Sunday, July 5, 2009

Lưu-Phương


Văn Tế
Anh Hùng Tuẫn Tiết Và Đồng Bào Chết Vì Tự Do

Than ôi!

Đã đành sự tồn vong là do mạng số, nhưng thấy trang anh hùng xả thân vì nước, thà chết vinh còn hơn sống nhục, đồng bào cảm kích thương yêu.

Cho dẫu lẽ tử sinh ấy bởi căn phần, nhưng thương đấng anh hùng vong mạng vì tiết tháo danh thơm, chiến hữu cảm phục thương tiếc.

Người hiền lương muốn sống trong tự do mà không được sống, đành đem mạng đổi lấy giá tự-do.

Nhớ xưa:

Vận nước điêu linh, cơ trời cay nghiệt
Giặc cộng bạo tàn nuôi mộng xâm lăng
Đẩy dân chúng vào cảnh lâm than
Đưa đất nước vào trận chiến tương tàn

Dân miền Nam oai hùng giữ nước
Quân dân một lòng đập tan quân xâm lược
Từ Bình Giả, Đức-Cơ, qua Pleime Thượng Đức
Giặc từ miền Bắc banh xác phơi thây
Nào Mậu Thân quân dân tiêu diệt

Giặc xâm nhập, sinh Bắc tử Nam
Kìa Kontum kiêu hùng chiến tích
Đây Dakto - Tân Cảnh nơi chôn vùi xác cộng quân
Thành Quảng -Trị ngọn cờ bay chiến thắng

Trận chiến An-Lộc còn oai danh chiến sĩ
Giặc kinh hoàng, cộng quân kinh hồn bạt vía

Ngặt nỗi cơ trời chưa gặp vận hạnh thông
Lệnh đầu hàng: như chim trời gẫy cánh
Vì thượng lệnh, đoàn hùng binh rã hàng buông súng
Tâm không phục, kẻ sĩ vẫn tiết tháo trung trinh

Bậc trượng phu dùng da ngưa bọc thây
Miền u hiển hai nơi đành vĩnh quyết
Cuộc chính trị đã chế ngự binh hùng tướng mạnh
Vận nước Nam lại do ngoại bang quay cờ chuyển hướng
Cơ cầu thay! Thế thời không thỏa lòng trang tuấn kiệt, chí hùng anh
Oan uất nhỉ! Quân xâm lược lại chiến thắng người hiền lương giữ nước .

Ôi nhớ linh xưa:

Lòng một lòng tận trung vơí nước. Dạ miệt mài son sắt chữ Tự-Do
Thê tử chia lìa. Phụ tử phân ly. Đệ huynh cách biệt

Nhớ luống ngậm ngùi, nghĩ càng thương tiếc
Tiếc là tiếc mảnh lòng ái quốc. Nghìn đời còn tư vọng tấm trung can
Thuơng là thương tấc dạ phù dân, vạn đại vẫn quan hoài bầu nhiệt huyết
Thương dân mà không bảo vệ được dân. Thương nòi mà không giữ được nước.
Bậc trượng phu chẳng màng nguy hiểm. Dùng xác thân tô điểm 2 chữ Tự Do
Hồn linh đã hiển hách thành thần mà phong thái vẫn uy nghi lẫm liệt

Ôi ! Nay chúng tôi:

Chiến hữu và đồng bào người Việt
Lễ phẩm kính dâng, thành tâm bái yết
Trên hương án chư hồn thiêng phảng phất, xin chứng dám lòng thành cung tiến hương dâng
Trước bàn thờ, chúng tôi xin tỏ lòng thành kính tri ân
Vái van hồn thiêng các anh hùng chiến hữu vì nước phải vong thân
Cùng anh linh đồng bào vì Tự Do mà đoạn kiếp

Khấn rằng:

Xin hộ trì chúng tôi kiên tâm, vững chí hoàn thành sụ nghiệp phục hưng đât nước thoát vòng vạn khổ thiên nan
Xin phù trợ chúng tôi bền tâm tranh đấu cho quê- hương sớm được tự-do, dân chủ và hạnh-phúc
Chúng tôi nay: Thành tâm bái lạy.

Lưu-Phương
(tháng Tư Đen)

Nguồn vietbao.com

Saturday, July 4, 2009

Thơ Lý Đông A


Chính khí Việt

Tôn nữ Lệ Ba ngâm

Một ngày lạnh nước người không tri kỷ.
Ta vỗ án hét thành ca chính khí.
Đông thê thê như gió thổi u hồn,
Thấu buốt tận lòng ngưòi trong cốt tủỵ

Lòng sống chết buồn vui bừng nổi dậy,
Thoát lăm le như dục người chọn lấy,
Năm nghìn năm, làn máu bén dạt dàọ
Sóng lớp lớp rượu ba tuần thuở ấỵ

Tiếng vang vang như thần kêu quỷ hét.
Trời ngập ngập như quân khiêu tướng thét,
Gọi quá khứ vị lai những u hồn
Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết.

Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết.

Nước Mê Linh trăng thu còn vằng vặc,
Sông Bạch Đằng sóng vỗ thuyền cắc cắc.
Non Chi Lăng gió cuốn rừng cung đao,
Đồng Đống Đa xương người phơi man mác.

Buổi Sát Thát chàm vai thề đầu mất,
Ngày Bình Ngô nổi cờ không khuất tất,
Khi Cần Vương nhổ mặt lũ gian hùng,
Lúc Cứu Quốc vòng bôn lao uất uất.

Thà làm ma nước Nam không vua Bắc,
Đầu chẳng còn quyết không đương cắt tóc,
Lửa đốt mình không phụ nợ non sông
Dây thắt cổ cho tròn trung xã tắc.

Dây thắt cổ cho tròn trung xã tắc.

Muôn nghìn đời linh thiêng không sống chết.
Những trung hồn xưa, nay, mai oanh liệt
Mở nguồn sống xưa, nay, mai nước nòi,
Muôn nghìn đời dạt dào chính khí Việt.

Chính khí Việt suốt đất trời bàng bạc,
Chính khí Việt trong máu người Hồng Lạc.
Gió thê thê quất dậy hồn phục hưng
Gươm Vạn Thắng cứu nước nòi giết giặc.

Chính khí Việt là hồn gươm Vạn Thắng,
Sắt tôi với máu đào hun lửa nóng,
Và Đại Việt muôn năm! Cả toàn dân
Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng.

Vượt đau nhục lên sống còn hùng tráng.

Lý Đông A

Liễu Châu 4821 T.V

Thơ Ý Nga


Thêm một nốt nhạc

Các em khóc,
thương một người nghệ sĩ
Có em nào thương khóc đời tù giam?

Các em khóc,
thương cho một người Mỹ?
Có em nào thương khóc cả… Việt Nam?

Mừng các em,
dù “con Đoàn, cháu Đảng”;
dù “vô thần” vẫn… rung động trái tim.

Mừng các em
“không” cuồng say thác loạn
Giặc vào nhà, chớ lười lĩnh nằm im!

Nhé các em!
Xin thêm chút tình cảm
Hãy cùng đau với vận nước thăng trầm

Nhé các em!
Thương bà con, chòm xóm
Thương dân nghèo phải bán máu nuôi con
Thương dân oan đang trăm đòn chí tử
Thương quê hương đang cung điệu trầm buồn,
Không “Rock, Pop”*. Lệ bao người chan chứa

Nhé các em! Hãy thêm lòng biết ơn
Bao công khó của tiền nhân dựng nước
Máu Cha Ông, sử ghi lại lòng son
Không phải để cho cháu con bán nước.

Ta cũng tiếc một tài năng vừa mất
Nhưng niềm đau rất lớn vẫn: San Hà!
Ta cũng phục người đa tài, thành đạt
Nhưng thương nhiều vẫn duy nhất: Việt Nam!

Ý Nga
30.6.2009
Nhân xem hình các em ở Hà Nội tưởng niệm
ca, nhạc sĩ Michael Jackson


Nguồn :docsu
Đọc thêm:
nhacvietplus - gamevui.com - x-cafevn.org
Video
Tại Sao Anh Bịt Miệng Tôi - Lê Thị Công Nhân

July-4


Don't Tread on Me

The history of the Gadsden flag and how the rattlesnake became a symbol of American independence by Chris Whitten, July 5, 2001, updated September 2002
Contents:

Don't Tread on Me
American unity
American independence
Birth of the U.S. Navy and U.S. Marine Corps
Benjamin Franklin diverts an idle hour
Christopher Gadsden and Esek Hopkins
The Revolutionary standard

[The Gadsden flag:Don't Tread on Me]

Don't Tread on Me
The Fourth of July never fails to reinspire my patriotism and sense of community with my fellow Americans, even when those fellow Americans are a mob of drunken cretins and teenagers trying to get out of downtown Chicago at 11pm.

I like seeing all the American flags. I do have my complaints about the American government, especially about how intimately the Washington D.C. politicians feel they should be involved in the daily lives of their subjects, I mean, citizens. But the flag isn't just a symbol of the American government. It's a symbol of shared American values -- especially our highest common value: freedom.

When it comes to symbolizing freedom and the spirit of '76, I do think there's a better American flag. With all due respect to the stars and stripes, I prefer the yellow Gadsden flag with the coiled rattlesnake and the defiant Don't Tread on Me motto.

The meaning of Old Glory can get mixed up with the rights and wrongs of the perpetually new-and-improved government. The meaning of "Don't Tread on Me" is unmistakable.

There's also an interesting history behind this flag. And it's intertwined with one of American history's most interesting personalities, Ben Franklin.

American unity
Benjamin Franklin is famous for his sense of humor. In 1751, he wrote a satirical commentary in his Pennsylvania Gazette suggesting that as a way to thank the Brits for their policy of sending convicted felons to America, American colonists should send rattlesnakes to England.

Three years later, in 1754, he used a snake to illustrate another point. This time not so humorous.

Franklin sketched, carved, and published the first known political cartoon in an American newspaper. It was the image of a snake cut into eight sections. The sections represented the individual colonies and the curves of the snake suggested the coastline. New England was combined into one section as the head of the snake. South Carolina was at the tail. Beneath the snake were the ominous words "Join, or Die."


[Benjamin Franklin's woodcut from May 9, 1754.
Newspaper Serial and Government Publications Division,
Library of Congress.]

This had nothing to do with independence from Britain. It was a plea for unity in defending the colonies during the French and Indian War. It played off a common superstition of the time: a snake that had been cut into pieces could come back to life if you joined the sections together before sunset.

