Monday, November 25, 2013

NHÃ CA

GẶP NHÀ VĂN NGUYỄN TUÂN

Xế chiều. Chẳng nhớ là ngày nào, hình như cả tháng trước Giáng Sinh, khi anh Mai Thảo còn trong nhà, Trịnh Công Sơn có lần trở lại cửa hàng.

“Bà Nhã. Anh Nguyễn Tuân muốn gặp bà. Anh ngồi trên xe xích lô kìa.”

Xích lô đang đậu bên kia đường. Tôi bảo Sơn:

“Ông biết mà, tôi bận lo kiếm ăn, không văn chương chữ nghĩa gì nữa, không tiện gặp. Nhờ ông chuyển lời tôi cáo lỗi và kính thăm ông cụ.”

Mới cách đây không lâu, một bạn tới nói nhà thơ Lưu Trọng Lư từ Bắc vào, có lòng muốn gặp, tôi cũng đã trả lời tương tự.

Thơ Lưu Trọng Lư thời tiền chiến, chắc mãi mãi tôi sẽ còn trân trọng. Văn Nguyễn Tuân cũng vậy. Đọc Vang Bóng Một Thời, Chùa Đàn, cả bài tùy bút Phở ông viết hồi Nhân Văn Giai Phẩm, quả có một thời tôi đã khiếp phục về chữ nghĩa tài ba của ông. Nhưng gặp để làm gì lúc này?

“Bà Nhã à. Bà nên dịu đi một chút. Tụi này thấy bà vậy, thật không yên tâm chút nào. Anh Nguyễn Tuân là người được nể trọng…Bà hiểu, tôi chỉ muốn bà được yên để lo nuôi các cháu.”

Sơn nói, giọng ôn nhu, dỗ dành. Phải cám ơn lòng tốt của Sơn thôi.

“Sơn coi, cửa hàng bề bộn, toàn đàn bà son phấn không hà. Biết làm thế nào…”

“Bọn này có chương trình đưa anh Nguyễn Tuân tới uống đằng Cửu Long. Bà tới liền nghe.”

Cửu Long là nhà hàng Hoàn Mỹ, Majestic cũ, hiện là nơi ăn nhậu sang trọng nhất thành phố.

“Tới liền e kẹt. Còn cửa hàng, đâu bỏ đi được. Phải kiếm đủ gạo đã…”

“Thôi thì thu xếp thế này. Ở Cửu Long ra, cả bọn họp bên nhà Nguyễn Hải ngay kế Mini Rex. Tên này xếp xòng bên Nghiên CứuVăn Hóa. Đây lại đó chỉ cách mấy bước à. Bà sang chút nghe.”

Sơn chỉ số nhà, rồi tất tả bỏ đi.

Thôi kệ. Cứ sang.

Mang lại cái áo bà ba đem về từ nhà tù, túm tóc bằng sợi dây thung, sau 5 giờ, tôi tới.

Căn phố đẹp ngay mặt tiền đường Lê Lợi. Bấm chuông. Tư sản mới có khác. Một bà vú ra mở cửa. Chủ nhà trông tướng tá phương phi.Bộ râu kiểng không che hết nốt ruồi bự. Đúng tướng diện lọai người suốt đời được ăn ngon mặc đẹp. Hèn chi, cách đây không lâu, con cháu có việc đi ra ngoài, về kể: Từ rạp Rex tới Ngã tư Công Lý-Lê Lợi, bị công an giao thông chặn đường. Nghe nói vì có bà Võ Nguyên Giáp tới thăm bà con trong khu này. Chắc chỉ là chủ nhà này thôi.

“À, đây là chị Nhã Ca phải không. Mời chị. Mình lên lầu.”

Một tầng lầu. Lại một tầng lầu nữa. Dòm qua, phòng nào cũng bàn ghế, sa lông, rèm cửa. Thời trước, ngay cạnh Mini Rex mà sang trọng được mức này, cũng là tay chẳng vừa. Bước lên nữa. Cửa mở.

“Mời chị. Đây rồi.”

Đông gớm. Xem còn ai nào. Kìa, Sơn Nam. Nhiếp ảnh gia Ngọc Tùng. Trịnh Công Sơn. Ngồi cạnh Sơn? À, nhớ rồi, Phạm Nhuận. Nhiều người nữa, không biết là những ai, tất cả quây quần quanh ông già tóc bạc chấm vai.

“Chào Bác.”

Tôi nói với ông Nguyễn.

“Ê. Nhã Ca đây hả. Ngồi xuống. Ngồi. Không gọi bác. Gọi bằng anh.”

“Dạ. Thì xin phép anh.”

Đã tính bỡn: cả nước chỉ có một ông Bác Hồ thôi, chắc anh kiêng. May sao ngừng kịp.

Chả biết mặt mũi ra sao mà ông Nguyễn gật gù.

“Thôi nghe. Anh em cả. Ngồi xuống. Nhã Ca uống được thứ này chứ?”

Chai rượu có hình ông già đội mũ, cầm ba toong. Rượu vàng sóng sánh.

“Wisky Scott cơ à?”

“Nhã phải nhớ, anh Nguyễn Tuân mà. Luôn luôn phải Scott thứ thiệt chứ.” Sơn cười, nói.

Khó tin. Hẳn là chỉ mới thấy lại thứ này từ ngày vào miền Nam.Ông Nguyễn đang nhìn tôi. Chắc thấy khó ưa rồi. Đành sửa lại cái mặt.

“Thì uống.”

Hình như mọi người đang thi nhau trổ tài nói. Đùa nhiều. Cườinhiều. Đến lượt tôi ngắm lại ông Nguyễn. Tóc bạc phơ, mỏng mịn như tơ, dài rủ xuống vai. Mặt xương. Trán cao. Hói kiểu cách. Miệng mỏng.Ăn nói duyên dáng.

Thấy tôi nhìn, ông Nguyễn cười, né người sang một bên, hỏi:

“Đẹp. Phải không. Nhã Ca?”

Nơi ông Nguyễn vừa nghiêng người, nhô ra hai bông hoa súng nở bung, đỏ lóet. Chờ tôi thấy rõ bông hoa rồi, ông nói thêm.

“Hoa súng đấy.”

Tôi đã nhìn rõ hơn. Dựa sát vách tường, ngay bên ghế ông Nguyễn ngồi, từ một bịch ni lông cột lùi xùi để dưới sàn nhà, có hai cọng bông súng vươn lên.

Một người nào đó giải thích:

“Hai bông súng trong hồ cảnh ở Majestic đấy. Ngay cạnh bàn rượu. Anh Nguyễn Tuân thích lắm, bảo hoa đẹp thế này, chỉ có chúng ta mới xứng đáng thưởng thức. Vậy là bọn này ngắt hoa mang về đây. Chị thấy hay không?”

“Hay lắm.” Tôi nói.

“Phải có một tấm ảnh chụp với cô em Nhã Ca chứ.”

Ông Nguyễn nói. Nhiếp ảnh gia Ngọc Tùng vội vã cầm máy hình đứng dậy. Thì chụp.

“Ảnh mầu cơ. Nào. Lại gần đây. Cạn ly.” Ông Nguyễn bảo tôi.

Cạn ly thật. Một người nào đó châm thêm khi ly rượu trên tay ông Nguyễn vừa cạn.

“Chị Nhã Ca, một ly nữa.”

“Cám ơn. Xin đủ.” Tôi nói.

“Nhã Ca giờ còn viết không? Ông Nguyễn hỏi.

“Buôn bán.”

“Giỏi nhỉ. Đàn bà, miền nào cũng giỏi. Cứ lúc hữu sự mới thấy cái tài giỏi của họ.”

“Chắc không giỏi nấu nướng bằng mấy đàn ông đâu. Món Phở anh tả hồi Nhân Văn Giai Phẩm, lâu nay, có thêm thắt được chút gia vị nào chưa?” Tôi hỏi.
 
“À há. Chị Nhã Ca. Hồi nẫy khi chị chưa tới, anh Nguyễn Tuân có nói không biết Nhã Ca ra sao mà ai cũng gọi là cọp cái, nó có răngnanh à? Đó, bây giờ anh nhìn coi. Chị Nhã Ca bình thường như mọi người. Không có răng nanh.”

Giọng có vẻ quen. Tôi nhìn lại. Phạm Nhuận. Nhà thơ trẻ này mặt mũi đôn hậu, nụ cười hiền lành, lời lẽ thường ôn nhu. Hôm nay, sao có gì khác thường? Tôi không có răng nanh, mà đôi khi cũng lòng lang dạsói. Có cần nói điều ấy ra không? Không cần. Ông Nguyễn vẫn ôn tồn, kẻ cả:

“Viết lại đi Nhã Ca ạ. Nhã Ca viết tốt lắm. Anh có đọc một vài cuốn của cô.”

Tôi cười”

“Chắc cả Giải Khăn Sô Cho Huế?”

Ông Nguyễn cũng cười, giọng càng ôn tồn hơn:

“Anh đọc hết rồi. Chuyện cũng không có gì mới mẻ. Chỉ có một hình ảnh cô tả anh rất thích là cái nón từ trên trực thăng rớt xuống mặt biển…”

Tôi phì cười.

“Bộ ở ngòai Bắc không còn tới cả cái nón lá?”

Tôi nhớ tên cuốn sách mới của ông Nguyễn vừa thấy ở hiệu sách: Nhân dân ta đánh Mỹ giỏi thật. Đang tính thêm: Những chuyện giết chóc kiểu Mậu Thân Huế, đối với các anh ngòai Bắc, hẳn thấy là thường rồi.Đâu còn gì có thể gọi là mới. Nhưng Trịnh Công Sơn đã ngắt lời.

Sơn nói gì, tôi không nhớ rõ. Chắc cũng chỉ với ý tốt, muốn chuyển hướng câu chuyện. Cười thôi. Nhưng ông Nguyễn lại hỏi:

“Còn.. hắn? Đang được học tập cải tạo ở đâu?”

“Cái gì mà học tập cải tạo. Anh muốn hỏi về ông chồng tôi à? Tù thôi.Đi tù thì nói đi tù, việc gì phải dùng chữ hoa mỹ.”

Ông Nguyễn cười, không có vẻ gì phật ý. Tôi bắt gặp ánh mắt Phạm Nhuận nhìn sang, gật đầu kín đáo.

Có người hỏi về một bài hát mới nào đó của Trịnh Công Sơn. Sẵn đàn, mọi người yêu cầu hát nhưng Sơn từ chối, nói thôi để khi khác.

Tới lúc cáo lui rồi. Không chừng chính sự có mặt của tôi làm cụt hứng những bài ca vui vẻ. Sơn vốn không phải là người thích nói nhiều, lúc nào cũng nhỏ nhẹ, từ tốn.

