, trước cuộc sống đua chen,
Mười năm sau chưa gội rửa cho mình thành dân chợ.
Lớp phèn hết bám chân, nhưng chất chân quê vẫn còn đó,
Tôi tranh thủ những tháng hè, thích về lại thăm quê.

Bè bạn theo đuôi trâu một thời, mơ ước nhìn tôi,
Tưởng tôi thoát kiếp ngài, nhởn nhơ hóa bướm.
Tôi nhìn vẻ hồn nhiên của đám bạn xưa thèm quá,
Cộng một chút phù hoa đâu thêm lớn tâm hồn.

Mỗi lần về quê bè bạn cũ lại vắng hơn,
Gái mười bảy đã lấy chồng, trai hai mươi đòi vợ.
Cô bạn xưa nách con ngang nhà mua chịu rượu,
Đôi mắt ướt một thời bẽn lẽn ngó bàn chân.

Xóm bên sông nhiều cô gái rời quê,
Về thăm nhà xênh xang lụa là hàng hiệu.
Vài căn nhà xây, đổi đời nhờ những đồng tiền báo hiếu,
Khởi sắc một vùng quê sao nghe có chút bùi ngùi.

Đồng bằng quê hương tôi nhiều cái nhất ngậm ngùi:
Sản lượng lúa nhiều, vùng cá ba sa lớn nhất,
Đầu tư văn hóa thấp và khó nghèo cũng nhất,
Và cũng dẫn đầu, những cô gái lấy chồng xa.

Chập tối buồn ra nhìn bến nước cô đơn,
Vầng trăng vừa lên đã bị mây mưa vần vũ.
Tôi chợt nhớ lần lỗi hẹn đầu đời, trăng cũ,
Vầng trăng nghẹn hoài, chưa tỏa sáng một vùng quê.

Hoài Tường Phong
Nguồn dacdanhmientay

Biển Đông VN


Quốc tế hóa

Cuối tháng 11 năm 2009, Học Viện Ngoại Giao, và Hội Luật gia Việt Nam đồng tổ chức hội thảo khoa học: “Biển Đông: tăng cường hợp tác vì an ninh và phát triển ở khu vực”.

Trong số 150 đại biểu tham dự cuộc hội thảo này, có 54 đại biểu đến từ 22 nước và vùng lãnh thổ.

Đây là cuộc hội thảo quốc tế quan trọng lần đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam của những nhà nghiên cứu hàng đầu về Biển Đông ở trong và ngoài nước. Với tinh thần thẳng thắn, khách quan xây dựng và cầu thị, các học giả đã đưa ra nhiều nhận định, đánh giá, phương án giải quyết vấn đề …

Điều đáng chú ý là mặc dù có tới 6 đại biểu tham gia hội thảo với 4 bản tham luận, nhưng dường như Trung Quốc cố tình giảm nhẹ tầm quan trọng của cuộc hội thảo này, và trước một số lời “trực tiếp nhằm vào Trung Quốc” của một số đại biểu quốc tế tại hội thảo, các đại biểu Trung Quốc hầu như không đáp lại và giữ một thái độ khá ôn hòa…

Thế nhưng sau khi cuộc hội thảo kết thúc, các phương tiện truyền thông Trung Quốc lập tức lên tiếng.

Họ hầu như không “bài bác chống đỡ, phê phán…” một số luận điểm trực tiếp nhằm vào họ như: “Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa”, “ đường lưỡi bò của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý”, “Thực tiễn địa chính trị của khu vực cùng tồn tại trong cái ao của Trung Quốc” v v.. của các đại biểu quốc tế đọc trong hội thảo mà chỉ nhằm vào mục tiêu: lên án Việt Nam là người “đầu têu ra” chuyện quốc tế hóa Biển Đông và tỏ quyết tâm chống lại đến cùng.

Không những thế, gần đây họ cón tỏ thái độ, có thể nói là cực kỳ hiếu chiến và nguy hiểm.

Xin đơn cử một thí dụ:

Mạng Hoàn Cầu ngày 7/2/2010 viết: "Cùng với việc áp dụng chính sách mới trong tranh chấp tại Biển Đông của Việt Nam, vấn đề Biển Đông đang đứng trước xu thế phức tạp hóa. Việt Nam đang lặng lẽ nhưng ra sức thúc đẩy quốc tế hóa vấn đề Biển Đông".

'Nhằm thẳng vào kẻ cầm đầu'

Mạng này nói sách lược “quốc tế hóa” mà Việt Nam áp dụng là liên hiệp với các nước nhỏ Đông Nam Á để nhằm giành được ưu thế trong đàm phán với Trung Quốc, buộc Trung Quốc phải nhượng bộ.