The snake illustration was reprinted throughout the colonies. Dozens of newspapers from Massachusetts to South Carolina ran Franklin's sketch or some variation of it. For example, the Boston Gazette recreated the snake with the words "Unite and Conquer" coming from its mouth.

I suppose the newspaper editors were hungry for graphic material, this being America's first political cartoon. Whatever the reason, Franklin's snake wiggled its way into American culture as an early symbol of a shared national identity.

American independence
The snake symbol came in handy ten years later, when Americans were again uniting against a common enemy.

In 1765 the common enemy was the Stamp Act. The British decided that they needed more control over the colonies, and more importantly, they needed more money from the colonies. The Crown was loaded with debt from the French and Indian War.

Why shouldn't the Americans -- "children planted by our care, nourished by our indulgence," as Charles Townshend of the House of Commons put it -- pay off England's debt?

Colonel Isaac Barre, who had fought in the French and Indian War, responded that the colonies hadn't been planted by the care of the British government, they'd been established by people fleeing it. And the British government hadn't nourished the colonies, they'd flourished despite what the British government did and didn't do.

In this speech, Barre referred to the colonists as "sons of liberty."

In the following months and years, as we know, the Sons of Liberty became increasingly resentful of English interference. And as the tides of American public opinion moved closer and closer to rebellion, Franklin's disjointed snake continued to be used as symbol of American unity, and American independence. For example, in 1774 Paul Revere added it to the masthead of The Massachusetts Spy and showed the snake fighting a British dragon.

[Paul Revere's modified "Join or Die" snake from the mastheadof Thomas's Boston Journal, July 7, 1774. Newspaper Serialand Government Publications Division, Library of Congress.]


To be continued Don't Tread on Me

Chris Whitten

Source foundingfathers.info

Friday, July 3, 2009

Việt Dương


Park Chung Hee xây dựng kinh tế Đại Hàn

Từ thập niên 1990 đến nay, nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã mời gọi doanh nhân Nam Hàn vào Việt Nam đầu tư và đã học kiểu làm kinh tế của Nam Hàn, nhưng đáng tiếc là những người lãnh đạo đảng Cộng Sản chỉ học hình thức, mà bỏ quên tinh thần. Vì thế nhân chuyện ông Đại Sứ Nhật Bản tại Việt Nam, Mitsuo Sakaba, trong Hội Nghị Các Nhà Tài Trợ Việt Nam tại Hà Nội ngày 4/12/08, cho Việt Nam biết là các khoản viện trợ ODA của Nhật sẽ tạm dừng cho tới khi nào Việt Nam có biện pháp hữu hiệu tận diệt tham nhũng, chúng tôi xin ghi lại đây ít điều về chuyện làm kinh tế của tướng Park Chung Hee, xem ông Park khác mấy ông cách mạng vô sản Việt Nam ra sao trong việc đưa đất nước Đại Hàn đi lên.

1. Định mục tiêu
Sau khi nắm chính quyền (7/1961), tướng Park Chung Hee đã nói trước 20.000 sinh viên đại học Seoul như sau:


“Toàn dân Nam Hàn phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng vào mà làm việc nếu muốn được sống còn. Làm cách nào trong vòng 10 năm, chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu ở Đông Nam Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ bắt thế giới phải ngưỡng mộ chúng ta. Hôm nay, có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi. Nhưng xin những đồng bào ấy hiểu cho rằng tổ quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi không muốn mỵ dân. Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ đem bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ 1 đồng. Tôi sẵn lòng chết cho lý tưởng đã đề ra”.

Có thể coi những lời này là lời thề của Park Chung Hee. Vì trong gần 20 năm lãnh đạo Nam Hàn, ông đã dựng Nam Hàn dậy, làm sống lại niềm tin trong lòng người dân qua sự lãnh đạo cương quyết, làm đến cùng những lời thề này trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế và xã hội.

2. Năng động mà thực tiễn
Park Chung Hee lãnh đạo cương quyết, nhưng rất năng động và thực tiễn trong cách nhìn và giải quyết sự việc. Sau đây là mấy thí dụ điển hình:

Về việc vận dụng tài năng và sản nghiệp của giới doanh nhân
Ngay từ những ngày đầu lên cầm quyền, Park Chung Hee đã tìm cách đặt nền cho mối tương quan chính quyền và doanh nghiệp theo hướng có lợi cho chương trình phát triển kinh tế qua mấy bước như sau:
Thứ nhất, nhân danh luật Giải Quyết Việc Tích Lũy Tài Sản Bất Hợp Pháp mới được ban hành, chính quyền bắt hầu hết những doanh nhân hàng đầu và đe dọa tịch thu toàn bộ tài sản của những người này. Nhưng đây chỉ là một biện pháp đe dọa. Vì sau đó, chính Park đã thực hiện một cuộc họp với 10 nhân vật lãnh đạo đầu não trong số doanh nhân bị bắt, và đi đến một biện pháp hòa giải là chính quyền sẽ không thực hiện việc truy tố. Nhưng đổi lại, những người này phải chịu một số tiền phạt lớn (tất nhiên tiền này trở thành quỹ quốc gia, chứ không thành của riêng) và thuận đi vào hướng phát triển kinh tế theo kế hoạch của chính quyền.
Thứ nhì, trong việc vận dụng kiến thức kinh doanh cùng sự hợp tác của doanh nhân, chính quyền đã gửi 13 nhân vật hàng đầu của giới này ra ngoại quốc để quan sát thị trường và thu hút đầu tư ngoại quốc. Khi trở về, nhóm này đã đưa ra nhiều đề nghị hữu ích, trong đó đề nghị thiết lập hải cảng kỹ nghệ ở Ulsan đã được chính quyền thực hiện cấp thời. Sau đó, dưới sự yểm trợ của chính quyển, tầng lớp kỹ nghệ gia, thương gia đã thành lập những tổ chức mới hoặc chỉnh đốn lại những tổ chức cũ thích ứng với hướng đi mới. Trong những tổ chức này, đáng kể nhất là Liên Đoàn Kỹ Nghệ Đại Hàn, Phòng Thương Mại, Hội Thương Gia Đại Hàn, Hội Hợp Tác Các Xí Nghiệp Nhỏ và Trung, và những hội kỹ nghệ đại diện cho những ngành kỹ nghệ đặc biệt.
Kết quả của những biện pháp trên đây là Park Chung Hee đã tạo được thế chế ngự doanh nhân trên hướng hợp tác và quan trọng hơn là đã có thể vận dụng năng lực và tài sản của họ vào hướng hoạt động phát triển sản xuất.
(Le Roy Jones & Sakong, Government, Business and Entrepreneuship in Economic Development: The Korean Case, Harvard University Press, 1980, trg. 70)

Về vấn đề sống tự túc
Khi mới ở cương vị lãnh đạo quốc gia, Park Chung Hee đã hỏi một kinh tế gia là Đại Hàn muốn thoát khỏi cảnh sống phụ thuộc nước khác thì phải làm gì và khi nào sẽ đạt được. Mấy năm sau ông cho biết, có lẽ vì căn cứ vào số tiền viện trợ 300 triệu Mỹ kim hàng năm của Hoa Kỳ mà nhà kinh tế trả lời là cần xuất cảng được ít nhất 300 triệu Mỹ kim thì có thể sống ở mức tự túc tối thiểu. Park đã thực hiện điều này, và đến 1967 khi ông nhắc lại câu chuyện, Đại Hàn đã xuất cảng được 360 triệu Mỹ kim. Nhưng con số đó vẫn còn xa với chuyện sống tự túc. Vì thế, ông đã quyết định nâng số xuất cảng lên mức 1 tỉ trong khoảng 3 hay 4 năm. Cách nhìn và biện pháp của ông để đạt được mục tiêu là “Nếu sản xuất hàng rẻ mà tốt thì hàng hóa Đại Hàn vẫn còn nhiều chỗ tiêu thụ trên thị trường thế giới”. (Park Chung Hee, Major Speeches by Park Chung Hee, Seoul: Hollyon, 1980, trg. 147)

Ngoài vấn đề phát triển sản xuất, Park Chung Hee đã thực hiện chính sách toàn quốc thắt lưng buộc bụng, từ chính quyền đến dân chúng. Làm việc nhiều, nhưng sống giản dị, hàng tuần mỗi người phải nhịn ăn một bữa, không hút thuốc ngoại quốc, không uống cà phê (Nam Hàn không có cà phê). Đến cuối thập niên 1970, Nam Hàn đã sản xuất hàng loạt máy truyền hình màu, nhưng chỉ để xuất cảng, còn trong nưóc tiếp tục dùng TV trắng đen.
Với Park Chung Hee, tiết kiệm là quốc sách để Đại Hàn có thể đứng dậy, thoát vòng lệ thuộc. Vì thế, trong nhiều bài diễn văn, ông thường nói: “Một xu ngoại tệ là một giọt máu”. Tất nhiên đây không phải là thứ ngôn ngữ hùng biện, nói cho hay mà ông đã sống tiết kiệm bằng chính nếp sống thanh đạm của mình. (Làm tổng thống 19 năm mà khi chết tài sản của ông chỉ có trên mười ngàn Mỹ kim).

Về việc tái lập quan hệ bình thường với Nhật Bản
Trong 12 năm cầm quyền, Lý Thừa Vãn đã duy trì mối thù hận của dân Đại Hàn với tội ác của thực dân Nhật. Nhưng đến năm 1964, vì nhu cầu phát triển kinh tế, Đại Hàn cần tư bản và kỹ thuật, nhất là cần ngoại quốc đầu tư trực tiếp để giảm bớt số nợ đã quá lớn, Park Chung Hee đã can đảm đối diện với những cuộc biểu tình chống đối trên toàn quốc, khi nói với dân Đại Hàn về việc cần chấm dứt chính sách thù hận với Nhật Bản là “Chúng ta phải nhìn xa. Chúng ta không được cô lập với cộng đồng thế giới, và nhất là chúng ta phải biết vị trí của mình ở Viễn Đông”. (Park Chung Hee, sđd, trg. 83)
Kết quả của tầm nhìn và hành động can đảm này đã giải quyết được nhiều vấn đề xung đột giữa hai nước như quyền đánh cá ở vùng biển giữa Nhật và Đại Hàn, và địa vị người Đại Hàn sống ở Nhật, nhưng quan trọng nhất là mở đường cho việc phát triển mậu dịch, với mức gia tăng buôn bán từ 400 triệu Mỹ kim năm 1967 lên 9 tỉ năm 1980, và Nhật Bản trở thành khách hàng lớn thứ nhì sau Hoa Kỳ. Cùng với mậu dịch, Nhật cũng là nước đầu tư hàng đầu vào Đại Hàn trong các ngành kỹ nghệ lọc dầu, đóng tàu, điện tử và nhiều loại kỹ nghệ khác, với tổng số vốn đầu tư, đến năm 1980, đã lên tới 1 tỉ Mỹ kim. Ngoài buôn bán và đầu tư, Nhật còn trợ giúp Đại Hàn về tài chánh cùng kỹ thuật, và chính nhờ sự trợ giúp này mà Đại Hàn đã vượt qua được nhiều trở ngại trong việc thực hiện một số dự án kỹ nghệ lớn. Một thí dụ điển hình về chuyện này là sau khi Ngân Hàng Thế Giới cùng các công ty Mỹ và Âu Châu bác bỏ dự án xây dựng nhà máy liên hợp sắt thép Pohang, vì cho là không thể thực hiện được, thì Nhật đã quyết định trợ giúp Đại Hàn xây dựng dự án với kỹ thuật và trên 120 triệu Mỹ kim, vừa tặng vừa cho vay.