Sơn Nam có nói gì không? Có. Một lúc nào đó, nhìn cái áo bà ba tôi tha từ nhà tù về, anh nói:

“Nhã Ca bây giờ đứng chủ một cửa tiệm lớn ngay trên đường Tự Do, trông oai vệ quá.”

Rồi:

“Cô em chả còn dáng dấp gì một nhà văn cả. Như bà chủ hụi. Buồn năm phút.”

Đúng là căn nhà tôi đang ở cứ khiêu khích mọi người. Đã tính trả lễ. Nhưng thôi, nhìn kìa. Anh chỉ còn da bọc xương, ốm tới nỗi cả khuôn mặt, chỉ còn thấy linh động ở miệng và răng. Mới đó hồi nào, Hà Thúc Cầndựng phim Đất Khổ do tôi viết đối thọai, cạnh các nhân vật chính như Trịnh Công Sơn, Vũ Thành An, Kim Cương, Dương Vân Quỳnh, có cả anh Sơn Nam ké vô một vai phụ. Trong vai một ông nhà văn nghèo mê đồ cổ, dù chỉ xuất hiện thoáng qua trong cảnh một quán nước ngọai ô, anh Sơn Nam lúc ấy còn linh họat, bén nhậy biết bao. Tội nghiệp anh ấy.

Tôi đứng dậy, chào ông Nguyễn. Hai cọng bông súng đã lìa gốc vẫn chờn bên vai ông. Mầu đỏ của bông súng tàn kề bên mái tóc bạc. Có hai người cùng chủ nhà tiễn khách. Phạm Nhuận:

“Nhuận bắt tay chị một cái. Chị Nhã Ca.”

Và Sơn Nam:

“Cô em. Lì xì anh đi.”

Ngó anh. Con Chim Quyên Xuống Đất ốm yếu, tong teo. Vẫn còn lòng quý mến chút Hương Rừng Cà Mau.

“Anh cầm lấy đi.”

“Thôi mà. Cầm đi. Đùa gì…”

Trịnh Công Sơn, ít lâu sau ghé lại, nhắc:

“Bà gặp anh Nguyễn Tuân đi. Có khó khăn gì, anh góp ý được.”

Xin đủ.

Đó là lần duy nhất tôi gặp ông Nguyễn. Cũng là lần duy nhất dự vào một buổi họp mặt có anh em nhà văn kẻ Nam người Bắc. Không bao giờ tôi có dịp nhìn thấy tấm ảnh mình đứng cạnh ông Nguyễn do anh Ngọc Tùng chụp.

Chỉ gặp lại Phạm Nhuận. Vài tháng sau, tới:

“Chị Nhã Ca. Nhuận tới thăm chị. Vội lắm.”

Mắt nhìn, cách chào, có vẻ lạ.

“Làm gì vội vậy. Không uống được với chị ly nước chanh hay sao?”

Hai chị em, hai ly nước chanh. Tới lúc từ giã, lại bắt tay, nắm chặt.Ai ngờ, từ giã thật. Ít lâu, nghe Nhuận đã đi thóat.

Mừng Nhuận. Bây giờ, là phần người còn ở lại.

NHÃ CA
@internet  - 
Đọc thêm :
 
 

Sunday, November 24, 2013

Hoàng Hậu Nam Phương


 
Pháp: Kỷ niệm 100 năm ngày sinh
Hoàng Hậu Nam Phương (10/11/1913-2013)
 
Bà là vợ của Hoàng Đế Bảo Đại, vua của nước Việt Nam, khuê danh bà là Nguyễn Hữu Thị Lan (còn có tên khác là Maria Therese Nguyễn Hữu Hào) là ái nữ của nhà đại điền chủ phú hào Phước Mỹ Quận Công Nguyễn Hữu Hào, người xứ Gò Công miền tây nam phần. Bà cũng là cháu của ông Lê Phát Đạt tức ông Huyện Sỹ một trong những người giàu nhất Nam Kỳ vào thế kỷ XX. 

Ông Bảo Đại có cho biết trong cuốn Con Rồng An Nam: Cô Nguyễn Hữu Thị Lan học tại trường Couvent des Oiseaux tại Pháp, và trở về nước vào năm 18 tuổi. Dịp này, do sự sắp đặt cố ý của nhà toàn quyền Pasquier, ông bà Hào và bà Charles (mẹ đở đầu của ông vua tại Pháp) bà gặp vua Bảo Đại tại Đà Lạt. 

Trai tài gái sắc hạp ý mến mộ rồi yêu nhau và quyết định đi đến hôn nhân. Ngày 20 tháng 3 năm 1934, một lễ cưới uy nghi diễn ra tại hoàng cung, và trong ngày trọng đại này, cô tiểu thư Nguyễn Hữu Thị Lan được vinh dự hưởng một biệt lệ lần đầu tiên trong triều đình nhà Nguyễn. Bà được tấn phong là Nam Phương Hoàng Hậu (với ý nghĩa tôn quý là hương thơm của miền Nam). Ngoài ra bà cũng được phép mặc phẩm phục màu vàng da cam, là màu sắc chỉ dành cho Hoàng Đế (Trong triều đình nhà Nguyễn. Hoàng Hậu chỉ được phép tấn phong sau khi nhà Vua đã băng hà). 

Theo như tài liệu của ông Nguyễn Văn Lục, bà Hoàng Hậu là người phụ nữ đầu tiên có tân học, ảnh hưởng nếp sống nếp suy nghĩ phương Tây. Bà cũng là người phụ nữ đầu tiên ở nước ta cùng vua tiếp khách ngoại quốc như tiếp Thống chế Tưởng Giới Thạch, Quốc trưởng Shianouk… Trong những lễ lạc tiếp kiến, bà đóng vai trò đệ nhất phu nhân. 

Bà cũng là Hoàng Hậu đầu tiên xuất cung, tham gia các sinh hoạt xã hội như đi thăm cô nhi viện, trường học hoặc những cơ sở xã hội ..v..v.. Ngày Chủ Nhật, bà đi lễ nhà thờ Phú Cam như mọi người dân bình thường. 

Toàn quyền Decoux đã hết lời khen ngợi bà là một người đức hạnh, nề nếp hài hoà giữa hai nếp sống Đông Tây. Về phía quốc tế, Hoàng Hậu nhận được những bằng khen của Hàn Lâm Viện Y khoa Pháp và của Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế. 

Trong những năm tháng hạnh phúc, bà sinh hạ được 2 Hoàng tử và 3 Công chúa. Đến tháng 9 năm 1945 triều đình đến hồi mạt vận quốc phá gia vong, vua Bảo Đại do sự thúc ép của Việt Minh buộc phải từ chức thoái vị và hạnh phúc của bà mỏng dần trong những mối tình trăng hoa của chồng. 
 
Càng ngày ông Vĩnh Thụy (tên tộc của Bảo đại) càng sa đoạ trác táng thì bà Vĩnh Thụy càng im lặng nghiêm trang, có lẽ vì muốn giữ uy tín cho Hoàng tộc và cho cả con cái mình cho nên bà cứ cam chịu theo cái cách của người vợ có học và có nhân cách. 

Vào năm 1950 bà Vĩnh Thụy quyết định mang các con sang Pháp, chấm dứt những liên hệ dây dưa với những tai tiếng của chồng. Trong những năm dài cuối đời, bà sống trong sự lẽ loi nhưng kiêu hảnh. Bà là một vị mệnh phụ uy nghi, đẹp trang trọng quý phái, nhưng trên hết, dù trong bất hoàn cảnh nào, bà vẫn sống một cách đàng hoàng đúng bậc mẫu nghi của một bà hoàng hậu. 

Ngày 14 tháng 9 năm 1963. Bà đột ngột nhẹ nhàng lặng lẽ qua đời tại làng Chabrignac cách thủ đô Paris khoảng 500 km. 

Trong một cuốn sách có đoạn thật buồn bã mà ông Bảo Đại đã kể về bà trong ngày cưới như sau: Vâng, bây giờ, chung quanh đầy văn võ bá quan, Bà vẫn cô đơn, và cả đời bà sau này cũng cô đơn. 

Trong suốt mười năm sống ở Huế, bà vẫn cô đơn như thế giữa đám thị nữ, quan thần, dòng tộc, giữa những sắc thái dị biệt, miền, tiếng nói, tôn giáo, nếp sống, văn hoá, học vấn. Chỉ những sự khác biệt đó thôi cũng đẫy bà vào tư thế một mình. Và đã theo đuổi suốt đời còn lại của bà. 

Saturday, November 23, 2013

Nguyễn Quang Duy

CẦN CHẤM DỨT BỊP DÂN
 
Không biết bên trong Hội Nghị 8 chuyện gì đã xảy ra? Chỉ biết sau đó Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng biểu lộ ý tưởng phải kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội dù “…xây dựng chủ nghĩa xã hội còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hòan thiện ở Việt Nam hay chưa.”
 
Khi ý tưởng của ông Trọng còn đang được bàn tán xôi nổi lại xuất hiện 3 Youtube các lời phát biểu của Giáo sư Trần Phương góp ý cho Hội thảo Văn kiện Đại hội lần thứ XI tổ chức vào khỏang tháng 10-2010. Được biết Giáo sư Trần Phương nguyên Phó thủ tướng và hiện là Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, chính ông Phương đã đặt vấn đề đến hết thế kỷ này không biết đã hình dung được chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam hay chưa.
Mục đích của Giáo sư Trần Phương là khuyến cáo đảng Cộng sản đừng tiếp tục bịp dân, cần đoạn tuyệt với chủ nghĩa xã hội Marx Lenin để theo con đường kinh tế thị trường, thực hiện xã hội dân sự, dân chủ và pháp quyền.
 
Chỉ Là Bịp Dân
 
Giáo sư Trần Phương cho biết tất cả những dự báo của Marx về chủ nghĩa xã hội và về chủ nghĩa cộng sản là sai. Chủ nghĩa xã hội mà ông Marx dự kiến là xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, lấy chế độ công hữu làm nền tảng, thu hẹp và xóa dần cái kinh tế tư nhân và thị trường tự do, rồi phân phối theo lao động nhằm thực hiện công bằng xã hội đều chỉ là ảo tưởng. Thực tế đã chứng minh nó sai. Vì nó sai nên sau 70 năm xây dựng tại Liên Xô, người dân nước này đã dứt khoát từ bỏ nó.
 