Từ đầu năm đến nay, ngoài việc bổ nhiệm chủ tịch quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa để thể hiện “chủ quyền”, bắt ngư dân Trung Quốc, không ngừng gia tăng xây dựng sức mạnh quân đội ra, gần đây Việt Nam còn kiến nghị các nước thành viên Asean rằng Asean sẽ là một tập đoàn quốc gia tiến hành đàm phán với Trung Quốc nhằm chống lại đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc

"Việc Việt Nam mời 54 học giả của 22 nước tham gia cuộc hội thảo về Biển Đông nói trên, hiển thị nguy cơ này đang leo thang, vấn đề Biển Đông đang phát triển theo xu thế quốc tế hóa mà Việt Nam hy vọng."

Mạng Hoàn Cầu kêu gọi: "Trước tình hình đó, Trung Quốc không thể chỉ nhẫn nhịn và kháng nghị".

"Biện pháp tốt nhất để hóa giải nguy cơ tại Biển Đông là nhằm thẳng vào kẻ cầm đầu, thực thi chiến thuật “muốn bắt giặc phải bắt vua trước” kiên quyết đánh Việt Nam, bắt vua giặc Việt Nam trước, trấn áp các cường đạo nhỏ khác, rồi giải quyết triệt để nguy cơ Biển Đông".

Mạng này phân tích rằng hiện nay, muốn đối phó với Việt Nam muốn từ mặt quân sự đánh bại Việt Nam đòi lại chủ quyền ở Biển Đông "không phải là chưa có đầy đủ điều kiện, không phải là không có hàng không mẫu hạm thì không đánh được, cũng không phải đánh Việt Nam là khống chế không nổi chiến tranh càng không phải là sĩ quan, binh lính chúng ta không thể đánh nhau, mà điều then chốt là phải quả đoán đưa ra lựa chọn".

"Trong điều kiện hiện nay phải dùng quyết tâm như năm xưa chống Mỹ viện Triều để đối phó với Việt Nam, chỉ cần có lòng anh hùng khí khái giống như chống Mỹ viện Triều, nhất định Trung Quốc sẽ đánh thắng cuộc xung đột cục bộ này".

Mạng Hoàn Cầu cũng phân tích vai trò của Hoa Kỳ, rằng Mỹ "chính là kẻ xúi giục hậu trường của Việt Nam".

"Giả sử cuộc chiến bùng nổ ở Biển Đông, Mỹ không thể bàng quan, nhưng Mỹ và Việt Nam chưa có hiệp nghị quân sự, sự ủng hộ của Mỹ khẳng định khó có thể chi phối cục diện chiến tranh."

Phân tích của trang mạng này kết thúc bằng câu hỏi: "Chẳng lẽ chúng ta đợi đến sau khi Mỹ và Việt nam ký hiệp định quân sự mới động vũ ư ?"

Dương Danh Dy
Nguồn bbc.co.uk
Đọc thêm:bbc.co.uk - bbc.co.uk

Wednesday, March 3, 2010

Phan Kế Bính


Văn chương là gì ?

Ta trông lên bầu trời trăng sao vằng vặc, sông Ngân hà lấp lánh,lúc cầu vồng mọc, khi áng mây bay, bóng ráng chiều hôm, cơn mưa buổi sớm, làm cho vui mắt ta, cái ấy gọi là văn chương của bầu trời.

Ta nhìn xem dưới đất, ngọn núi kia cao chót vót, khúc sông nọ chảy quanh co, chỗ rừng núi, nơi đầm lầy, cây cổ thụ um tùm, đám cỏ hoa sặc sỡ, nào thành nào quách, nào tháp nào chùa, nào đám đồn điền cây cối tốt tươi, nào chỗ thị thành lâu đài san sát, làm cho sướng mắt ta, gọi là văn chương của trái đất.

Ta xem trong sách, nghe các lời nghị luận của những bậc thánh hiền, xem các bài trước tác của các nhà văn sĩ,câu văn, giọng nói, khúc hát, điệu ca, êm như tiếng đàn tiếng địch, vang như tiếng sáo tiếng chuông, làm cho vui tai ta, sướng dạ ta, gọi là văn chương của loài người.

Văn là gì? Văn là vẻ đẹp. Chương là gì? Chương là vẻ sáng. Lời nói của người ta tựa như có vẻ đẹp,vẻ sáng cho nên gọi là văn chương
.