Về việc thay đổi nông thôn Đại Hàn
Xuất thân từ một gia đình nông dân, Park Chung Hee thâm hiểu sự tuyệt vọng của nông dân trong cái vòng luẩn quẩn nghèo đói, lạc hậu suốt cả ngàn năm, và nhất là trong đời mình, ông đã chứng kiến nhiều chương trình cải cách nông thôn thất bại từ sau ngày Đại Hàn thoát khỏi sự thống trị của Nhật. Vì thế, khi tiến hành chương trình Saemaul (Phong trào cộng đồng mới) để canh tân nông thôn, ông đã vạch ra đường lối chỉ đạo thực tiễn là “Đi từng bước, đừng quá nhiều, quá nhanh”. Đối với chính quyền là không được cưỡng ép và tất cả các dự án phải có tác dụng nâng cao lợi chung cùng lợi tức của nông dân. Còn đối với nông dân là phải tự làm việc để thay đổi vận mệnh của mình. Trong việc khuyến khích nông dân, Park Chung Hee thường nói với họ: “Tại sao chỉ biết phàn nàn mà không chịu làm việc cần mẫn. Làm việc đi, chính quyền sẽ giúp đỡ và sẽ ưu tiên trợ giúp những người chứng tỏ có tinh thần cao về tự lực, tự túc và hợp tác”.

Từ những nguyên tắc trên, phong trào Cộng Đồng Mới, qua việc hoạch định chu đáo, đầu tư sáng suốt và nhất là khéo giác ngộ nông dân về sự thăng tiến đời sống, đã có thể dấy lên lòng nhiệt thành, tinh thần sáng tạo và nỗ lực chung của nông dân trong việc thực hiện các dự án hợp tác theo sự lựa chọn của chính họ. Vì thế, chỉ trong khoảng gần một thập niên với chất xúc tác của tinh thần Saemaul, nông dân đã tự thay đôi được đời sống của mình và làm biến đổi toàn diện nông thôn Đại Hàn.
Trước sự thành tựu đặc biệt của phong trào Saemaul, nhiều nhà khoa học xã hội, chuyên viên phát triển nông thôn và viên chức chính quyền cao cấp của nhiều nước đã tới Đại Hàn để quan sát và nghiên cứu. Tới năm 1979, số khách này đã lên tới trên 1000 và riêng năm 1978 là 425 người. Ở đây xin ghi ít lời nhận xét về phong trào Saemaul của một số nhân vật quốc tế:
- Với Leopold Sedar Senghor, Tổng Thống Senegal: “Hiện nay Senegal đang tiến hành một cuộc cách mạng nông nghiệp, nên đặc biệt tôi rất cảm kích trước sự phát triển của Đại Hàn qua phong trào Saemaul”.
- Với Joseluis Cruz Salazar, Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Quốc Hội Guatemala: “Saemaul là một phong trào đặc biệt. Tôi sẽ cố gắng áp dụng hệ thống và phương pháp này vào Guatemala”.
- Với Albert, Hoàng Tử nước Bỉ: “Tôi sẽ gửi các viên chức nông nghiệp của Bỉ sang Đại Hàn để học về phong trào Saemaul”.
- Với Winyu Ankara, Thứ Trưởng Nội Vụ Thái Lan: “Saemaul là một phong trào thành công nhất trong các chương trình loại này mà tôi đã thấy trên khắp thế giới”. (Park Chung Hee, Saemaul, Seoul: Korea Textbook, 1979, trg.72)

3. Đánh thức niềm tin
Gần một thế kỷ sống dưới chế độ Nhật thuộc, và sau đó hơn 10 năm dưới chế độ độc tài, tham nhũng Lý Thừa Vãn, đa số dân Nam Hàn đã đi vào tâm trạng tuyệt vọng, sống ù lì và bất cần. Tâm trạng sống đó đã tiêu hủy niềm tin vào tương lai và sự siêng năng, nhân tố căn cốt của công cuộc xây dựng con người và đất nước. Nhận chân điều này nên trong cuộc cách mạng kinh tế, Park Chung Hee đã đặt nặng việc thay đổi tinh thần dân chúng. Vì ông quan niệm rằng: “Việc xây dựng kinh tế và phát triển tinh thần không phải là hai ý niệm riêng biệt mà cả hai phải đi song hành với nhau. Xây dựng không thể thiếu tinh thần và ngược lại… Nhiều dân tộc khác phải mất hàng thế kỷ để tìm ra thần trí của mình. Còn chúng ta đã tìm thấy tinh thần dân tộc Đại Hàn trong chính thập niên này (1970)”. Nói lên những điều này không khó. Người lãnh đạo nào cũng có thể nói bằng hay nói hay hơn. Nhưng điều khác ở đây là Park Chung Hee đã lấy chính cuộc sống và hành động của mình tác động vào sự thay đổi để chính quyền trở thành biết làm, có hiệu quả và dân trở thành có niềm tin, biết chăm chỉ và kiên nhẫn để thay đổi cuộc đời và đạt những mục tiêu chung. Kết quả là chỉ gần 20 năm, cuộc cách mạng của Park Chung Hee đã phục hưng được tinh thần tự tin và cương quyết của dân tộc Đại Hàn, trong đó học và làm đã trở thành một cái đạo để đưa con người và dân tộc đi lên.
Đối với sự thay đổi tinh thần ở nông thôn, ký giả Brian Kelly đã ghi lại lời giải thích của một viên chức Đại Hàn khi hướng dẫn ông về thăm làng của mình: “Phong trào Saemaul đã thay đổi nông thôn. Căn bản là khôi phục ý thức xấu hổ và tranh đua của nông dân. Dân Đại Hàn không luôn chăm làm như ông thấy bây giờ. Trước đây chúng tôi lười và sau chiến tranh, nhiều người mang tâm trạng đại bại, thiếu động lực để làm việc. Vào cuối thập niên 1950, không ai quan tâm đến tình trạng lợi tức đầu người chỉ khoảng 100 Mỹ kim, nhưng phong trào Saemaul đã khiến mọi người quan tâm đến chuyện này. Chúng tôi thuộc nền văn hóa nặng chất hổ thẹn. Đó là một phần của truyền thống Khổng giáo, thứ truyền thống sợ mất sĩ diện, và Saemaul đã làm sống lại thứ truyền thống này”. (Brian Kelly, The Four Little Dragons, New York: Simon and Schuster, 1989, trg. 46)

Còn đối với công nhân kỹ nghệ, Allen Patric, đại diện công ty Ford Motor ở Seoul, đã nói với ký giả Boyd Gibbons: “Tôi đã làm việc ở Brazil, Mexico và Âu Châu, nhưng không ở đâu tôi thấy người dân làm việc siêng năng như người Đại Hàn. Ngay người Nhật cũng trở thành lười nếu so sánh với họ”.
(Boyd Gibbons, The South Koreans, National Geographic, August 1980)
Một nhà báo Thụy Điển đã chứng kiến tại chỗ thứ đạo này trong cuộc thăm viếng một xưởng đóng tàu Đại Hàn. Ở đó, ông đã thấy hàng chục ngàn công nhân cắm cúi làm việc hùng hục, giống như những cỗ người máy cử động không biết mệt mỏi. Họ làm việc hăng say một cách kỳ dị như những người lính đang chiến đấu ở chiến trường, không ai kiểm soát ai, người nào việc ấy, rập khuôn và hoàn thành công việc một cách hoàn hảo. Khi ông hỏi: Động lực nào mà qúi vị lại có tác phong làm việc ghê gớm như thế? Một anh công nhân đáp: Chúng tôi là một nước nhỏ, nếu không chiến đấu ắt không tồn tại được. Một người khác nói: Chúng tôi làm việc cho tổ quốc chúng tôi. Còn một chị thì nhỏ nhẹ: Chúng tôi làm việc cho chúng tôi và cho con cháu mai sau. (Chu Văn, Phỏng Vấn Cựu Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm, Việt Nam Thời Nay, Melbourne, 5/1991)