Trong trường hợp Việt Nam nó cũng đã thất bại. Giáo Sư Phương cho biết: “Thất bại thì rõ ràng rồi! nói chế độ công hữu, thì chế độ công hữu làm mất động lực của xã hội, phải trở lại chế độ tư hữu đấy. Nói là chuyên chính vô sản, thì phải trở lại chế độ dân chủ đấy. Nói là phải kế hoạch hóa tập trung, cuối cùng phải trở lại kinh tế thị trường đấy. Đó là một sự thất bại rõ ràng rồi, thế thì nói cái gì đây? Cho nên, nói chủ nghĩa Marx-Lenin là nền tảng tư tưởng của đảng ta, thì tôi không hiểu, xác định nền tảng tư tưởng, thì cái gì là nền tảng, còn cái gì không là nền tảng?
 
Ông Phương còn cho biết “Ngay Đại Hội X, tôi đã phát biểu thẳng với các anh lãnh đạo rồi. Tôi nói là, định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì, phải ghi ra. Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta tiến tới là cái gì, phải ghi ra. Nhưng mà một câu thách đố đơn giản như vậy mà họ không làm nổi”.
 
Ông Phương kết luận khái niệm chủ nghĩa xã hội được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ: “Thật ra mà nói, chúng ta nói và chúng ta biết là chúng ta bịp người khác. Đến tôi bây giờ, tôi cũng không biết cái chủ nghĩa xã hội mà chúng ta sẽ đi là cái chủ nghĩa xã hội gì đây?
 
Về Cương lĩnh của đảng Cộng sản, Giáo Sư Trần Phương nhận xét: “Cương lĩnh tức là cái đảng này phải tiến lên đến đâu, nó đi theo con đường nào. Thế mà cương lĩnh, nói chủ nghĩa Marx – Lenin, thì chủ nghĩa Marx – Lenin có điều đúng và có điều sai, nhất là những dự đoán của Marx và Lenin về cái gọi là chủ nghĩa xã hội, sai rồi, mà rõ ràng là thực thi 70 năm đã thất bại rồi… Cho nên tôi đề nghị là nếu muốn trung thực thì cái cương lĩnh đó phải xác định cái định hướng xã hội chủ nghĩa là cái gì? Mà cái chủ nghĩa xã hội theo đuổi, nó sẽ là cái gì.”
 
Giáo Sư Trần Phương tiếp tục nhận định vì không có nền tảng tư tửơng nên đảng Cộng sản chẳng đưa ra được chiến lược xây dựng công bằng xã hội nào. Theo ông Phương, Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, đến trên 70 phần trăm dân số sống tại nông thôn, đảng Cộng sản lại không mấy ngó ngàng đến nông dân và nông thôn. Bởi thế nông thôn xưa đã nghèo và lạc hậu nay vẫn thế. Thậm chí còn tệ hại hơn xưa.
 
Chủ Nghĩa Xã Hội mang mầu sắc Trung Quốc
 
Mặc dù nhận định đảng Cộng sản không tư tưởng, không hướng đi, không biết đang làm điều gì, chỉ nói để bịp người dân. Trong ba bài phát biểu Giáo Sư Trần Phương không nhắc đến lý do đảng Cộng sản vẫn tiếp tục tồn tại là nhờ dựa vào mô hình tư bản nhà nước.
Nhà nước nắm cả độc quyền kinh tế lẫn chính trị, tận khai tài nguyên và nhân lực gia tăng xuất cảng chiếm thị trường thế giới. Bởi thế tất cả những sai lầm của mô hình nhà nước tư bản nói trên, như bóc lột nhân công, cướp đất nông dân, tham nhũng, cửa quyền, bất công và bạo lọan xã hội, thì cả Trung Quốc lẫn Việt Nam đều đã bộc lộ nguyên hình.
Trung Quốc là một nước lớn và đảng Cộng sản Trung Quốc biết rõ tại sao họ áp dụng mô hình này, bởi thế khi mô hình được áp dụng vào Việt Nam nó lại bộc lộ những yếu điểm của đảng Cộng sản Việt Nam. Thí dụ trong khi cán cân thương mãi quốc tế Trung Quốc bội thu và trở thành người chủ nợ lớn nhất thế giới, thì ngược lại Việt Nam bội chi và nợ nần thế giới ngày càng chồng chất.
Biết rõ nhưng yếu điểm của mô hình đang đeo đuổi, Hội nghị trung ương 3 khóa 18 của đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng bí thư Tập Cận Bình cho biết “những sai trái trong hệ thống và cơ chế phải bị loại bỏ”. Theo hãng Reuters đưa tin: "Vấn đề cốt lõi là cần làm rõ mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường, cho phép thị trường đóng vai trò quyết định trong việc phân bổ các nguồn lực và cải thiện vai trò của chính phủ".
Những lĩnh vực sẽ phải cải cách mạnh mẽ, gồm thủ tục hành chính, các ngành công nghiệp độc quyền, đất đai, hệ thống thuế và tài chính, quản lý tài sản nhà nước, chính sách mở cửa và cải cách. Theo đó, chính phủ sẽ sử dụng các công cụ thuế và tài chính để giám sát thị trường ở tầm vĩ mô.
Trong khi ấy, đảng Cộng sản Việt Nam lại vẫn chưa chấp nhận những sai trái trong hệ thống và cơ chế, vẫn tiếp tục lừa bịp người dân phải kiên định con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội lấy chủ nghĩa Marx Lenin làm nền tảng.
 
Cuộc Đấu Tranh Tư Tưởng
 
Những lời phát biểu của Giáo Sư Trần Phương phần nào xác nhân một cuộc đấu tranh tư tưởng bên trong và bên trên của đảng Cộng sản đang xảy ra và dường như cuộc đấu tranh này đã bước sang một giai đọan mới.
Ngày 9-11-2013 vừa qua, phát biểu trong Ngày Pháp luật Việt Nam, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố: “Hiến pháp năm 1946 thấm đẫm tư tưởng dân chủ pháp quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh, coi trọng các giá trị quyền con người, quyền công dân, đã trở thành tiền đề pháp lý đặc biệt quan trọng cho việc thiết lập một chính quyền dân chủ, mạnh mẽ và sáng suốt”. Ông cho biết “Nhà nước phải được tổ chức, hoạt động theo Hiến pháp, pháp luật và phải được kiểm soát bằng chính Hiến pháp và pháp luật”.
Các phát biểu trích dẫn bên trên rõ ràng mâu thuẫn với tuyên bố của ông Nguyễn Phú Trọng “Hiến Pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương Lĩnh của đảng” . Và thật vô cùng phũ phàng khi một đảng với Cương Lĩnh chỉ gồm những điều bịp bợm lại áp đặt như Hiến Pháp một quốc gia.
 
Mô Hình Tự Do Dân Chủ Xã Hội
 
Trong bài phát biểu, Giáo sư Trần Phương cho biết: “Nói là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà ông cóc hiểu dân chủ xã hội chủ nghĩa khác cái dân chủ tư sản là cái gì! Trong khi đó ông mời hết các cái thằng luật gia của chủ nghĩa tư bản nó đến nó dạy ông.” Giới trí thức Hà Nội như Giáo Sư Trần Phương đến nay chỉ thảo luận quanh hai từ “dân chủ”. Thực ra chính tự do, và nhất là tự do chính trị, mới chính là động lực phát triển quốc gia.
Giáo sư Phương cũng nhắc đến hai quốc gia Thụy Điển và Na Uy, hai nước Bắc Âu thường được giới trí thức Hà Nội xem như mô hình thành công của chủ nghĩa xã hội dân chủ.
Trong bài “Tù Mù Về Chủ Nghĩa Marx” người viết đã giải thích các quốc gia Bắc Âu là những quốc gia tự do. Họ đều là những quốc gia tự do và dân chủ nhất trên thế giới. Các đảng dân chủ xã hội tại các quốc gia Bắc Âu không theo bất cứ một chủ thuyết nào, họ chỉ theo khuynh hướng xã hội và sử dụng đấu tranh nghị trường thực hiện xã hội tự do dân chủ công bằng và bình đẳng.
Chính nhờ hệ thống đa đảng, cương lĩnh của các đảng dân chủ xã hội Bắc Âu đã phải tự thay đổi để thích ứng với hòan cảnh chính trị. Thí dụ các đảng dân chủ xã hội từ các đảng của tầng lớp công nhân, ngày nay đã điều chỉnh và trở thành đảng của tòan dân, hay phải ủng hộ các cải cách vi mô, cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước tạo cạnh tranh và hiệu quả cho nền kinh tế quốc gia.
Chính nhờ sự ưu việt của mô hình tự do dân chủ, càng ngày càng nhiều quốc gia trên thế giới trở thành các quốc gia tự do. Các quốc gia tự do thì càng ngày càng trở nên tự do hơn. Thế giới đang trở thành một thế giới tự do.
 
Việt Nam Cũng Sẽ Tự Do
 
Trở lại trường hợp Việt Nam, gần đây khi sang Hoa Kỳ hai ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng đã cam kết tôn trọng nhân quyền trong đó có quyền chính trị và bảo đảm thị trường kinh tế tự do, để được cứu xét tham gia Hiệp định Thương mại Xuyên Thái Bình Dương.
Ngày 12-11-2013, Việt Nam lần đầu tiên có ghế trong Hội đồng Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Bình Minh hứa sẽ "thực hiện tốt các nghĩa vụ và cam kết của một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền và thành viên Liên Hiệp Quốc".
Chúng ta có thể không tin vào những lời hứa hẹn của giới cầm quyền cộng sản, nhưng những lời hứa của ba ông Sang, Dũng và Minh cho thấy Việt Nam không còn con đường khác hơn con đường tự do. Việc chúng ta có thể làm là một mặt thúc đẩy họ phải thực hiện các cam kết quốc tế. Nếu họ không làm chúng ta cần tích cực tố cáo họ cũng chỉ bịp dân.
Ngược lại, trong một thế giới với một hệ thống thông tin mở, mọi thông tin đều được nhanh chóng phổ biến đến mọi tầng lớp xã hội, thì các khẩu hiệu tiến lên chủ nghĩa xã hội kiểu Marx – Lenin của Tổng Bí Thư đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng đều chỉ là bịp bợm và cần phải chấm dứt.
Tự Do, dân chủ, đa nguyên, đa đảng tự nó cũng không thể mang lại công bằng và bình đẳng cho toàn dân.
Muốn ở cuối thế kỷ này đất nước chúng ta có thể đạt được những tiêu chuẩn công bằng và bình đẳng xã hội như các quốc gia Bắc Âu thì những người theo khuynh hướng xã hội vừa phải nỗ lực xây dựng tự do dân chủ, vừa phải không ngừng đấu tranh cải thiện đời sống tinh thần và vật chất của các tầng lớp nông dân, công nhân, sắc tộc thiểu số và dân nghèo thành thị.
Xã hội công bằng không phải tự nó có được hay do ban bố của giới chức cầm quyền, mà có được từ quá trình đấu tranh nghị viện thông qua các chính sách an sinh xã hội.
 
Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
15-11-2013
 
GS Trần Phương chính thức phát biểu tạ Hà nội: Chủ Nghĩa Xã Hội được đưa ra chỉ để bịp thiên hạ !
 
-GS Trần Phương tuyên bố: Chủ nghĩa Xã hội đã thất bại! Chủ nghĩa Cộng sản là ảo tưởng !
 
-GS Trần Phương xác định: "CHÚNG TA TỰ LỪA DỐI CHÚNG TA VÀ CHÚNG TA LỪA DỐI NGƯỜI KHÁC" (Phần cuối)
 

Friday, November 22, 2013

Chu Hải Lượng

Bữa tiệc trong phòng vệ sinh
 
Chị là Oshin – người giúp việc nhà cho một ông chủ ngoại ngũ tuần, rất giàu có. Đêm xuống, xong việc, vội vàng về với đứa con trai nhỏ 5 tuổi suốt ngày ngóng đợi trong căn nhà tồi tàn..
Hôm ấy, chủ nhà có lễ lớn, mời rất nhiều bạn bè quan khách đến dự tiệc đêm. Ông chủ bảo : Hôm nay việc nhiều, chị có thể về muộn hơn không? Thưa được ạ, có điều đứa con trai nhỏ quá, ở nhà tối một mình lâu sẽ sợ hãi. Ông chủ ân cần: Vậy chị hãy mang cháu đến cùng nhé.
 
Chị mang theo con trai đến. Đi đường nói với nó rằng : Mẹ sẽ cho con đi dự tiệc đêm. Thằng bé rất háo hức. Nó đâu biết là mẹ làm Oshin là như thế nào kia chứ! Vả lại, chị cũng không muốn cho trí tuệ non nớt của nó phải sớm hiểu sự khác biệt giữa người giàu kẻ nghèo. Chị âm thầm mua 2 chiếc xúc xích.
 
Khách khứa đến mỗi lúc mỗi đông. Ai cũng lịch sự. Ngôi nhà rộng và tráng lệ… Nhiều người tham quan, đi lại, trò chuyện. Chị rất bận không thường xuyên để mắt được đến đứa con nhếch nhác của mình. Chị sợ hình ảnh nó làm hỏng buổi lễ của mọi người. Cuối cùng chị cũng tìm ra được cách : đưa nó vào ngồi trong phòng vệ sinh của chủ… đó có vẻ như là nơi yên tĩnh và không ai dùng tới trong buổi tiệc đêm nay. Đặt 2 miếng xúc xích vừa mua để vào chiếc đĩa sứ, chị cố lấy giọng vui vẻ nói với Con : Đây là phòng dành riêng cho con đấy, nào tiệc đêm bắt đầu! Chị dặn con cứ ngồi yên trong đó đợi chị đón về. Thằng bé nhìn “căn phòng dành cho nó” thật sạch sẽ thơm tho, đẹp đẽ quá mức mà chưa từng được biết. Nó thích thú vô cùng, ngồi xuống sàn, bắt đầu ăn xúc xích được đặt trên bàn đá có gương, và âm ư hát… tự mừng cho mình.
 
Tiệc đêm bắt đầu. Người chủ nhà nhớ đến con trai chị, gặp chị đang trong bếp hỏi. Chị trả lời ấp úng: Không biết nó đã chạy đi đằng nào… Ông chủ nhìn chị làm thuê như có vẻ giấu diếm khó nói. Ông lặng lẽ đi tìm… Qua phòng vệ sinh thấy tiếng trẻ con hát vọng ra, ông mở cửa, ngây người: Cháu nấp ở đây làm gì ? Cháu biết đây là chỗ nào không ? Thằng bé hồ hởi : Đây là phòng ông chủ nhà dành riêng cho cháu dự tiệc đêm, mẹ cháu bảo thế, nhưng cháu muốn có ai cùng với cháu ngồi đây cùng ăn cơ!
 
Ông chủ nhà thấy sống mũi mình cay xè, cố kìm nước mắt chảy ra, ông đã rõ tất cả, nhẹ nhàng ngồi xuống nói ấm áp: Con hãy đợi ta nhé. Rồi ông quay lại bàn tiệc nói với mọi người hãy tự nhiên vui vẻ, còn ông sẽ bận tiếp một người khác đặc biệt của buổi tối hôm nay. Ông để một chút thức ăn trên cái đĩa to, và mang xuống phòng vệ sinh. Ông gõ cửa phòng lịch sự… Thằng bé mở cửa… Ông bước vào: Nào chúng ta cùng ăn tiệc trong căn phòng tuyệt vời này nhé. Thằng bé vui sướng lắm.
 
Hai người ngồi xuống sàn vừa ăn ngon lành vừa chuyện trò rả rích, lại còn cùng nhau nghêu ngao hát nữa chứ… Mọi người cũng đã biết. Liên tục có khách đến ân cần gõ cửa phòng vệ sinh, chào hỏi hai người rất lịch sự và chúc họ ngon miệng, thậm chí nhiều người cùng ngồi xuống sàn hát những bài hát vui của trẻ nhỏ… Tất cả đều thật chân thành, ấm áp!
 
Nhiều năm tháng qua đi… Cậu bé đã rất thành đạt, trở nên giàu có, vươn lên tầng lớp thượng lưu trong xã hội. Nhưng không bao giờ quên giúp đỡ những người nghèo khó chăm chỉ. Một điều quan trọng đã hình thành trong nhân cách của anh: Ông chủ nhà năm xưa đã vô cùng nhân ái và cẩn trọng bảo vệ tình cảm và sự tự tôn của một đứa bé 5 tuổi như thế nào…
 
Chu Hải Lượng
@ mquiz.net

Thursday, November 21, 2013

China

Thế nào là TRUNG QUỐC !

Tôi viết những giòng này tại thành phố Thẩm Quyến, miền Nam Trung Hoa, sau khi đã đi thăm Hồng Kông, Bắc Kinh, Thượng Hải, Hàng Châu, Tô Châu và Quế Lâm (Guilin).

Con rể út của chúng tôi được phái đi làm việc cho hãng dầu Husky Canada ở Thẩm Quyến (Shenzhen) trong vòng một năm và vợ con cũng đi theo. Vì thế chúng tôi đi thăm con cháu và tiện thể làm một vòng du lịch Trung Hoa từ 21 tháng 3 đến 23-4-2012.
 

Chúng tôi bay từ Vancouver đến Hồng Kông và ở chơi tại thành phố cảng này vài ngày. Lần cuối tôi thăm Hồng Kông cách đây 40 năm. Thành phố có thay đổi nhưng không nhiều. Vẫn người đông như kiến, bây giờ có vẻ đông hơn. Vẫn những tiệm ăn đầy thực khách ăn uống nói cười ồn ào. Các món ăn vẫn ngon, đặc biệt món ngỗng quay (síu ngộ) sau 40 năm tôi mới được thưởng thức lại. Vẫn những cao ốc treo đầy sào và dây phơi quần áo ngoài mặt tiền. Cái khác của Hồng Kông là có nhiều nhà cao tầng hơn. Khách sạn chúng tôi cư ngụ cao trên 70 tầng. Chúng tôi ở tầng 53, cách mặt đất trên 200 thước tây, nhìn xuống thấy eo biển, tầu bè, xe cộ nhỏ li ti như đồ chơi. Một điều khác nữa là dân Hồng Kông bây giờ có vẻ giầu hơn, ăn mặc đẹp đẽ hơn. Nhiều tiệm quần áo, mỹ phẩm, vật dụng sang trọng đắt tiền của các công ty nổi tiếng quốc tế, Gucci, Vuitton, Calvin Klein, Channel, Christian Dior… được mở tại nhiều khu phố và thương xá.

Ngoài ra, tôi cũng bất ngờ chứng kiến ít nhất 5 địa điểm công khai và liên tục chống cộng sản Trung Quốc suốt ngày, cả ở khu chợ trời bên Cửu Long lẫn những khu phố sang trọng trên đảo Hông Kông. Tại những địa điểm này, người ta treo những biểu ngữ viết đầy đại tự, đặt những bàn dài bầy đầy tài liệu, sách báo, một người cầm loa điện oang oang lên án Trung Quốc bằng tiếng Anh và tiếng Hoa về đủ thứ tội, từ tàn sát sinh viên tại Thiên An Môn, đàn áp tôn giáo, hành hạ Pháp Luân Công, đến tội mua bán các bộ phận con người. Có nơi còn cho một người đàn ông ở trần nằm trên bàn, thân thể được khoanh vẽ những bộ phận được mua bán như tim, phổi, gan, thận…Ai nói cứ nói, ai nghe cứ nghe, ai đi cứ đi, Tôi tự hỏi khi hết thời hạn 50 năm hưởng quy chế riêng (còn trên 30 năm nữa), liệu Hồng Kông sẽ còn được tự do như thế này nữa không?
Thẩm Quyến, nơi các cháu ở, cách Hồng Kông một giờ xe hơi hay 45 phút đi phà qua biển. Thành phố này được chính phủ cộng sản Trung Hoa xây dựng từ 1979 để làm khởi điểm cho việc mở cửa đón tư bản quốc tế đến đầu tư và tiếp thâu các ngành công nghệ tiên tiến. Vì vậy, rất nhiều công ty quốc tế có trụ sở ở đây, nhiều chuyên viên, kỹ thuật gia được đưa từ Mỹ, Canada, Nhật và châu Âu đến làm việc. Họ được hưởng nhiều quyền lợi và được chiều chuộng để đền bù nỗi buồn xa xứ. Vợ con được ở trong những biệt thự hay apartments có người lau dọn, có cả điểm tâm miễn phí y hệt khách sạn 5 sao. Con cái được học trường quốc tế, các thầy cô được gửi từ Úc, Mỹ, Pháp tới. Những “expats” (expatriates: những người đi xa xứ) không được lái xe nhưng được cấp 2,000 Đô la một tháng để đi taxi cho an toàn. Vì vậy có một số “expats” không muốn về, trong khi đa số chỉ muốn làm một vài năm rồi qui cố hương, sợ các con mất liên hệ với đại gia đình và với bạn bè, chưa kể đời sống không thoải mái ở lục địa Trung Hoa như tôi sẽ trình bầy sau.
 