Phan Kế Bính
Đọc thêm Phan Kế Bính

Tuesday, March 2, 2010

Trần Đình Tuấn


Giỗ đầu của Mẹ
Video Lòng Mẹ

Mùa xuân năm ngoái, lúc lật đật chạy ra cổng để lên phi trường San Francisco về Việt Nam dự lễ tang Mẹ, tôi thoáng thấy cây đào trước sân nhà phủ đầy hoa. Thấm thoát đã một năm, đầu xuân này tôi lại thấy cây đào rực rỡ một màu hồng, nghĩa là đã đến giỗ đầu của Mẹ.

Mẹ tôi sinh nhiều lần nhưng hiếm con gái. Chị Hải tôi mất sớm, chỉ còn mình chị Ái là con đầu lòng, chẳng may lại khờ khạo, không biết chữ, không biết đếm, suốt đời quanh quẩn trong nhà, như một đứa bé hoàn toàn lệ thuộc vào tình cảm thương, ghét, của ông bà, cha mẹ, và sáu đứa em trai.

Một ngày sau khi Mẹ tôi qua đời, chị Ái lại gần, ngước mặt nhìn tôi, vừa nói vừa nhếch mép như mỉm cười “Mẹ mất rồi chị Ái đâu còn gì nữa đâu?” Và chị mách “Con Tư nói bà mất rồi nhà mình bây giờ có ma.” Tôi cầm tay chị, bàn tay lớn và xương xẩu y như bàn tay Mẹ tôi. “Con Tư nó nói bậy chị Ái đùng nghe nó, Mẹ là Mẹ mình, Mẹ thương chị Ái, phù hộ cho chị Ái chứ làm gì có ma?” Chị cười, lập lại lời tôi nói như một đứa trẻ con “Ừ, Mẹ thương chị Ái, làm gì có ma.”

Năm 2002 tôi may mắn được đi cùng Mẹ về thăm quê, làng Trang Nghiêm Thượng, huyện Vụ Bản, tỉnh Hà Nam Ninh. Trong suốt thời thơ ấu, tôi đã nghe Bố Mẹ tôi nhắc đến tên ngôi làng này không biết bao nhiêu lần. Đối với tôi đó là một ngôi làng nhỏ điển hình ở miền đồng bằng Bắc Việt, nhưng với Mẹ tôi có lẽ nó là dấu ấn của cả một quãng đời son trẻ.

Chúng tôi đi trên con đường nhỏ láng xi măng, Mẹ tôi vui mừng dừng chân dưới cổng làng do ông Nội tôi xây cách nay hơn 70 năm. Một cụ già chống gậy đi ngang, ông chú dẫn đường hỏi “Cụ có nhận ra ai đây không?” Ông cụ nheo mắt nhìn Mẹ tôi rồi thốt lên “Giời ơi! Sao lại không? Cô Thư chứ ai! Đám cưới cô tôi là người treo pháo từ cái cổng làng này xuống đất, đốt pháo ngay ở cái cổng làng này!” Đó là lần đầu tiên trong đời tôi nghe một người gọi Mẹ tôi, một bà cụ đã ngoài 80, bằng “Cô”.

Đi một quãng, ghé vào một ngôi nhà, tôi thấy một ông cụ cởi trần, thân hình gầy gò chỉ toàn những xương và da, không có một chút mỡ dư nào, đang bửa củi ngoài sân. Ông chú tôi gọi lớn “Ông Cuông này, có biết ai đến thăm ông đây không?” À thì ra đây là ông Cuông, tôi đã được nghe Bố Mẹ tôi nhắc đến tên ông rất nhiều lần. Ông là người kéo xe cho ông Nội tôi. Lúc đó ông đã hơn 90 tuổi. Nhận ra Mẹ tôi, ông Cuông xúc động đến nỗi không nói được một lời nào. Ông lóng ngóng chân tay, nước mắt chảy dài trên gò má xương xẩu.

Ra khỏi nhà ông Cuông chúng tôi ghé thăm một bà cụ khác. Một lần nữa tôi lại được chứng kiến cảnh hội ngộ kỳ lạ giữa Mẹ tôi và những người quen xưa. Bà cụ và Mẹ tôi ôm lấy nhau, nhưng chỉ có Mẹ tôi là nói được một vài câu “Thôi, sao bà cứ khóc mãi thế, chị em mình còn mạnh khỏe gặp nhau thế này là mừng chứ sao lại khóc?” Mẹ tôi vừa nói vừa lau nước mắt. Trong suốt thời gian khoảng 15 phút, cho đến khi Mẹ tôi bịn rịn chia tay, bà cụ kia vẫn nghẹn ngào không nói được một câu nào.