4. Tận nhân lực
Trong việc xây dựng hạ tầng cơ sở, Park Chung Hee đã thực hiện được một kỳ công là xa lộ Seoul – Pusan, công trình xây dựng cầu đường lớn nhất trong lịch sử Đại Hàn, chạy dọc theo chiều dài của Nam Hàn, từ thủ đô Seoul tới hải cảng Pusan ở bờ biển phía nam. Khi đưa ra chương trình này, ông nhằm hai mục tiêu: Thứ nhất là giải quyết việc giao thông cho phát triển kinh tế, và thứ nhì quan trọng hơn là đem lại cho người dân một niềm tin mới là họ có khả năng xây dựng và sáng tạo lớn. Nhưng theo nhận định chung của một số tác giả nghiên cứu về Đại Hàn thì có lẽ ông là người duy nhất ở cả trong và ngoài nước có niềm tin này. Vì thế, khi ông đề nghị dự án xây dựng xa lộ 4 làn xe chạy, xuyên qua những rặng núi với địa thế kinh hoàng, thì quốc hội đã thẳng tay bác bỏ. Những nhà lập pháp, kể cả những người thuộc đảng của Park Chung Hee, đã không tin là có thể thực hiện nổi xa lộ mà nếu xây dựng được thì con đường sẽ đưa quốc gia tới phá sản, vì phí tổn xây dựng và bảo trì. Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và các cơ quan tài chánh quốc tế cũng đồng quan điểm như thế.
Tuy vậy, Park Chung Hee đã không nản lòng và để tâm nghiên cứu những bản báo cáo của các chuyên viên cố vấn ở trong nước cũng như ở ngoài nước. Ông yêu cầu những người phụ tá thu thập tất cả những tài liệu về việc xây dựng xa lộ từ miền núi Andes ở Nam Mỹ tới Tây Bá Lợi Á của Liên Bang Sô Viết, và tự mình nghiên cứu tường tận những tài liệu này. Rồi sau đó, với các kỹ sư Bộ Xây Dựng, ông dùng trực thăng lên, xuống và băng qua toàn thể khu vực núi non để xem xét, ghi chép hết tuần này đến tuần khác.
Cuối cùng, ngày 1/2/1968, ông ra lệnh khởi công. Toàn thể xa lộ dài 428 km, băng qua 29 cầu chính, 208 cầu nhỏ và 6 đường hầm chính đã hoàn tất ngày 30/6/1970. Các chuyên viên vận tải thuộc Ngân Hàng Phát Triển Á Châu cho biết là với phí tổn 330 Mỹ kim cho 1 cây số, có thể là thấp nhất trong lịch sử xây dựng xa lộ loại này. Trong 3 năm đầu, xa lộ Seoul – Pusan đã phục vụ cho khu vực tạo ra 70% tổng sản lượng quốc gia, và xe cộ sử dụng con đường đã chiếm tới 80% lượng xe lưu thông trong nước.
Một kỹ sư Bộ Xây Dựng làm việc 18 tháng ở Công Trường Xây Dựng Xa Lộ, đã ghi lại: “Sau một thời gian, tôi thấy ông như là người điều khiển một ban nhạc. Với chiếc trực thăng và cây gậy, ông lên xuống, lần này với một toán nhà địa chất để tìm hiểu có cái gì trục trặc mà vách núi đã sập trên những người xây dựng đường hầm, lần khác với mấy nhà thủy học Liên Hiệp Quốc để tìm xem các họa đồ viên của Đại Hàn đã ghi sai mực nước ngầm ra sao. Nếu ngày thứ Ba không có được câu trả lời thì ông sẽ trở lại với vấn đề này ngày thứ Năm hoặc thứ Bảy”.
Ký giả Michael Keon đã ghi lại một sự kiện cho thấy Park Chung Hee đã coi việc hoàn thành con đường như là một nhiệm vụ lịch sử, khi chính ông đích thân làm lễ tuyên thệ cho những sĩ quan trẻ được tuyển chọn trong Đoàn Kỹ Sư Công Binh để làm đốc công và chuyên viên sửa chữa máy móc, với lời thề: “Nguyện hiến thân cho sự thịnh vượng của tổ quốc cùng hạnh phúc của đồng bào, và sẽ chịu bất cứ hình phạt gì nếu không làm tròn nhiệm vụ”. (Michael Keon, Korea Phoenix: A Nation from the Ashes, Englewood Cliffs: Prentice – Hall International, 1977, trg. 78, 79)

Năm 1961, có lẽ ít người dám tin khi Park Chung Hee nói là sẽ biến Đại Hàn thành cường quốc kinh tế trong 20 năm. Nhưng với phong cách lãnh đạo cương quyết, thực tiễn và hết lòng, ông đã đem lại niềm tin. Vì chỉ trong một thời gian ngắn, người dân Đại Hàn nhận ra rằng lời nói và cuộc sống của ông đã đi đôi với việc làm. Từ đó, ông đã có thể truyền cho người dân ý thức về sự cấp bách phải làm để giải phóng thân phận của một quốc gia nghèo đói và chậm tiến: “Xin đồng bào nhớ rằng dân tộc chúng ta đã mất cả thế kỷ. Chúng ta không còn thời gian để mất nữa. Vì chúng ta phải thực hiện cả chục việc trong thời gian mà những nước khác chỉ phải làm một. Chúng ta phải tiếp tục làm khi các dân tộc khác có thể nghỉ ngơi. Ngày nay, bánh xe lịch sử quay với một tốc lực ghê gớm. Nếu bỏ qua một ngày lười biếng, chúng ta sẽ tụt lại đằng sau người khác một năm, mà nếu lãng phí một năm, chúng ta sẽ tụt hậu 10, 20 năm”. (Park Chung Hee, Major Speeches, trg. 72)
Dân Đại Hàn đã cảm được điều này và họ đã thực hiện được công cuộc giải phóng Nam Hàn khỏi kiếp nạn nghèo đói.

Kết luận

Sau gần hai thập niên sử dụng những biện pháp độc tài, chế độ Park Chung Hee đã thực hiện được cuộc cách mạng kinh tế, đưa Đại Hàn từ một nước nghèo đói, chậm tiến lên hàng những quốc gia phát triển giàu mạnh. Vì thế, từ khởi đầu cuộc cách mạng kinh tế, có thể nhiều người đồng ý là những biện pháp độc tài của Park Chung Hee cần thiết để chấm dứt tình trạng khủng hoảng chính trị, bất ổn xã hội kéo dài, và cũng cần thiết để chính quyền có thể dễ dàng huy động tài nguyên nhân vật lực thực hiện các chính sách xây dựng kinh tế.
Nhưng theo thời gian cầm quyền cùng với những thành tựu kinh tế, Park Chung Hee, qua nhận định của nhiều nhà nghiên cứu, đã tự coi mình là người không thể thay thế đối với vận mệnh của Đại Hàn. Vì thế ông đã không nhìn biện pháp độc tài như một giai đoạn cần thiết để biết dừng trên hướng đặt nền cho sự phát triển kinh tế với chính trị dân chủ mà trụ vào độc tài như một nền tảng để duy trì quyền lãnh đạo mãn đời. Từ tham vọng này, Park đã tạo ra một tình thế tương tranh thường trực giữa độc tài và dân chủ. Rồi vì cần duy trì quyền lực, ông càng ngày càng lún sâu vào con đường chối bỏ tự do dân chủ nhân danh sự ổn định và phát triển. Từ quan niệm cho rằng “Nhân dân Á Châu sợ hãi đói nghèo hơn là sợ chế độ độc tài…, và thứ ngọc thiếu ánh sáng được gọi là chế độ dân chủ thì vô nghĩa đối với người dân chết đói và tuyệt vọng” (Michael Keon, đd, tr. 106), ông đã nhìn lệch giá trị nhân sinh, chối bỏ lịch sử tiến hóa của con người theo kiểu ngụy biện của một nhà chính trị độc tài. Theo cách nhìn này, ông đã giảm trừ giá trị con người vào chuyện cơm áo mà quên cùng đích của việc giải phóng con người là tự do, dân chủ và công lý, nhất là lịch sử của dân tộc Đại Hàn cho đến đời của Park là lịch sử của nửa thế kỷ bị nô lệ, áp chế và tủi nhục. Việc coi thường ý thức dân chủ thời đại, coi thường khát vọng dân chủ của nhân dân Đại Hàn đã đưa ông đến cái chết thảm khốc (26/10/79) và hạ thấp sự nghiệp chính trị của ông. Thực tế là con đường độc tài của Park Chung Hee đã không đem lại sự ổn định như ông mong muốn, mà người dân Đại Hàn đã trả lời ông rằng người Á Châu cũng là người như các dân tộc khác trên thế giới, ai cũng muốn có tự do và dân chủ.
Nhưng nhìn lại, chúng ta thấy dân tộc Đại Hàn vẫn có cái may là đã có một ông tướng quân phiệt mà yêu nước, biết sống và biết làm để đưa người dân và đất nước đi lên.
Cứ nhìn vào đời sống và những việc làm của Park Chung Hee, rồi nhìn vào xã hội và tinh thần của người dân Nam Hàn ngày nay, chúng ta sẽ thấy sự bất hạnh của dân Việt, sẽ thấy mối nhục và mối nguy của đất nước khi những người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam đã ăn cắp cả những món tiền ngoại viện để người ta phải nói: Các ông hãy chấm dứt tham nhũng, rồi hãy đi xin thế giới.
Năm 1961, Park Chung Hee đã nói với dân Đại Hàn: “Chúng ta sẽ bắt thế giới phải ngưỡng mộ chúng ta”, và dân Đại Hàn đã làm được việc ấy. Còn ở Việt Nam ngày nay thì đảng Cộng Sản đã dùng độc tài toàn trị bắt dân Việt phải cúi mặt để đảng tự do ăn cắp và tàn phá đất nước. Nhưng dân Việt sẽ cúi mặt hay ngẩng đầu?

Việt Dương

Nguồn :
vietdc.org

Thursday, July 2, 2009

le drapeau breton


Gwenn ha Du


Le drapeau breton : le "Gwenn ha Du" (blanc et noir), drapeau de la Bretagne que l'on voit flotter un peu partout en Bretagne, a été créé en 1923. Il comporte neuf bandes : cinq bandes noires qui symbolisent les cinq anciens "pays" ou évêchés de Haute-Bretagne : Dol, Nantes, Rennes, Saint-Brieuc et Saint-Malo, et quatre bandes blanches qui symbolisent les quatre anciens "pays" ou évêchés de Basse-Bretagne : Cornouaille, Léon, Trégor et Vannetais. Le coin supérieur gauche contient un quartier d'hermines.