Chúng tôi đi Bắc Kinh thăm khu lăng mộ các vua triều Minh và Vạn Lý Trường Thành (cách Bắc Kinh 80 cây số), bức tường thành dài 7,000 cây số được xây dọc dẫy núi ngăn Trung Hoa và Mông Cổ, khởi công từ thời Tần Thủy Hoàng, trước Công Nguyên. Đây là một công trình đòi hỏi qúa sức chịu đựng của con người, đã làm tan xương nát thịt hàng trăm ngàn lao nô là những dân lành vô tội. Điểm trung tâm của Bắc Kinh là quảng trường Thiên An Môn, mỗi bề dài một cây số, nơi đây có viện bảo tàng và lăng Mao Trạch Đông, có Đại Sảnh Nhân Dân nơi họp Quốc Hội và đại hội đảng Cộng Sản, đặc biệt là nơi hàng vạn sinh viên đã chiếm cứ nhiều ngày vào cuối thập niên 80 của thế kỷ trước để bầy tỏ ước vọng tự do, và hàng trăm, có thể hàng ngàn người trong số họ đã bị xe tăng và súng đạn của Quân Đội “Nhân Dân” (!) tàn sát. Bước chân trên khu đất này, lòng tôi không khỏi ngậm ngùi, nghĩ tới những người trẻ đã chết vì dám đứng lên đòi hỏi Tự Do.
 

Liền mặt Bắc của quảng trường Thiên An Môn là cổng chính vào Tử Cấm Thành, hoàng cung của các vua triều Minh và triều Thanh. Tầng cao của cổng thành là nơi các đại đế thời cộng sản đứng duyệt hàng vạn, hàng triệu quân sĩ, vệ binh đỏ và dân đen vừa diễn hành trên quảng trường vừa khản cổ hoan hô các đại lãnh tụ của giai cấp công nông. Cung vua rộng lớn nhưng đơn điệu, nhìn dễ chán. Tòa nhà nào cũng có kiến trúc giống nhau với mái cong lợp ngói âm dương, với đường đi hướng Nam Bắc theo phong thủy, với hai tòa nhà phụ tả hữu theo ying yang. Bên trong thì lạnh lẽo, ngoài ngai vàng hay long sàng cũ kỹ, chỉ có một vài tủ gỗ kềng càng, chạm khắc rối mắt. Phòng ở của 3,000 cung tần phi nữ thì giống như những “cachot” nhà tù, mái thấp, mùa hè phải là lò hấp, mùa đông chắc không khác tủ lạnh. Các lâu đài của vua chúa quan quyền phương Tây mỹ thuật hơn, sang trọng và ấm áp hơn những “lãnh cung” của mấy ông “Con Trời”. Dù sao cũng nên thăm Tử Cấm Thành một lần cho biết và để được dẵm lên bước chân của những vua quan nhà Minh và nhà Thanh đã từng xua quân xâm lăng Việt Nam và bị Lê Lợi và Quang Trung đánh đuổi không còn manh giáp.
Phải công nhận Bắc Kinh xứng đáng là thành phố thủ đô của một nước lớn với những quảng trường và đại lộ rộng lớn, với những công thự bề thế, những toà nhà tân có cổ có, nhất là không có nạn treo sào phơi quần áo trên cửa cao ốc như ở Hồng Kông, Thượng Hải và các thành phố phiá Nam.
 

Thượng Hải (Shanghai) là trung tâm thương mại và kinh tế của Trung Quốc. Chỉ cần nhìn bề ngoài của thành phố, người ta đã nhận thấy điều này. Khi đi trên đường tản bộ rộng mênh mông được xây dọc bờ sông Hoàng Phố (Huangpu), du khách nhìn về phiá tay mặt bên kia đại lộ là thấy ngay những tòa nhà đồ sộ, cổ kính, kiến trúc theo kiểu thời thuộc địa (colonial) vào các thập niên 20, 30 của thế kỷ 20, hình ảnh tiêu biểu của một Thượng Hải thời nhượng địa (concession) ngoại quốc, với những kiều nữ Tây phương trưng diện kiểu “belle époque” và những người đẹp Thượng Hải khoe đường cong nét uốn trong những bộ sường sám bó xát người, yểu điệu quyến rũ những tài phiệt “playboy”. Đó cũng là thời có những công viên trong các nhượng địa treo bảng “Cấm chó và người Tầu”. Những tòa nhà này trước và bây giờ đều được dùng làm trụ sở các ngân hàng, các thị trường chứng khoán, các công ty lo dịch vụ tài chánh. Nhìn qua sông bên tay trái là tháp truyền hình cao chót vót và một rừng nhà chọc trời bọc kiếng, rất mới, rất hiện đại, hơn hẳn nhiều thành phố nổi tiếng ở Bắc Mỹ. Đường phố Thượng Hải đầy đặc xe hơi đủ hiệu, hầu như lúc nào cũng kẹt xe. Thế nhưng Thượng Hải cũng tiêu biểu cho sự tương phản của xã hội Trung Quốc. Bên cạnh những xe Mercedes và BMW bóng loáng là từng đoàn xe đạp, xe gắn máy và cả xe lôi đạp kéo theo thùng chở hàng đã bong sơn, han rỉ. Kế bên một building mới cất là một chung cư cũ kỹ, quần áo phơi đầy trên ban công và cửa sổ. Tôi đã đi qua một con đường có dẫy nhà sang trọng, phiá trước trồng một hàng cây xanh cắt tỉa khéo léo có hàng rào sắt uốn chắn bên ngoài. Nhưng giữa những cây cổ thụ trồng trên lề đường trước dẫy nhà, dân chúng đã thản nhiên giăng những sợi dây và phơi trên đó đủ thứ quần áo, kể cả nịt ngực, quần lót phụ nữ đủ mầu bay phất phơ trong gió. Người cảnh sát đứng gần đó vẫn thản nhiên, coi như không nhìn thấy gì. Trung Quốc là thế. Giầu có, tân tiến như Thượng Hải mà còn vậy.
 

Từ Thượng Hải, chúng tôi đi thăm Hàng Châu (Hangzhou). Cảnh nổi tiếng nhất của Hàng Châu là Tây Hồ với những ngọn núi thấp xa gần bao quanh, với những chùa, tháp xây trên đỉnh núi, với những tiểu kiều xinh xắn bắc qua giòng nước. Toàn thể giống như môt cảnh non bộ ở địa thế thật. Cảnh đặc biệt khác của Tây Hồ là những hàng dương liễu quanh bờ rủ cành xuống mặt nước. Đi bách bộ giữa hai hàng dương liễu trên bờ hồ, tôi nhớ tới hai câu thơ cổ :

Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc
Hối giao phu tế mịch phong hầu
( Chợt nhìn dương liễu thay mầu
Hối chàng tham ấn công hầu làm chi)


Sau Hàng Châu, chúng tôi đi thăm Tô Châu (Suzhou), cách Thượng Hải một tiếng rưỡi lái xe. Ngày xưa Tô Châu nổi tiếng vì lụa và những thiếu nữ trồng dâu, nuôi tầm, xe tơ, dệt lụa. Ngày nay lụa đã được sản xuất theo kiểu kỹ nghệ, các kiều nữ Tô Châu đã lem luốc, đầu tắt mặt tối trong các xưởng máy cả rồi. Đi Tô Châu chỉ là để tìm chút hoài cảm nostalgia về một thời xưa cũ mà thôi.
 

Từ Tô Châu chúng tôi đi thăm làng cổ Zhuzhuang nằm trên những con kinh chạy dọc những ngôi nhà còn giữ nguyên kiến trúc Trung Hoa. Du khách có thể thuê thuyền nhàn du trên những con kinh. Người chèo thuyền đa số là phụ nữ. Nếu bạn muốn được nghe nàng vừa hát vừa không ngưng tay chèo, bạn cứ việc yêu cầu và chi cho nàng mỗi bài một Đô la rưỡi. Người Tầu hãnh diện khoe nơi này là Venise châu Á. Tôi chỉ ghi nhận giá trị của nó nơi những căn nhà cổ còn giữ được kiến trúc và phong thái xưa.
Địa điểm cuối cùng chúng tôi thăm viếng ở Trung Quốc là khúc sông Lí Giang có nhiều ngọn núi nhỏ bao quanh. Thắng cảnh này nằm ở Yangshuo cách thành phố Quế Lâm (Guilin) trên một tiếng xe hơi. Cảnh thiên nhiên ở đây rất đặc biệt, được gọi là Vịnh Hạ Long trên đất liền của Trung Quốc. Cả một vùng rộng lớn có một vòng núi trùng điệp bao quanh. Những ngọn núi nhọn không cao, không to, hình thể khác nhau, chen chúc từng lớp, ẩn hiện trong sương buổi sáng, khi được nhìn từ mặt sông gợn sóng, chúng cho ta cảm tưởng đang ngắm những bức tranh Tầu thủy mạc. Chúng tôi đã được đi bè chạy máy đuôi tôm trên khúc sông Lí Giang này trong hai tiếng để ngắm cảnh sông nước với hậu cảnh lã những qủa núi khi tỏ khi mờ. Thật là một cảnh nên thơ hiếm có đưa con người lại gần thiên nhiên và đưa hồn ngược về với những áng cổ thi ca tụng cảnh sơn thủy hữu tình. Buổi tối, chúng tôi được xem một show trình diễn ngoài trời thật vĩ đại với 600 diễn viên. Chuyện là sinh hoạt của các sắc dân vùng đồi núi, sông nước Lí Giang. Sân khấu là mặt sông. Cảnh là những ngọn núi thật phiá sau được chiếu sáng rất nghệ thuật. Hàng chục ngàn khán giả say mê theo dõi chương trình này do đạo diễn nổi tiếng quốc tế Trương Nghệ Mưu thực hiện. Trương Nghệ Mưu cũng là đạo diễn của các phim Joudou, Red Lantern đã đoạt nhiều giải thưởng, nhất là của chương trình khai mạc Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008.
Trong những ngày viếng thăm Yangshuo, chúng tôi cư ngụ tại nhà khách “Li River Retreat” được cất trên lưng chừng núi. Đường lên xuống một bên là những bụi tre cao, bên kia là triền dốc với những vườn cam, quất. Có những cây trĩu trái chín vàng chưa được hái và có những cây đang nở hoa giữa tiết xuân, tỏa hương thơm dìu dịu vào khí núi. Những lúc vừa tản bộ vừa ngắm cảnh trên con đường nhỏ quanh co này, khách nhàn du thấy lòng lâng lâng thư thái như đã rời cảnh tục.
 