Hồi tưởng lại những kỷ niệm về Mẹ, tôi cảm thấy anh chị em tôi thật là may mắn đã được Mẹ sinh ra. Tôi nhớ lại hồi còn 4, 5 tuổi, nhiều lần tôi bị ốm, lên cơn mê sảng, thấy ma quỷ đứng ở chung quanh giường, tôi kinh sợ khủng khiếp, khóc lặng đi, nhưng được Mẹ ôm chặt vào lòng thì nhanh chóng hết sợ.

Cũng trong thưở ấu thơ, tôi nhớ mãi có lần Mẹ đi vắng, Bố tắm cho tôi, tôi ngồi trong thau nước, co rúm vì bàn tay Bố thô nhám như lưỡi cọp chà xát trên lưng tôi, trái hẳn bàn tay êm, mịn của Mẹ.

Lớn hơn nữa, bao nhiêu lần đi học, đi chơi về, bụng đói, tôi chạy vào bếp rối rít hỏi “Cơm sắp chín chưa Mẹ”, làm cho Mẹ thêm quýnh quáng “Cơm sắp chin rồi, gớm cứ rối lên!” Nhiều lần Mẹ đang thái thức ăn, Mẹ bốc một miếng mề hay miếng gan gà bỏ vào miệng tôi, đây là những miếng ngon mà tôi nhớ mãi.

Lớn thêm nữa, những lần tôi ở trong căn phòng học nhỏ trên lầu với bạn gái, Me có việc phải lên lầu thì Mẹ luôn luôn hắng giọng để cậu quý tử tạm dừng tay. Và biết bao nhiêu lần chở Mẹ đi chợ, đi chùa, đi công việc, Mẹ ngồi phía sau nói đủ thứ chuyện mà chẳng mấy khi tôi chú ý nghe.

Tôi có bốn người anh em trai định cư tại Úc, trong đó có chú Phú, du học tại Úc từ năm 1972, đã 40 tuổi mà chưa lập gia đình. Cách nay hơn 10 năm, Mẹ có dịp sang Úc thăm các con, Mẹ kể có lần chú Phú đưa Mẹ đi chơi xong về nhà mời Mẹ lên lầu nghỉ. Trong lúc Mẹ nghỉ, chú Phú nấu cơm, lúc mời Mẹ xuống cơm nước đã sẵn sàng, có cả muỗng nĩa, khăn ăn… nồi cơm bé xíu gây ấn tượng cho Mẹ vì nồi cơm của gia đình tôi lúc nào cũng lớn. Mẹ thương Phú quá muốn chảy nước mắt. Thật là kỳ lạ. Mẹ nấu cho anh em chúng tôi không biết bao nhiêu bữa cơm, mà em tôi chỉ nấu cho Mẹ một bữa cũng làm Mẹ xúc động muốn chảy nước mắt. Sau này khi em tôi lập gia đình thì Mẹ tôi cũng vui mừng chảy nước mắt.

Từ khi Mẹ mất đến nay nhiều lần tôi nằm mơ thấy Mẹ. Lần nào cũng thấy Mẹ như vừa tắm xong, đầu tóc chải gọn gàng, mặc quần áo mới giống như Mẹ sắp đi chùa hay đi công việc. Lần nào tôi cũng mừng quá chạy lại, có lần hồi hộp nhào tới túm chặt lấy Mẹ, có lần nắm được cánh tay Mẹ, lần nào tôi cũng hỏi Mẹ có khỏe không? Mấy hôm nay Mẹ ở đâu? Lần nào Mẹ cũng trả lời Mẹ không sao, Mẹ khỏe lắm… Giọng nói và nét mặt của Mẹ y như lúc Mẹ vẫn trấn an anh em chúng tôi mỗi khi có chuyện gì không hay xảy ra. Sau những cơn mê như vậy, giật mình thức giấc giữa đêm, tôi có cảm giác sợ hãi, tuyệt vọng kinh hoàng y như hồi bé lên cơn mê sảng thấy ma đứng ở chung quanh giường mà Mẹ lại không có nhà.

Mùa xuân này nhìn cây đào nở rộ, rất đẹp ở trước sân, tôi có cảm tưởng như đất trời cũng mừng vui kỷ niệm ngày Mẹ hoàn tất cuộc hành trình trên cõi đời và trở về cõi Phật. Tôi cảm thấy đúng là phúc đức vô lương vô biên cho tất cả anh chị em chúng tôi kiếp này đã có cơ duyên được làm con của Mẹ.


Trần Đình Tuấn