Hiến pháp VNCH 1967


HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HOÀ
(Năm 1967)

QUỐC HỘI LẬP HIẾN Chung quyết trong phiên họp Ngày 18 tháng 3 năm 1967

LỜI MỞ ĐẦU

Tin tưởng rằng lòng ái quốc, chí quật cường, truyền thống đấu tranh của dân tộc bảo đảm tương lai huy hoàng của đất nước.
Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể Cộng Hòa của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc Lập Tự Do Dân Chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.
Chúng tôi một trăm mười bảy (117) Dân Biểu Quốc Hội Lập Hiến đại diện nhân dân Việt Nam, sau khi thảo luận, chầp thuận Bản Hiến Pháp sau đây :

CHƯƠNG I: Điều khoản căn bản
ĐIỀU 1
1- VIỆT NAM là một nước CỘNG HÒA, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân
2- Chủ quyền Quốc Gia thuộc về toàn dân
ĐIỀU 2
1- Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân
2- Quốc Gia chủ trương sự bìng đẳng giữa các công dân không phân biệt nam nữ, tôn giáo, sắc tộc, đảng phái. Đồng bào thiểu số được đặc biệt ,nâng đỡ để theo kịp đà tiến hóa chung của dân tộc
3- Mọi công dân có nghĩa vụ góp phần phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc
ĐIỀU 3
Ba cơ quan Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hòa để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự Do, Dân Chủ và Công Bằng Xã Hội
ĐIỀU 4
1- Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức
2- Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ
ĐIỀU 5
1- Việt Nam Cộng Hòa chấp nhận các nguyên tắc quốc tế pháp không trái với chủ quyền quốc gia và sự bình đẳng giữa các dân tộc
2- Việt Nam Cộng Hòa cương quyết chống lại mọi hình thức xâm lược và nỗ lực góp phần xây dựng nền an ninh và hòa bình thế giới

CHƯƠNG II:
Quyền lợi và Nghĩa vụ công dân
ĐIỀU 6
1- Quốc Gia tôn trọng nhân phẩm
2- Luật pháp bảo vệ tự do, sinh mạng, tài sản và danh dự của mọi công dân
ĐIỀU 7
1- Quốc Gia tôn trọng và bảo vệ quyền an toàn cá nhân và quyền biện hộ
2- Không ai có thể bị bắt bớ, giam giữ nếu không có mệnh lệnh hợp pháp của cơ quan có thẩm quyền luật định, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp
3- Bị can và thân nhân phải được thông báo tội trạng trong thờ hạn luật định. Mọi sự câu lưu phải đặt dưới quyền kiểm soát của cơ quan Tư Pháp
4- Không ai có thể bị tra tấn, đe dọa hay cưỡng bách thú tội. Sự nhận tội vì tra tấn. Đe dọa hay cưỡng bách không được coi là bằng chứng buộc tội
5- Bị can phải được xét xử công khai và mau chóng
6- Bị can có quyền được luật sư biện hộ dự kiến trong moi giai đoạn thẩm vấn kể cả trong cuộc điều tra sơ vấn
7- Bị can về các tội Tiểu Hình, chưa có tiền án quá ba (3) tháng tù về các tội phạm cố ý, có thể được tại ngoại hầu tra nếu có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn. Nữ bị can về các tội tiểu hình. Có nghề nghiệp và địa chỉ chắc chắn, nếu có thai trên ba (3) tháng
8- Bị can được suy đoán là vô tội cho đến khi bản án xác nhận tội trạng trở thành nhất định.
Sự nghi vấn có lợi cho bị can
9- Bị can bị bắt giữ oan ức, sau khi được tuyên bố vô tội, có quyền đòi Quốc Gia bồi Thường thiệt hại trong những điều kiện luật định
10- Không ai có thể bị câu thúc thân thể vì thiếu nợ
ĐIỀU 8
1- Đời tư, nhà cửa và thư tín của công dân phải được tôn trọng
2- Không ai được quyền xâm nhập, khám xét nơi cư trú và tịch thâu đồ vật của người dân, trừ khi có lệnh của Tòa Aùn hoặc cần bảo vệ an ninh và trật tự công cộng trong phạm vi luật định
3- Luật pháp bảo vệ tánh cách riêng tư của thư tín, những hạn chế, nếu có phải do một (1) đạo luật qui định
ĐIỀU 9
1- Quốc Gia tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do truyền giáo và hành đạo của mọi công dân miễn là không xâm phạm đến quyền lợi quốc gia, không phương hại đến an ninh, trật tự công cộng và không trái với thuần phong mỹ tục
2- Quốc Gia không thừa nhận một tôn giáo nào là Quốc Giáo. Quốc Gia vô tư đối với sự phát triển của các tôn giáo
ĐIỀU 10
1- Quốc Gia công nhận quyền tự do giáo dục
2- Nền giáo dục cơ bản có tính cách cưỡng bách và miễn phí
3- Nền giáo dục Đại Học được tự trị
4- Những người có khả năng mà không có phương tiện sẽ được nâng đỡ để theo đuổi học vấn
5- Quốc Gia khuyến khích và nâng đỡ các công dân trong việc nghiên cứu và sáng tác về khoa học, văn học và nghệ thuật
ĐIỀU 11
1- Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản
2- Một ngân sách thích đáng phải được dành cho việc phát triển văn hóa giáo dục
ĐIỀU 12
1- Quốc Gia tôn trọng quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, báo chí và xuất bản, miễn là sự hành xử các quyền này không phương hại đến danh dự cá nhân, an ninh quốc phòng hay thuần phong mỹ tục
2- Chế độ kiểm duyệt không được chấp nhận, ngoại trừ các bộ môn điện ảnh và kịch trường
3- Một đạo luật sẽ ấn định qui chế báo chí
ĐIỀU 13
1- Mọi công dân đều có quyền tự do hội họp và lập hội trong phạm vi luật định
2- Mọi công dân đều có quyền bầu cử , ứng cử và tham gia công vụ trên căn bản bình đẳng theo điều kiện và thể thức luật định
3- Quốc Gia tôn trọng các quyền chính trị của mọi công dân kể cả quyền tự do thỉnh nguyện, quyền đối lập công khai bất bạo động và hợp pháp
ĐIỀU 14
Mọi công dân đều có quyền tự do cư trú, đi lại, xuất ngoại và hồi hương, ngoại trừ trường hợp luật pháp hạn chế vì lý do y tế, an ninh và quốc phòng
ĐIỀU 15
1- Mọi công dân đều có quyền, có bổn phận làm việc và được hưởng thù lao tương xứng để bảo đảm cho bản thân và gia đình một đời sống hợp với nhân phẩm
2- Quốc Gia nỗ lực tạo công việc làm cho mọi công dân
ĐIỀU 16
Quyền tự do nghiệp đoàn và quyền đình công được tôn trọng trong phạm vi và thể thức luật định
ĐIỀU 17
1- Quốc Gia công nhận gia đình là nền tảng của xã hội. Quốc Gia khuyến khích, nâng đỡ sự thành lập gia đình, săn sóc sản phụ và thai nhi
2- Hôn nhân được đặt căn bản trên sự ưng thuận, sự bình đẳng và sự hợp tác giữa vợ chồng
3- Quốc Gia tán trợ sự thuần nhất gia đình
ĐIỀU 18
1- Quốc Gia nỗ lực thiết lập chế độ an ninh xã hội
2- Quốc Gia có nhiệm vụ thiết lập chế độ cứu trợ xã hội và y tế công cộng
3- Quốc Gia có nhiệm vụ nâng đỡ đời sống tinh thần và vật chất của các chiến sĩ quốc gia, bảo trợ và dưỡng dục các quốc gia nghĩa tử
ĐIỀU 19
1- Quốc Gia công nhận và bảo đảm quyền tư hữu
2- Quốc Gia chủ trương hữu sản hóa nhân dân
3- Sở hữu chủ các tài sản bị truất hữu hoặc trưng dụng vì lý do công ích phải được bồi thường nhanh chóng và thoả đáng theo thời giá
ĐIỀU 20
1- Qsuyền tự do kinh doanh và cạnh tranh được công nhận nhưng không được hành xử để nắm giữ độc quyền, độc chiếm hay thao túng thị trường
2- Quốc Gia khuyến khích và tán trợ sự hợp tác kinh tế có tánh cách tương trợ
3- Quốc Gia đặc biệt nâng đỡ những thành phần xã hội yếu kém về kinh tế
ĐIỀU 21
Quốc Gia chủ trương nâng cao đời sống nông dân và đặc biệt giúp đỡ nông dân có ruộng đất canh tác
ĐIỀU 22
Trên nguyên tắc quân bình giữa nghĩa vụ và quyền lợi, công nhân có quyền cử đại biểu tham gia quản trị xí nghiệp, đặc biệt về những vấn đề liên quan đến lương bổng và điều kiện làm việc trong phạm vi và thể thức luật định
ĐIỀU 23
1- Quân Nhân đắc cử vào các chức vụ dân cử, hay tham chánh tại cấp bậc trung ương phải được giải ngũ hay nghỉ giả hạn không lương, tuỳ theo sự lựa chọn của đương sự
2- Quân Nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái
ĐIỀU 24
1- Quốc Gia công nhận sự hiện hữu của các sắc tộc thiểu số trong cộng đồng Việt Nam
2- Quốc Gia tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào thiểu số. Các tòa án phong tục phải được thiết lập để xét xử một số các vụ án phong tục giữa các đồng bào thiểu số
3- Một đạo luật sẽ qui định những quyền lợi đặc biệt để nâng đỡ đồng bào thiểu số
ĐIỀU 25
Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc và chánh thể Cộng Hòa
ĐIỀU 26
Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Hiến Pháp và tôn trọng luật pháp
ĐIỀU 27
Mọi công dân đều có nghĩa vụ thi hành quân dịch theo luật định
ĐIỀU 28
Mọi công dân đều có nghĩa vụ đóng thuế theo luật định
ĐIỀU 29
Mọi sự hạn chế các quyền công dân căn bản phải được qui định bởi một đạo luật có ấn định rõ phạm vi áp dụng trong thời gian và không gian. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, tánh cách thiết yếu của các quyền công dân căn bản vẫn không được vi phạm.