Thế là tôi đã mời độc giả cùng chúng tôi du lịch Trung Quốc hỏa tốc qua những nơi chúng tôi đã đi. Dĩ nhiên Trung Quốc còn nhiều địa điểm du lịch nổi tiếng khác, nhưng du khách không thể thăm hết một lần, và cũng có những nơi không phải du khách nào cũng thích đến. Riêng tôi, mỗi khi được ngắm cảnh đẹp của xứ người, tôi cũng thích và cũng công nhận là đẹp. Tuy nhiên, lòng tôi không ở đó vì thấy có cái gì xa cách, thiếu tình cảm thân thuộc, không như khi đi giữa một con đường đất vào làng thuở xưa, hai bên có những bụi tre, bụi chuối, ao bèo, có tiếng gà cục tác và mùi rơm rạ nồng ấm. Những lúc đó tôi thật sự hòa mình với cảnh, có cảm tưởng tìm lại được quê hương để rồi sau này đi đến chân trời góc biển nào cũng mang theo quê hương bên mình. Chỉ có “Chốn quê hương đẹp hơn cả”! Suy luận lẩm cẩm xong, tôi xin trình bầy tiếp một số nhận xét và cảm nghĩ về những gì chúng tôi đã thấy và đã trải qua sau một tháng sống tại những nơi tiêu biểu của Trung Quốc. Đây không phải là một nghiên cứu sâu xa với những con số và biểu đồ, nhưng chỉ là một cái nhìn thoáng hơi soi mói và những cảm nghĩ còn tươi.

NHỮNG ƯU ĐIỂM


Ưu điểm đầu tiên là kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh. Chỉ cần nhìn bề ngoài người ta đã thấy những dấu hiệu. Những phi trường Thẩm Quyến, Thượng Hải và Terminal 3 của phi trường Bắc Kinh (mới xây dịp Olympics) rất hiện đại, rộng rãi, tiện nghi. Nhiều hãng hàng không mới ra đời dùng toàn máy bay Boeing và Airbus mới tinh, hành khách chuyến nào cũng đầy. Thành phố nào chúng tôi đi qua cũng chật cứng xe hơi ngoài đường, các tòa nhà cao tầng mọc lên như nấm, đâu đâu cũng có những công trình xây cất đang thực hiện, dù không thiếu những building chưa có người thuê mua và những đại thương xá mới tinh chỉ có lèo tèo vài khách hàng đặt chân trên nền nhà không một hạt bụi.

Ưu điểm thứ hai là khai thác du lịch. Số du khách đến từ nước ngoài, trong đó người gốc Hoa sinh sống ở hải ngoại chiếm đa số, phải tính ít nhất mười mấy triệu người mỗi năm, cộng thêm hàng chục triệu du khách nội địa từ nơi này đi thăm nơi khác. Những địa điểm nổi tiếng như Tử Cấm thành, Vạn Lý Trường Thành, Tây Hồ… đầy đặc người, chen vai thích cánh như đi trẩy hội. Kỹ nghệ du lịch nuôi sống rất nhiều người và thâu về không ít lợi nhuận và ngoại tệ cho chính phủ. Vòng viếng thăm nào cũng bắt buộc phải thăm một hoặc hai trong số các xưởng sản xuất trà, cẩm thạch, tơ lụa, hột trai, phòng khám bệnh bốc thuốc… và được dụ mua các sản phẩm với giá cắt cổ. Du khách cả tin hay những ông bà Tầu từ ngoại quốc về há hốc miệng thán phục, móc hầu bao mua xắm không tiếc tiền, gần đúng như những điều ông Nguyễn Hưng Quốc đã viết. Những cô trình bầy sản phẩm có ngoại hình dễ coi và nói tiếng Anh rất khá. Các hướng dẫn viên du lịch, hầu hết đều tốt nghiệp đại học ngành du lịch, nói thông thạo một ngoại ngữ, rất tháo vát, đặc biệt là tận tụy và lương thiện. Đó là cách chinh phục lòng tin yêu của khách hàng để được nhiều tiền thưởng và được giới thiệu cho những du khách tương lai khác khi họ cần một người sắp xếp và hướng dẫn những cuộc viếng thăm. Các địa điểm du lịch được tu bổ, bảo trì chu đáo. Cách tổ chức hợp lý, hữu hiệu.
Ưu điểm thứ ba là đường phố có an ninh. Tôi không nghe một du khách nào than phiền bị giựt bóp hay móc túi, trong khi chính tôi bị móc túi khi trở lại thăm Paris dù tôi đã có kinh nghiệm sống ở đó 12 năm. Tôi cũng không thấy người Tầu đánh nhau, chửi nhau ngoài đường phố, dù họ chen lấn không nhường nhau. Có người nói vì nhà cầm quyền cộng sản độc tài, an ninh chìm nổi đầy đường nên dân không dám phạm pháp. Có thể đúng một phần. Nhưng nếu chúng ta nhìn vào tình trạng Việt Nam hiện nay, cũng một chế độ cai trị giống nhau, nhưng nạn cướp giật, chửi người, đánh người và cả giết người xảy ra công khai, ta sẽ kết luận ra sao?

CHINOISERIE


Một số ưu điểm thì như thế nhưng có những điều vừa tức cười vừa vô lý của xã hội Trung Hoa mà người ngoại quốc khó có thể hiểu. Đầu tiên là sự tương phản giữa tiến bộ và lạc hậu.
 

Ngay giữa những đại lộ lớn ở Bắc Kinh chạy dài theo những tòa nhà tối tân, bề thế, giữa giòng xe cộ chạy ào ào, có những công nhân thành phố gò lưng đạp xe kéo theo một thùng chứa nước dung tích chắc chỉ bằng một gánh nước để xịt hai bên đường cho đỡ bụi.
Cũng trên những đại lộ này, thỉnh thoảng lại thấy một công nhân đạp xe đi lượm rác trên mặt đường bằng một que dài có đầu móc rồi bỏ rác vào một thùng tôn đặt trên “poọc ba ga”. Nhiều nhà vệ sinh công cộng không có giấy vệ sinh. Dân Tầu vốn khôn ngoan, cần cù và có vẻ nhịn nhục.

Tôi không thấy họ chửi nhau, đánh nhau ngoài đường nhưng họ rất vô trật tự, bất lịch sự và không tôn trọng người khác.
Nói chuyện điện thoại thì lớn tiếng giống như chửi lộn dù ngay chỗ công cộng. Chen lấn, nhảy hàng không một lời xin lỗi là chuyện bình thường.
Khạc nhổ bất cứ chỗ nào là thói quen vẫn tồn tại. Diện complet, cà vạt nhưng vẫn tỉnh bơ há miệng ngáp thành tiếng đến sái quai hàm ngay giữa chỗ đông người. Lái xe thì không ai nhường ai, không ai tôn trọng đường ưu tiên của ai. Muốn đổi lằn hay vượt xe khác chỉ cần chen được một bánh vào đường của người ta rồi tống ga, mặc người bị chèn phải nhường đường và bấm kèn inh ỏi. Những tài xế taxi và xe công cộng, kể cả xe buýt hai tầng chở du khách, là những kẻ hung hãn và liều mạng nhất. Trong số những “anh hùng tay bánh” này có rất nhiều tài xế phụ nữ. Họ cũng lái xe như cao bồi Texas cưỡi ngựa, không kém gì phái nam.
Thế mà tai nạn lại ít xảy ra. Các tài xế chỉ báo hiệu cho nhau và chửi nhau bằng kèn xe, không cãi lộn bằng mồm. Gặp chỗ dành cho người đi bộ chớ ung dung bước vào mà mất mạng.
Chúng tôi đã thấy ở Thượng Hải xe hơi đi ngược chiều, xe đủ loại vượt đèn đỏ, chạy náo loạn đủ hướng, vậy mà vẫn không đụng nhau.
Cảnh sát đứng gần đó coi như không có chuyện gì xảy ra.
Họ chỉ chụp hình những xe đậu ẩu để làm giấy phạt. Các công ty ngoại quốc rất có lý khi cấm nhân viên “expats” của họ lái xe tại Trung Quốc.

Điều đáng ghi nhận tiếp theo là dân Tầu sống rất luộm thuộm và có vẻ thiếu vệ sinh. Tại những khu sinh sống hay buôn bán giữa người Tầu với nhau, người ta thấy cảnh phơi quần áo, phơi vỏ bưởi, vỏ quýt làm thuốc ngay trước cửa nhà và trên lề đường bụi bặm. Hàng quán bầy biện rất lộn xộn, thiếu ngăn nắp và thẩm mỹ. Chủ tiệm mặc áo thung, quần xà lỏn, ngồi ghế đẩu ăn tô mì nhồm nhoàm trong khi vẫn mặc cả với khách hàng.
Đi qua những khu này, mũi du khách được thưởng thức mùi ẩm mốc, mùi thuốc bắc, mùi thức ăn, đặc biệt mùi khăm khẳm của món đậu hũ chua chiên bằng dầu cũ. Phải kể thêm mùi của những bao rác để trước cửa nhà.
Tất cả những cảnh và mùi vị này là đặc trưng của đời sống Tầu mà một phần phiên bản đã có mặt tại những China Town ở Chợ Lớn, New York, San Francisco, Vancouver, Toronto, Paris… Người Pháp dùng tiếng “chinoiserie” để gọi sự luộm thuộm, lộn xộn, vô trật tự, chắc do lấy cảm hứng từ cách sống của người Tầu.

LÀM ĂN GIAN DỐI


Trung Quốc đã ký đủ thứ thỏa ước quốc tế bảo vệ tác quyền (copyright) nhưng chính phủ để mặc dân Tầu muốn làm giả cái gì tùy ý.
Bạn có thể tìm được xách tay Vuitton hay đồng hồ Omega giả giống tới 99% hàng thật.
Bạn có thể mua kính mát ic! berlin của Đức sản xuất tại Tầu với giá chỉ bằng một phần năm giá chính thức. Phẩm chất chưa thể biết nhưng hình thức và vật liệu giống y chang, kể cả gọng kính bằng thép nhẹ titanium chuyên dùng để làm cánh máy bay.
Như vậy việc làm hàng giả không phải là tiểu công nghệ, mà là một kỹ nghệ được điều hành bởi những kỹ thuật gia có chuyên môn cao.

Khỏi cần tốn công tốn của vẽ kiểu, nghiên cứu kỹ thuật và tìm kiếm vật liệu, chỉ cần “cóp pi” của người khác từ A đến Z, dùng nhân công rẻ sản xuất, thế là người Tầu đã cướp trên tay các công ty nổi tiếng quốc tế hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm.
Đây là một hình thức ăn cắp trắng trợn. Dùng chữ gian dối còn qúa nhẹ.
Tôi không lấy làm lạ khi đọc tin chính phủ Trung Quốc cũng thường đánh cắp bản quyền của các quốc gia khác, như sản xuất võ khí theo mẫu của Nga, chế tạo nhiều loại phản lực cơ nhái theo máy bay Mig, mua trước rồi học lóm sau hệ thống xe lửa cao tốc của Pháp và Nhật.