CHƯƠNG III: Lập Pháp
ĐIỀU 30
Quyền Lập Pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc Hội.
Quốc Hội gồm hai viện :
- Hạ Nghị Viện
- Thượng Nghị Viện
ĐIỀU 31
Hạ Nghị Viện gồm từ một trăm (100) đến hai trăm (200) Dân Biểu
1- Dân Biểu được bầu theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức đơn danh, trong từng đơn vị lớn nhất là tỉnh
2- Nhiệm kỳ Dân Biểu là bốn (4) năm. Dân Biểu có thể được tái cử
3- Cuộc bầu cử tân Hạ Nghị Viện sẽ được kết thúc chậm nhất là một (1) tháng trước khi pháp nhiệm cũ chấm dứt
ĐIỀU 32
Được quyền ứng cử Dân Biểu những công dân :
1- Có Việt tịch từ khi mới sanh, hoặc đã nhập Việt tịch ít nhất bảy (7) năm, hoặc đã thủ đắc hoặc hồi phục Việt tịch ít nhất năm (5) năm tính đến ngày bầu cử
2- Đủ hai mươi lăm (25) tuổi tính đến ngày bầu cử
3- Được hưởng các quyền công dân
4- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch
5- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Dân Biểu
ĐIỀU 33
Thượng Nghị Viện gồm từ ba mươi (30) đến sáu mươi (60) Nghị Sĩ
1- Nghị Sĩ được cử tri đoàn toàn quốc bầu lên trong một cuộc phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín theo thể thức Liên Danh đa số. Mỗi Liên Danh gồm từ một phần sáu (1/6) đến một phần ba (1/3) tổng số Nghị Sĩ
2- Nhiệm kỳ Nghị Sĩ là sáu (6) năm, mỗi ba (3) năm bầu lại phân nửa (1/2). Nghị Sĩ có thể được tái cử
3- Các Nghị Sĩ trong pháp nhiệm đầu tiên sẽ được chia làm hai nhóm đều nhau, theo thể thức rút thăm. Nhóm thứ nhất có nhiệm kỳ sáu (6) năm, nhóm thứ hai có nhiệm kỳ ba (3) năm
4- Cuộc bầu cử các tân Nghị Sĩ phải được tổ chức chậm nhất là một (1) tháng trước khi phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ chấm dứt pháp nhiệm
ĐIỀU 34
Được quyền ứng cử Nghị Sĩ những công dân đủ ba mươi (30) tuổi tính đến ngày bầu cử, hội đủ các điều kiện dự liệu trong đạo luật bầu cử Nghị Sĩ và các điều kiện qui định ở Điều 32
ĐIỀU 35
1- Trong trường hợp khống khuyết Dân Biểu vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức trong hạn ba (3) tháng, nếu sự khống khuyết xảy ra trên hai (2) năm trước ngày chấm dứt pháp nhiệm
2- Trong trường hợp khô&ng khuyết Nghị Sĩ vì bất cứ nguyên nhân nào, cuộc bầu cử thay thế sẽ được tổ chức chung với cuộc bầu cử phân nửa (1/2) tổng số Nghị Sĩ gần nhất
ĐIỀU 36
Các thể thức và điều kiện ứng cử, bầu cử Dân Biểu và Nghị Sĩ, kể cả Dân Biểu đồng bào Thiểu số, sẽ do những đạo luật quy định
ĐIỀU 37
1- Không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ vì những sự phát biểu và biểu quyết tại Quốc Hộ
2- Trong suốt thời gian pháp nhiệm, ngoại trừ trường hợp quả tang phạm pháp, không thể truy tố, tầm nã, bắt giam hay xét xử một Dân Biểu hay Nghị Sĩ, nếu không có sự chấp thuận của ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ
3- Trong trường hợp quả tang phạm pháp, sự truy tố hay bắt giam sẽ được đình chỉ nếu có sự yêu cầu của Viện sở quan
4- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền bảo mật về xuất xứ các tài liệu trình bày trước Quốc Hội
5- Dân Biểu và Nghị Sĩ không thể kiêm nhiệm một chức vụ công cử hay dân cử nào khác
6- Dân Biểu và Nghị Sĩ có thể phụ trách giảng huấn tại các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật
7- Dân Biểu, Nghị Sĩ và người hôn phối không thể tham dự những cuộc đấu thầu hay ký hợp đồng với các cơ quan công quyền
ĐIỀU 38
1- Trong trường hợp can tội phản quốc hay các trọng tội khác, Dân Biểu hay Nghị Sĩ có thể bị Viện sở quan truất quyền
2- Sự truất quyền phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ đề nghị
3- Quyết định truất quyền phải được ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ chấp thuận
4- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truất quyền
ĐIỀU 39
Quốc Hội có thẩm quyền :
1- Biểu quyết các đạo luật
2- Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế
3- Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa
4- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh
5- Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chánh sách Quốc Gia
6- Trong phạm vi mỗi viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân Biểu hay Nghị Sĩ
ĐIỀU 40
1- Mỗi viện với một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ có quyền yêu cầu Thủ Tướng hay các nhân viên chính phủ ra trước Viện sở quan để trả lời các câu chất vấn về sự thi hành chánh sách quốc gia
2- Chủ tịch Uũy Ban của mỗi viện có quyền yêu cầu các nhân viên chánh phủ tham dự các phiên họp của Uũy Ban để trình bày về các vấn đề liên quan đến Bộ sở quan
ĐIỀU 41
Thượng Nghị Viện có quyền mở cuộc điều tra về sự thi hành chánh sách quốc gia và yêu cầu các cơ quan công quyền xuất trình các tài liệu cần thiết cho cuộc điều tra này
ĐIỀU 42
1- Quốc Hội có quyền khuyến cáo thay thế từng phần hay toàn thể Chánh phủ với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ
2- Nếu Tổng Thống không có lý do đặc biệt để khước từ, sự khuyến cáo sẽ có hiệu lực
3- Trong trường hợp Tổng Thống khước từ, Quốc Hội có quyền chung quyết sự khuyến cáo với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Sự khuyến cáo sau này của Quốc Hội có hiệu lực kể từ ngày chung quyết
ĐIỀU 43
1- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các dự án luật
2- Tổng Thống có quyền đề nghị các dự thảo luật
3- Các dự án luật và dự thảo luật, gọi chung là dự luật phải được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện
4- Trong mọi trường hợp Hạ Nghị Viện chấp thuận hoặc bác bỏ một dự luật. Viện này đều chuyển dự luật sang văn phòng Thượng Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn
5- Nếu Thượng Nghị Viện đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được chuyển sang Tổng Thống để ban hành hoặc sẽ bị bác bỏ
6- Nếu Thượng Nghị Viện không đồng quan điểm với Hạ Nghị Viện, dự luật sẽ được gởi về văn phòng Hạ Nghị Viện trong thời hạn ba (3) ngày tròn, kèm theo quyết nghị có viện dẫn lý do
7- Trong trường hợp sau này, Hạ Nghị Viện có quyền chung quyết dự luật với đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu
8- Nếu Hạ Nghị Viện không hội đủ đa số hai phần ba (2/3) nói trên, quan điểm của Thượng Nghị Viện được coi là chung quyết
9- Thời gian thảo luận và biểu quyết một dự luật tại Thượng Nghị Viện chỉ có thể bằng phân nửa (1/2) thời gian thảo luận và biểu quyết tại Hạ Nghị Viện. Thời gian thảo luận và chung quyết một dự luật tại Hạ Nghị Viện chỉ có thể gấp đôi thời gian thảo luận và biểu quyết tại Thượng Nghị Viện
ĐIỀU 44
1- Các dự luật được Quốc Hội chung quyết sẽ được chuyển sang Tổng Thống trong thời hạn ba (3) ngày tròn
2- Thời gian ban hành là mười lăm (15) ngày tròn kể từ ngày Tổng Thống tiếp nhận dự luật
3- Trong trường hợp khẩn cấp do Quốc Hội thẩm định, thời hạn ban hành là bảy (7) ngày tròn
4- Nếu Tổng Thống không ban hành trong các thời hạn kể trên, dự luật đã được Quốc Hội biểu quyết đương nhiên thành luật và sẽ được Chủ Tịch Thượng Nghị Viện ban hành
ĐIỀU 45
1- Trong thời hạn ban hành, Tổng Thống có quyền gởi thông điệp có viện dẫn lý do yêu cầu Quốc Hội phúc nghị một hay nhiều điều khoản của dự luật
2- Trong trường hợp này, Quốc Hội sẽ họp khoáng đại lưỡng viện để chung quyết dự luật vớ đa số quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ. Nếu Quốc Hội chung quyết bác bỏ lời yêu cầu phúc nghị của Tổng Thống, dự luật đương nhiên thành luật và được chuyển sang Tổng Thống để ban hành
ĐIỀU 46
1- Dự thảo ngân sách được đệ nạp tại văn phòng Hạ Nghị Viện trước ngày ba mươi tháng chín (30-09)
2- Dân Biểu và Nghị Sĩ có quyền đề nghị các khoản chi mới nhưng đồng thời phải đề nghị các khoản thu tương đương
3- Hạ Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi tháng mười một (30-11) và chuyển bản văn đã được chấp thuận đến văn phòng Thượng Nghị Viện chậm nhất là ngày một tháng mười hai (1-12)
4- Thượng Nghị Viện phải biểu quyết dự thảo ngân sách trước ngày ba mươi mốt tháng mười hai (31-12)
5- Trong thời hạn nói trên, nếu Thượng Nghị Viện yêu cầu Hạ Nghị Viện phúc nghị một hay nhiều điều khoản trong dự thảo ngân sách, thủ tục qui định tại điều 43 phải được áp dụng. Trường hợp này Tổng Thống có quyền ký sắc luật cho thi hành từng phần ngân sách tương đương với một phần mười hai (1/12) ngân sách thuộc tài khoá trước cho đến khi Hạ Nghị Viện chung quyết xong dự thảo ngân sách
ĐIỀU 47
1- Mỗi Viện họp những khóa thường lệ và những khóa ba^’t thường
2- Hằng năm mỗi viện họp hai khóa thường lệ. Một khóa họp bắt đầu ngày thứ Hai đầu tiên trong tháng Tư dương lịch, một khóa họp bắt đầu ngày thứ hai đầu tiên trong tháng Mười dương lịch. Mỗi khóa họp thường lệ không thể lâu quá chín mươi (90) ngày. Tuy nhiên Hạ Nghị Viện có thể triển hạn khóa họp để chung quyết dự thảo ngân sách
3- Mỗi viện có thể triệu tập các khóa họp bất thường khi có sự yêu cầu của Tổng Thống hoặc một phần ba (1/3) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ. Nế khóa họp bất thường do Tổng Thống yêu cầu triệu tập, nghị trình khóa họp do Tổng Thống ấn định
ĐIỀU 48
1- Quốc Hội họp công khai trừ khi quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay Nghị Sĩ hiện diện yêu cầu họp kín
2- Trong các phiên họp công khai, biên bản tường thuật toàn vẹn cuộc thảo luận và các tài liệu trình bày tại Quốc Hội sẽ được đăng trên Công Báo
ĐIỀU 49
1- Mỗi viện bầu Chủ Tịch và các nhân viên văn phòng
2- Mỗi viện thành lập các Uũy Ban thường trực và các Uũy Ban đặc biệt
3- Mỗi viện trọn quyền ấn định nội quy
4- Văn phòng hai (2) viện ấn định thủ tục liên lạc và sinh hoạt giữa hai (2) viện
ĐIỀU 50
1- Chủ Tịch Thượng Nghị Viện triệu tập và chủ tọa các phiên họp khoáng đại lưỡng viện
2- Trường hợp Chủ Tịch Thượng Nghị Viện bị ngăn trở, Chủ Tịch Hạ Nghị Viện sẽ thay thế Chủ Tịch Thượng Nghị Viện trong nhiệm vụ này