Mới đây vì học bài chưa thuộc nên tầu cao tốc Trung Quốc chết máy giữa cầu bắc qua sông, hệ thống liên lạc chưa đạt chuẩn nên không kịp thông báo cho chuyến tầu khác đang chạy tới, khiến hai tầu đụng nhau, giết oan hang trăm hành khách.
Tham vọng phát triển hệ thống xe lửa cao tốc phải đình trệ. Mỹ hiện chưa bán võ khí cho Tầu, dù Tầu rất muốn mua, với lý do Quốc Hội chưa bỏ lệnh cấm vận. Sự thật có thể là Mỹ sợ Tầu sẽ ăn cắp mẫu mã võ khí Mỹ rồi sản xuất hàng loạt để vừa xài vừa bán rẻ. Chỉ cần giống 90% đã đủ mệt rồi.

Làm ăn buôn bán với người Tầu phiêu lưu lắm, không phải chỉ đối phó với những mưu mẹo và tính toán của thương trường, nhưng phải đương đầu với sự gian dối có dự tính, nếu không nói là với kế hoạch ăn cắp có dự mưu.
Thế giới biết vậy nhưng không thể cắt liên hệ kinh tế và thương mại với Tầu, chỉ vì Tầu là một nước có tới 1 tỷ 300 triệu người sản xuất và tiêu thụ.

ĂN CƠM TẦU, Ở NHÀ TÂY, LẤY VỢ NHẬT


Người Việt đã có thời dùng câu này để nói về những cái sướng nhất trên đời. Nhưng đó là chuyện thời xưa. Thời nay ở nhà Mỹ và Canada sướng hơn ở nhà Tây vì rộng rãi và tiện nghi hơn.

Thời nay vợ Nhật không còn thức khuya chờ chồng đi du hí ở nhà gheisa về để qùy gối cởi giầy vớ cho chàng và pha nước nóng cho chàng ngâm mình, nhất là không còn tiễn chàng ra ga xe lửa đi nghỉ mát với một người đẹp do chính vợ chọn và chi tiền.
Vậy còn vụ cơm Tầu thì sao?
Xin trả lời ngay là tôi rất thích cơm Tầu ở Chợ Lớn trước 1975.
Tôi cũng thích cơm Tầu của một số tiệm ăn Trung Hoa tại nhiều nước khác trên thế giới. Tôi thất vọng lớn về cơm Tầu ở Hoa lục.

Có lẽ một phần tôi đã quen gu cơm Tầu Quảng Đông nên không hợp với thức ăn Thượng Hải nhiều dầu có vị chua và ngọt, với thức ăn Bắc Kinh cũng nhiều dầu nhưng hơi cay và nhiều mặn. Chúng tôi đã ăn thử từ những quán thường thường bậc trung tới những quán khá sang. Ngay tại những quán sang, các món ăn trình bầy rất đẹp trên những điã sứ nhưng lượng thì ít và phẩm thì không ngon.
 

Nó nhạt nhẽo, thiếu vị ướp, ăn vài miếng đã chán. Chúng tôi cũng đi ăn thử món Vịt Bắc Kinh (Pekin Duck), tưởng rằng ăn tận ổ chắc sẽ ngon.
Nhà hàng dọn cho vợ chồng tôi nguyên một con vịt quay được bầy trong 3 điã.
-Một đĩa là da vịt vàng dòn để cuốn.
-Một điã là thịt dính da.
-Điã thứ ba toàn thịt nạc tuyền. Mới nhìn thấy rất hấp dẫn.
Nhưng khi đụng đũa mới hay da vịt úng mỡ, thịt thì nhạt nhẽo, chẳng những thiếu gia vị mà còn thiếu cả muối. Tôi nhớ có lần đã hỏi một thương gia Việt gốc Hoa tại Calgary là cơm Tầu ở đâu ngon nhất, anh chỉ xuống bàn và trả lời “ở đây”, tức ở Calgary, dù anh đã đi nhiều nơi, kể cả đi Tầu nhiều lần.
Bây giờ tôi mới tin anh.

Chỉ sau một ngày thưởng thức cơm Tầu tại thủ đô Bắc Kinh, tôi bị Tào Tháo rượt chạy trối chết, phải bỏ chương trình thăm viếng ngày hôm sau, dù trước khi đi, tôi đã được bác sĩ cho uống thuốc chống độc thực phẩm và mang theo thuốc thuốc chữa đau bụng tiêu chảy để đối phó tại chỗ khi cần.
Tôi chưa từng bao giờ bị bệnh này nặng như thế.
Trước đây mỗi khi bị, tôi chỉ uống một hai viên thuốc mua không cần toa là đã hết. Tôi giả định nếu không có nhà con để đến tĩnh dưỡng và ăn uống thực phẩm lành, chắc tôi phải bỏ dở chuyến đi để quay về Canada, hoặc qua Hồng Kông chữa bệnh và chỉ ăn pạc phàn (cơm trắng) với síu ngộ và xì dầu, sắn sáu.

SỐNG CÒN LÀ ƯU TIÊN SỐ MỘT


Trong một tháng ngắn ngủi sống giữa xã hội Trung Hoa, tôi không dám nhận là đã biết tỏ tường mọi chuyện. Chỉ bằng vào những gì tôi thấy và qua những câu chuyện và nhận xét của một số người ngoại quốc tôi gặp đang làm việc ở đây, tôi có thể nói rằng dân Trung Hoa hiện giờ không sung sướng, dù sự kềm kẹp của ách độc tài đã lỏng bớt và đời sống vật chất đã được cải thiện khá nhiều. Trong cuộc vật lộn hàng ngày, sống còn là ưu tiên số một.
Chính quyền cũng như dân chúng đều có chung ưu tiên và ưu tư này.

Chính quyền dư biết họ cướp được quyền hành không bằng lý cũng chẳng bằng tình, nhưng bằng bạo lực. Dù đã khổ công tuyên truyền, tẩy não và “lao cải” dân, đa số nhân dân vẫn không thương yêu họ.
Dân với chính quyền chỉ bằng mặt, không bằng lòng.
Khi có cơ hội, dân sẽ vùng dậy.
Sự trả thù của dân sẽ khủng khiếp vì ân oán đã chồng chất.

Những lò lửa âm ỉ từ Tân Cương, Tây Tạng, từ những dân oan mất nhà, mất đất, từ những bất công xã hội, khoảng cách ngày càng lớn giữa giầu nghèo, từ mối thù không đội trời chung với Pháp Luân Công… chỉ chờ dịp là bùng lên. Chính quyền biết rõ điều này nên đã áp dụng những biện pháp đối phó
 

1/ Kiểm soát kỹ từng người dân. Công an chìm nổi nhiều như kiến, làm việc hữu hiệu và không gây nhiều tai tiếng như công an của cộng sản VN. Hệ thống làm việc rất quan liêu, có nhiều hệ cấp theo hàng dọc, chậm chạp nhưng dễ kiểm soát và khó cấu kết theo hàng ngang. Chẳng những tại phi trường, kể cả những chuyến bay quốc nội, ngay tại khách sạn tư nhân, mọi passport đều phải “scanned”, hình và chi tiết chạy thẳng đến cơ quan an ninh. Cơ quan này có thể theo dõi sự di chuyển của bất cứ người nào trên toàn lãnh thổ Trung Quốc. Những người dân đi làm ăn xa vẫn phải giữ hộ khẩu tại nguyên quán, phải về quê xin giấy tờ, kể cả giấy khai sanh cho con ra đời ở nơi khác
 

2/ Đàn áp thẳng tay để trừ hậu họa ngay từ mầm mống.
Những cá nhân lên tiếng phê bình đảng và nhà nước, cổ võ dân chủ, tự do bị trù dập, bạo hành và tìm cớ cho vào tù.
Những nhóm hoạt động không được phép như Pháp Luân Công thì bị đánh tỉa từng người một cách rất dã man. Khi có những cuộc chống đối lớn như ở Tây Tạng, Tân Cương có thể đưa đến bạo loạn, nhà nước tổ chức những đám côn đồ do công an chìm cầm đầu kéo đến tấn công những người chống đối với danh nghiã nhân dân tự phát phản đối những phần tử gây loạn.
Chuyện này đã xảy ra tại Tân Cương cách đây vài năm, gây thiệt mạng cho hang ngàn người cả hai bên.
Sau khi cho công an giả danh nhân dân đánh và giết người thẳng tay, cuối cùng quân đội mới tới “tái lập an ninh”. Cộng sản VN đã học thuộc nhuyễn bài này của đàn anh.
 

3/ Làm cho dân phải tất bật kiếm ăn, lo thủ tục giấy tờ, không còn thời giờ nghĩ tới chuyện khác, nhất là chuyện chống đối.
Ngoài một thiểu số giầu có, tuyệt đại đa số dân Trung Hoa phải vất vả từ sáng đến tối mới kiếm được miếng ăn và chỗ ở. Tôi đã nhìn tận mắt nỗi cực nhọc của họ trong đời sống hàng ngày. Chính quyền chỉ tìm cách làm cho dân khỏi đói để khỏi làm loạn, còn mọi thặng dư của sức lao động nhân dân đều chui vào túi nhà cầm quyền hay các nhà tư bản đỏ có lên hệ với chính quyền. Hoàn toàn trái ngược với chủ thuyết cộng sản mà họ vẫn tự nhận theo đuổi. Thêm vào đó là gánh nặng khai báo và xin xỏ đủ thứ giấy tờ theo lệnh của một chính quyền rất quan liêu và thư lại.
 

4/ Khơi động tự ái dân tộc và lòng yêu nước để hướng sự chú tâm và lòng căm thù của dân chúng sang hướng khác. Việc tổ chức đầy khoe khoang Thế Vận Hội Bắc Kinh, việc trình diễn hàng không mẫu hạm làm kiểng, việc biểu dương sức mạnh của Quân Đội Nhân Dân Trung Hoa nhắm tuyên truyền với dân nhiều hơn dọa nạt nước ngoài, Việc đòi chiếm gần hết Biển Đông, gây sự với các nước trong vùng, đặc biệt với Nhật, Việt Nam và Phi Luật tân, gián tiếp đương đầu với Mỹ, ngoài việc bầy tỏ lòng tham đầy tính xâm lấn còn là chiến thuật khơi động lòng yêu nước hẹp hòi mà các chế độ độc tài thường xử dụng.
Đó là những biện pháp những người cầm quyền Trung Hoa hiện nay đang áp dụng để tìm cách sống còn. Hầu hết mọi chính quyền Trung Hoa trong suốt giòng lịch sử đều không màng đến phúc lợi của đám thứ dân. Họ chỉ dùng dân để phục vụ cho quyền và lợi của họ, dù có phải áp dụng những biện pháp tàn bạo. Sự tồn tại của chế độ được coi là ưu tiên số một. Triều đại của các “hoàng đế đỏ” cũng không làm khác.
Vụ Bạc Hy Lai xảy ra trước khi khi chúng tôi đến Trung Quốc vài ngày.
Vậy mà chúng tôi chỉ một lần đọc được trên nhật báo Anh ngữ China Daily loan tin Bạc Hy Lai, nguyên Chủ Tịch Trùng Khánh, đã bị rút ra khỏi Chính Trị Bộ, không một lời bình luận. Một số người cho biết truyền thông Trung Quốc có tố cáo vợ chồng Bạc Hy Lai tội tham nhũng, bà vợ có liên quan đến cái chết đầy khả nghi của thương gia người Anh Neil Heywood. Biến cố đảo chánh cung đình quan trọng như thế mà dân cũng chẳng thèm quan tâm, vẫn thờ ơ lo kiếm sống, mặc các ông ở cao xa tranh chấp và sắp xếp với nhau.
 