CHƯƠNG IV: Hành Pháp
ĐIỀU 51
Quyền Hành Pháp được Quốc Dân ủy nhiệm cho Tổng Thống
ĐIỀU 52
1- Tổng Thống và Phó Tổng Thống cùng đứng chung một liên danh, được cử tri toàn quốc bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín
2- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống là bốn (4) năm. Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể được tái cử một lần
3- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống chấm dứt đúng mười hai (12) giờ trưa ngày cuối cùng tháng thứ bốn mươi tám (48) kể từ ngày nhậm chức và nhiệm kỳ của tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống bắt đầu từ lức ấy
4- Cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống được tổ chức vào ngày chúa nhật bốn (4) tuần lễ trước khi nhiệm kỳ của Tổng Thống tại chức chấm dứt
ĐIỀU 53
Được quyền ứng cử Tổng Thống hoạc Phó Tổng Thống những công dân hội đủ các điều kiện sau đây :
1- Có Việt tịch từ khi mới sanh ra và liên tục cư ngụ trên lãnh thổ Việt Nam ít nhất mười (10) năm tính đến ngày bầu cử
Thời gian công cán và lưu vong chánh trị tại ngoại quốc được kể như thời gian cư ngụ tại nước nhà
2- Đủ ba mươi lăm (35) tuổi tính đến ngày bầu cử
3- Được hưởng các quyền công dân
4- Ở trong tình trạng hợp lệ quân dịch
5- Hội đủ những điều kiện khác dự liệu trong đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống
ĐIỀU 54
1- Tối cao Pháp viện lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức của cuộc bầu cử và tuyên bố kết quả
2- Các ứng cử viên được hưởng đồng đều phương tiện trong cuộc vận động tuyển cử
3- Một đạo luật sẽ qui định thể thức ứng cử và bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống
ĐIỀU 55
Khi nhậm chức, Tổng Thống tuyên thệ trước quốc dân với sự chứng kiến của Tối cao Pháp viện và Quốc Hội : “Tôi long trọng tuyên thệ trước quốc dân sẽ bảo vệ Tổ Quốc, tôn trọng Hiến Pháp, phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc và tận lực làm tròn nhiệm vụ Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa ”
ĐIỀU 56
1- Nhiệm kỳ của Tổng Thống và Phó Tổng Thống có thể chấm dứt trước hạn kỳ trong những trường hợp :
a- Mệnh chung
b- Từ chức
c- Bị truất quyền
d- Bị bệnh tật trầm trọng và kéo dài không còn năng lực để làm tròn nhiệm vụ. Sự mất năng lực này phải được Quốc Hội xác nhận với đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ sau các cuộc giám định và phản giám định y khoa
2- Trong trường hợp nhiệm vụ của Tổng Thống chấm dứt trên một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ tạm thời đảm nhiệm chức vụ
Tổng Thống trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức cuộc bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống cho nhiệm kỳ mới
3- Trong trường hợp nhiệm vụ Tổng Thống chấm dứt dưới một (1) năm trước kỳ hạn, Phó Tổng Thống sẽ đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống đến hết nhiệm kỳ, ngoại trừ trường hợp Tổng Thống bị truất quyền
4- Nếu vì một lý do gì Phó Tổng Thống không thể đảm nhiệm chức vụ Tổng Thống, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện sẽ đảm nhiệm chức vụ này trong thời hạn ba (3) tháng để tổ chức bầu cử tân Tổng Thống và tân Phó Tổng Thống
ĐIỀU 57
Tổng Thống ban hành các đạo luật trong thời hạn qui định ở điều 44
ĐIỀU 58
1- Tổng Thống bổ nhiệm Thủ Tướng; theo đề nghị của Thủ Tướng, Tổng Thống bổ nhiệm các nhân viên Chánh Phủ
2- Tổng Thống có quyền cải tổ toàn bộ hay một phần Chánh Phủ, hoặc tự ý, hoặc sau khi có khuyến cáo của Quốc Hội
ĐIỀU 59
1- Tổng Thống bổ nhiệm với sự chấp thuận của Thượng Nghị Viện :
a- Các trưởng nhiệm sở ngoại giao
b- Viện Trưởng các viện Đại Học
2- Tổng Thống thay mặt Quốc Gia trong việc giao thiệp với ngoại quốc, tiếp nhận ủy nhiệm thư của các đại diện ngoại giao
3- Tổng Thống ký kết và sau khi được Quốc Hội phê chuẩn, ban hành các hiệp ước và hiệp định quốc tế
ĐIỀU 60
Tổng Thống là Tổng Tư Lệnh tối cao Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
ĐIỀU 61
1- Tổng Tống ban các loại huy chương
2- Tổng Thống có quyền ân xá và ân giảm hình phạt các phạm nhân
ĐIỀU 62
1- Tổng Thống hoạch định chánh sách quốc gia
2- Tổng Thống chủ tọa Hội Đồng Tổng Trưởng
ĐIỀU 63
1- Tổng Thống tiếp xúc với Quốc Hội bằng thông điệp. Vào mỗi khóa họp thường lệ và mỗi khi thấy cần, Tổng Thống thông báo cho Quốc Hội biết tình hình quốc gia và chánh sách đối nội, đối ngoại của Chánh Phủ
2- Thủ Tướng và các nhân viên Chánh Phủ có thể tham dự các phiên họp của Quốc Hội hoặc của các Uũy Ban để trình bày và giải thích về các vấn đề liên quan đến chánh sách quốc gia và sự thi hành chánh sách quốc gia
ĐIỀU 64
1- Trong các trường hợp đặc biệt, Tổng Thống có thể ký sắc luật tuyên bố tình trạng báo động, giới nghiêm hay khẩn trương trên một phần hay toàn lãnh thổ
2- Quốc Hội phải được triệu tập chậm nhất mười hai (12) ngày kể từ ngày ban hành sắc luật để phê chuẩn, sửa đổi hoặc bải bỏ
3- Trong trường hợp Quốc Hội bải bỏ hoặc sửa đổi sắc luật của Tổng Thống, các tình trạng đặc biệt đã được ban hành sẽ chấm dứt hoặc thay đổi hiệu lực
ĐIỀU 65
Trong tình trạng chiến tranh không thể tổ chức bầu cử được, với sự chấp thuận của hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ, Tổng Thống có quyền lưu nhiệm một số các cơ quan dân cử và bổ nhiệm một số tỉnh trưởng
ĐIỀU 66
1- Phó Tổng Thống là Chủ tịch hội đồng văn hóa giáo dục, hội đồng kinh tế xã hội và hội đồng các Sắc Tộc thiểu số.
2- Phó Tổng Thống không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào trong Chánh phủ
ĐIỀU 67
1- Thủ Tướng điều khiển Chánh Phủ và các cơ cấu hành chánh quốc gia
2- Thủ Tướng chịu trách nhiệm về sự thi hành chánh sách quốc gia trước Tổng Thống
ĐIỀU 68
1- Tổng Thống, Phó Tổng Thống và các nhân viên Chánh Phủ không thể kiêm nhiệm một chức vụ nào thuộc lãnh vực tư, dù có thù lao hay không
2- Trong mọi trường hợp người hôn phối của các vị này không được tham dự các cuộc đấu thầu hoặc kết ước với các cơ quan công quyền
ĐIỀU 69
1- Hội Đồng An Ninh Quốc Gia có nhiệm vụ :
- Nghiên cứ các vấn đề liên quan đến an ninh quốc phòng
- Đề nghị các biện pháp thích ứng để duy trì an ninh quốc gia
- Đề nghị tuyên bố tình trạng bắo động, giới nghiêm, khẩn trương hoặc chiến tranh
- Đề nghị tuyên chiến hay nghị hòa
2- Tổng Thống là Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia
ĐIỀU 70
1- Nguyên tắc địa phương phân quyền được công nhận cho các tập thể địa phương có tư cách pháp nhân như : xã, tỉnh, thị xã và thủ đô
2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành nền hành chánh địa phương
ĐIỀU 71
1- Các cơ quan quyết định và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành các tập thể địa phương phân quyền sẽ do cử tri bầu lên theo lối phổ thông đầu phiếu trực tiếp và kín
2- Riêng ở cấp xã, xã trưởng có thể do hội đồng xã bầu lên trong số các hội viên hội đồng xã
ĐIỀU 72
Các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền là :
- Xã trưởng ở cấp xã
- Tỉnh trưởng ở cấp tỉnh
- Thị trưởng ở cấp thị xã Đô trưởng ở thủ đô
ĐIỀU 74
Chánh Phủ bổ nhiệm bên cạnh các Đô Trưởng, Thị Trưởng, Xã Trưởng hai (2) viên chức có nhiệm vụ phụ tá về hành chánh và an ninh cùng các nhân viên hành chánh khác
ĐIỀU 75
Nhân viên các cơ quan quyết nghị và các vị chỉ huy các cơ quan chấp hành của các tập thể địa phương phân quyền có thể bị Tổng Thống giải nhiệm trong trường hợp vi phạm Hiến Pháp, luật pháp quốc gia hay chánh sách quốc gia.