Sự xa cách giữa dân và giai cấp cầm quyền đã trở thành nếp sống.
Chính quyền lo sống còn, dân còn phải lo sống còn gay gắt hơn.
Kiếm được một việc làm với số lương cố định hàng tháng không phải chuyện dễ. Báo China Daily ngày 12/4/2012 loan tin thành phố Quảng Châu muốn tuyển 20 người có trình độ đại học hay hậu đại học để làm công việc… phân loại rác trước khi hủy. Ngày đầu nhận đơn đã có 200 người xin việc.
Những ngày sau, không biết con số sẽ lên bao nhiêu.
Nhiều nhà hàng, tiệm buôn có số người phục vụ qúa sự cần thiết.
Người ta có cảm tưởng những cô gái được thuê đứng đó để làm kiểng.
Dù được trả lương chết đói, những lao động dư thừa này cũng phải ráng tận tụy, dễ thương để giữ việc.
Không có vụ “phở chửi” như ở Hà nội. Những người buôn bán lẻ cũng phải giành giật khách hàng, cạnh tranh ráo riết để có thể bán được những món hàng chỉ trị giá vài chục xu Mỹ. Những hướng dẫn viên du lịch, tài xế taxi, xe thuê rất đúng giờ và phục vụ tận tình vì sự cạnh tranh trong nghề rất gay gắt.
Ngay những người có học và có việc tốt cũng rất vất vả.
Mới lấy nhau, không cặp nào dám nghĩ đến chuyện có con ngay.
Khi có con, phải nhờ cha mẹ hai bên từ quê thay nhau đến coi cháu để hai vợ chồng đi làm.

Lợi tức không cho phép gửi con ở nhà trẻ, cũng không thể tiếp cả ông bà nội, ông bà ngoại cùng một lúc vì nhà thuê nhỏ bé và không đủ khả năng nuôi thêm bốn miệng ăn. Những cặp này, nếu không đổi sang ngành doanh thương và may mắn trúng “áp phe” thì cả đời phải đi ở nhà thuê. Giá một đơn vị chung cư ở các thành phố trung bình từ 3 đến 4 triệu Yuan (5 tới 600,000 Mỹ Kim), tiền “down” ít nhất phải bằng 1/3 giá nhà.
Đó là điều không có cặp nào, dù thuộc giới trung lưu, dám nghĩ tới. Khi thất nghiệp, phải nhận những việc lương thấp hơn hoặc xoay nghề chạy hàng hay buôn thúng bán bưng để sống qua ngày.
Những công nhân ít học và không biết xoay sở, khi mất việc, chỉ còn cách trở về quê sống bám cha mẹ già trên những thửa đất canh tác nhỏ bé. Tuổi trẻ Trung Quốc vất vả như thế. So với họ, những bạn trẻ ở Bắc Mỹ sung sướng qúa nhiều. Đó cũng là lý do những người trẻ Trung Quốc tìm mọi cách ra nước ngoài du học hoặc đi làm chui, rồi tìm cách ở lại luôn để xây dựng cuộc đời. Con rể tôi cho biết tìm được một chuyên viên phụ tá người địa phương có năng lực là điều rất khó.
Những anh giỏi đã bỏ đi hết rồi. Người trẻ đã thế, người già thì sao? Tôi không biết rành luật lệ hưu dưỡng tại Trung Quốc.

Tôi chỉ nghe kể rằng ngoài thành phần công chức được chính quyền trả lương hưu, dù không đủ sống, dân buôn bán tự do và làm việc ở các lãnh vực tư không có hưu bổng. Người tài xế của một “expat” đã than với ông rằng năm tới, khi tròn 51 tuổi, anh sẽ phải nghỉ hưu và rất lo lắng về sinh kế khi nghỉ việc.
Xem ra nhà cầm quyền Trung Quốc chỉ lo nuôi người trẻ. Khi đã khai thác hết tuổi trẻ của họ, chính quyền bỏ mặc lúc họ bắt đầu bước vào tuổi già. Sống chết mặc bay. Tự kiếm lấy cơm, tự lo lấy thuốc. Vì thế, sinh hoạt ngoài xã hội toàn thấy người trẻ, ít thấy người già.

Chúng tôi toàn gặp những người trẻ măng kiểm soát giấy tờ và an ninh tại các phi trường, ít thấy ai trạc tuổi 40. Những tài xế và những người lo chuyến viếng thăm của chúng tôi tại Yangshuo đều là những thiếu nữ chỉ ngoài 20. Trong khi đó chúng tôi thấy nhan nhản những ông bà già đi lượm lon và vỏ chai từ những thùng rác công cộng, hoặc gánh những mớ rau trái nghèo nàn bầy bán dọc đường có nhiều người qua lại.

Một ông chưa già lắm có việc làm ăn lương lo quét rác và quét lá tại trường các cháu tôi học không có nơi cư ngụ. Ông phải ngủ dưới tấm bạt căng ở gốc cây ngoài vườn khi trời ấm, núp mái hiên khi trời lạnh, mỗi sáng thu dọn sạch sẽ khi thức dậy. Rõ ràng dân bị bỏ mặc.
Nếu chính quyền thực sự thương dân và vì dân, họ đã dùng hàng ngàn tỷ Mỹ kim thặng dư gửi ở ngoại quốc để xây nhà bán rẻ cho những cặp vợ chồng có lợi tức thấp, lo dịch vụ vệ sinh và y tế cho dân, trợ cấp, săn sóc những người cao niên.

Thành quả của phát triển kinh tế là đảng và những người bu quanh đảng được ăn thịt, dân đen ngoài đảng chỉ được gặm xương. Khỏi đói như thời Mao Trạch Đông là may rồi.
Nếu nói về phẩm chất của đời sống, cũng nên nói thêm nạn ô nhiễm. Tôi không võ đoán xa xôi nhưng đã thấy trước mắt nạn ô nhiễm không khí. Trừ mấy ngày thăm cảnh núi và sông nước Lí Giang, tôi chỉ thấy trời xanh một ngày ở Thẩm Quyến, một ngày ở Bắc Kinh. Đó là những ngày có gió thổi mạnh, xua tan những đám khói ô nhiễm. Những ngày khác, từ Hồng Kông vòng bờ biển qua Thẩm Quyến, lên Thượng Hải và vào nội địa Bắc Kinh, lúc nào tôi cũng thấy không khí như phủ sương khói, không thấy bầu trời, nói gì tới mây trời.
 

Biển nhiệt đới mà mù mù không xanh. Phần trên của những tòa nhà chọc trời như ẩn hiện trong sương dù chỉ cách bạn mấy trăm thước và dù trời nắng chang chang. Thủ phạm chính là khói xe hơi và khói nhà máy. Chính quyền không quan tâm giải quyết nạn ô nhiễm. Xăng nhớt pha chì và dầu diesel cứ việc đốt tự do. Nhà máy xả khói độc không bị phạt. Nếu nghiêm khắc xử lý, dân sẽ khó sống thêm, công xưởng sẽ sa thải công nhân. Hiện tại, dù tình trạng môi sinh có tệ, dân chưa chết ngay.
 

Lo an dân trước đã, chuyện tương lai mặc kệ nó. Đó là chính sách mì ăn liền mà anh độc tài nào cũng áp dụng. Xét cho cùng thì tại Trung Quốc hiện nay, với 1 tỷ 300 triệu con người, bằng một phần năm dân số toàn thể nhân loại, ai cũng phải nỗ lực giành giật để sống còn, dù phải đạp lên đầu kẻ khác.
Chính quyền phải tìm cách đè bẹp dân, không cho ngóc dậy để đòi hỏi, chống đối, phải tìm cách cho dân ăn vừa đủ no, mặc vừa đủ ấm để khỏi nổi loạn. Vì vậy phải tạo thêm hàng triệu công việc mỗi năm, phải đi tìm tài nguyên ở các nước chậm tiến, phải chiếm Biển Đông để khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản. Dân chúng thì tìm mọi cách lừa dối chính quyền, vi phạm luật lệ khi có thể, lừa lọc lẫn nhau để ngoi đầu lên mà sống. Khi họ có thể pha chất độc vào bột sữa để nuôi chính con trẻ của nước mình thì ta có thể hiểu họ coi lợi nhuận cao hơn mạng sống con người. Đối với nhau mà còn như vậy thì đừng mong họ tử tế với người khác.

Tình trạng này không phải tự nhiên mà có. Nó phát sinh bởi cơ chế và sự thiếu hiểu biết của người dân. Cơ chế là nguyên nhân số một. Khi cơ chế chỉ muốn kềm kẹp dân trong mục đích giữ quyền hành, không muốn dân được thông tin đầy đủ, được nâng cao phẩm cách và sự hiểu biết thì trình độ và cách đối xử của dân sẽ mãi mãi thấp như thế. Đừng trách những người lái xe vi luật và đe dọa sự an toàn của người khác.

Đừng trách những người làm hàng giả, tung thực phẩm độc ra thị trường tiêu thụ. Đừng trách những mánh lới lừa lọc, gian xảo trong việc bán buôn. Hãy trách cơ chế chỉ muốn dân phục tùng tối mặt, sau đó mặc cho dân muốn làm gì thì làm để tự lo kiếm sống, dù có vi phạm luật lệ cũng được cơ chế nhắm mắt, miễn đừng đụng tới cơ chế là được.


Vì vậy Trung Hoa hiện nay là một anh khổng lồ vô tâm hồn, thiếu văn hoá, một núi cát rất lớn nhưng không có hạt cát nào dính vào hạt cát nào. Việc chinh phục nội bộ chưa xong, nói chi đến chinh phục thế giới.

Mặc Giao
@internet