CHƯƠNG V: Tư Pháp
ĐIỀU 76
1- Quyền Tư Pháp độc lập, được ủy nhiệm cho Tối Cao Pháp Viện và được hành xử bởi các Thẩm Phán xử án
2- Một đạo kuật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành ngành Tư Pháp
ĐIỀU 77
Mọi Tòa Án phải do một đạo luật thiết lập với một thành phần Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố chuyên nghiệp và theo một thủ tục tôn trọng quyền biện hộ
ĐIỀU 78
1- Thẩm Phán xử án và Thẩm Phán công tố được phân nhiệm rõ rệt và có qui chế riêng biệt
2- Thẩm Phán xử án quyết định theo lương tâm và pháp luật dưới sự kiểm soát của Tối Cao Pháp Viện
3- Thẩm Phán công tố theo dõi sự áp dụng luật pháp để bảo vệ trật tự công cộng dưới sự kiểm soát của Bộ Tư Pháp
ĐIỀU 79
Thẩm Phán xử án chỉ có thể bị giải nhiệm trong trường hợp bị kết án, vi phạm kỷ luật hay bất lực về tinh thần hoặc thể chất
ĐIỀU 80
1- Tối Cao Pháp Viện gồm từ chín (9) đến mười lăm (15) Thẩm Phán. Tối Cao Pháp Viện do Quốc Hội tuyển chọn và Tổng Thống bổ nhiệm theo một danh sách ba mươi (30) người do Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn bầu lên
2- Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện phải là những Thẩm Phán hay Luật Sư đã hành nghề ít nhất mười (10) năm trong ngành Tư Pháp
3- Nhiệm kỳ của Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là sáu (6) năm
4- Thành phần cử tri thuộc Thẩm Phán Đoàn, Công Tố Đoàn và Luật Sư Đoàn phải đồng đều
5- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Tối Cao Pháp Viện
ĐIỀU 81
1- Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền giải thích Hiến Pháp, phán quyết về tánh cách hợp hiến hay bất hợp hiến của các đạo luật, sắc luật; tánh cách hợp hiến và hợp pháp của các sắc lệnh, nghị định và quyết định hành chánh
2- Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về việc giải tán một chánh đảng có chủ trương và hành động chống lại chánh thể Cộng Hòa
3- Trong trường hợp này, Tối Cao Pháp Viện sẽ họp khoáng đại toàn viện, các đại diện Lập Pháp hoặc Hành Pháp có thể tham dự để trình bày quan điểm
4- Những quyết định của Tối Cao Pháp Viện tuyên bố một đạo luật bất hợp hiến hoặc giải tán một chánh đảng phải hội đủ đa số ba phần tư (3/4) tổng số Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện
ĐIỀU 82
Tối Cao Pháp Viện có thẩm quyền phán quyết về các vụ thượng tố các bản án chung thẩm
ĐIỀU 83
Tối Cao Pháp Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để quản trị ngành Tư Pháp
ĐIỀU 84
1- Hội Đồng Thẩm Phán có nhiệm vụ :
- Đề nghị bổ nhiệm, thăng thưởng, thuyên chuyển và chế tài về kỷ luật các Thẩm Phán xử án
- Cố vấn Tối Cao Pháp Viện về các vấn đề liên quan đến ngành Tư Pháp
3- Hội Đồng Thẩm Phán gồm các Thẩm Phán xử án do các Thẩm Phán xử án bầu lên
4- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Thẩm Phán

CHƯƠNG VI: Các Định Chế Đặc Biệt

Đặc Biệt Pháp Viện
ĐIỀU 85
Đặc Biệt Pháp Viện có thẩm quyền truất quyền Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, các Tổng Bộ Trưởng, các Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện và các Giám Sát Viện trong trường hợp can tội phản quốc và các trọng tội khác
ĐIỀU 86
1- Đặc Biệt Pháp Viện do Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện giữ chức Chánh Thẩm và gồm năm (5) Dân Biểu và năm (5) Nghị Sĩ
2- KHI Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện là bị can, Chủ Tịch Thượng Nghị Viện giữ chức Chánh Thẩm
ĐIỀU 87
1- Đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên. Quyết định khởi tố phải được đa số hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận
Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống đề nghị khởi tố có viện dẫn lý do phải được hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ ký tên Quyết định khởi tố phải được đa số ba phần tư (3/4) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ biểu quyết chấp thuận
2- Đương sự phải đình chỉ nhiệm vụ từ khi Quốc Hội biểu quyết truy tố đến khi Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết
3- Đặc Biệt Pháp Viện phán quyết truất quyền theo đa số ba phần tư (3/4) tổng số nhân viên. Riêng đối với Tổng Thống và Phó Tổng Thống phán quyết truất quyền theo đa số bốn phần năm (4/5) tổng số nhân viên
4- Đương sự được quyền biện hộ trong mọi giai đoạn của thủ tục truy tố
5- Sau khi bị truất quyền, đương sự có thể bị truy tố trước các tòa án có thẩm quyền
6- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức, điều hành và thủ tục trước Đặc Biệt Pháp Viện

Giám Sát Viện
ĐIỀU 88
Giám Sát Viện có thẩm quyền :
1- Thanh tra, kiểm soát và điều tra nhân viên các cơ quan công quyền và tư nhân đồng phạm hay tòng phạm về mọi hành vi tham nhũng, đầu cơ, hối mại quyền thế hoặc phương hại đến quyền lợi quốc gia
2- Thẩm tra kế toán đối với các cơ quan công quyền và hợp doanh
3- Kiểm kê tài sản các nhân viên các cơ quan công quyền kể cả Tổng Thống, Phó Tổng Thống, Thủ Tướng, Dân Biểu, Nghị Sỉ, Chủ Tịch Tối Cao Pháp Viện
4- Riêng đối với Chủ Tịch Giám Sát
5- Viện và các Giám Sát Viên, việc kiểm kê tài sản do Tối Cao Pháp Viện đảm trách
ĐIỀU 89
1- Giám Sát Viện có quyền đề nghị các biện pháp chế tài về kỷ luật đối với nhân viên phạm lỗi hoặc yêu cầu truy tố đương sự ra trước tòa án có thẩm quyền
2- Giám Sát Viện có quyền công bố kết quả cuộc điều tra
ĐIỀU 90
1- Giám Sát Viện gồm từ chín (9) đến mười tám (18) Giám Sát viên, một phần ba (1/3) do Quốc Hội, một phần ba (1/3) do Tổng Thống và một phần ba (1/3) do Tối Cao Pháp Viện chỉ định
2- Giám Sát viên được hưởng những quyền hạn và bảo đảm cần thiết để thi hành nhiệm vụ
ĐIỀU 91
Giám Sát Viện có ngân sách tự trị và có quyền lập qui để tổ chức nội bộ và quản trị ngành giám sát.
Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Giám Sát Viện

Hội Đồng Quân Lực
ĐIỀU 92
1- Hội Đồng Quân Lực cố vấn Tổng Thống về các vấn đề liên quan đến Quân Lực, đặc biệt là việc thăng thưởng, thuyên chuyển và trừng phạt quân nhân các cấp
2- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Quân Lực

Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục
ĐIỀU 93
1- Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục có nhiệm vụ cố vấn Chánh Phủ soạn thảo và thực thi chánh sách văn hóa giáo dục
Một Lâm Viện Quốc Gia sẽ được thành lập
2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ
3- Các dự luật liên quan đến văn hóa giáo dục có thể được Hội Đồng tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận
ĐIỀU 94
1- Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục gồm :
- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định
- Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức văn hóa giáo dục công và tư, các hiệp hội phụ huynh học sinh đề cử
2- Nhiệm kỳ củ Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục là bốn (4) năm
3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục

Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội
ĐIỀU 95
1- Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về những vấn đề kinh tế và xã hội
2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ
3- Các dự luật kinh tế và xã hội có thể được Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội tham gia ý kiến trước khi Quốc Hội thảo luận
ĐIỀU 96
1- Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội gồm :
- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định
- Hai phần ba (2/3) hội viên do các tổ chức công kỹ nghệ, thương mại, nghiệp đoàn, các hiệp hội có tánh cách kinh tế và xã hội đề cử
2- Nhiệm kỳ Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội là bốn (4) năm
3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng Kinh Tế Xã Hội

Hội Đồng các Sắc Tộc
ĐIỀU 97
1- Hội Đồng các Sắc Tộc có nhiệm vụ cố vấn chánh phủ về các vấn đề liên quan đến đồng bào thiểu số
2- Với sự chấp thuận của Quốc Hội, Hội Đồng các Sắc Tộc có thể cử đại diện thuyết trình trước Quốc Hội về các vấn đề liên hệ
3- Các dự luật liên quan đến đồng bào thiểu số có thể được Hội Đồng các Sắc Tộc tham gia ý kiến trước khi đưa ra Quốc Hội thảo luận
ĐIỀU 98
1- Hội Đồng các Sắc Tộc gồm có :
- Một phần ba (1/3) hội viên do Tổng Thống chỉ định
- Hai phần ba (2/3) hội viên do các Sắc Tộc Thiểu Số đề cử
2- Nhiệm kỳ Hội Đồng các Sắc Tộc là bốn (4) năm
3- Một đạo luật sẽ qui định sự tổ chức và điều hành Hội Đồng các Sắc Tộc

CHƯƠNG VII: Chính Đảng và Đối Lập
ĐIỀU 99
1- Quốc Gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ
2- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định
ĐIỀU 100
Quốc Gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng
ĐIỀU 101
Quốc Gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị
ĐIỀU 102
Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị

CHƯƠNG VIII: Tu Chính Hiến Pháp
ĐIỀU 103
1- Tổng Thống, quá bán (1/2) tổng số Dân Biểu hay quá bán (1/2) tổng số Nghị Sĩ có quyền đề nghị tu chính Hiến Pháp
2- Đề nghị phải viện dẫn lý do và được đệ nạp tại văn phòng Thượng Nghị Viện
ĐIỀU 104
Một Uũy Ban lưỡng Viện sẽ được thành lập để nghiên cứu về đề nghị tu chính Hiến Pháp và thuyết trình trong những phiên họp khoáng đại lưỡng Viện
ĐIỀU 105
Quyết định tu chính Hiến Pháp phải hội đủ hai phần ba (2/3) tổng số Dân Biểu và Nghị Sĩ
ĐIỀU 106
Tổng Thống ban hành đạo luật tu chính Hiến Pháp theo thủ tục quy định ở Điều 44
ĐIỀU 107
Không thể huỷ bỏ hoặc tu chính điều một (1) và điều này của Hiến Pháp

CHƯƠNG IX: Điều khoản Chuyển Tiếp
ĐIỀU 108
Hiến Pháp bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày ban hành và Ước Pháp tạm thời ngày mười chín tháng sáu năm một ngàn chín trăm sáu mươi lăm (19.06.1965) đương nhiên hết hiệu lực
ĐIỀU 109
Trong thời gian chuyển tiếp, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đại diện Quốc Dân trong phạm vi lập pháp
1- Soạn thảo và chung quyết :
- Các đạo luật bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống, Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện
- Cá đạo luật tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát Viện
- Các quy chế chánh đảng và báo chí
2- Phê chuẩn các Hiệp Ước
ĐIỀU 110
Kể từ khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức, Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một ngàn chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) đảm nhiệm quyền Lập Pháp cho đến khi Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được triệu tập
ĐIỀU 111
Trong thời gian chuyển tiếp, Uũy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia và Uũy Ban Hành Pháp Trung Ương lưu nhiệm cho đến khi Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức
ĐIỀU 112
Trong thời gian chuyển tiếp, các Tòa Aùn hiện hành vẫn tiếp tục hành xử quyền Tư Pháp cho đến khi các định chế Tư Pháp qui định trong Hiến Pháp này được thành lập
ĐIỀU 113
Quốc Hội dân cử ngày mười một tháng chín năm một chín trăm sáu mươi sáu (11.09.1966) sẽ lập danh sách ứng cử viên, kiểm soát tánh cách hợp thức và tuyên bố kết quả cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống nhiệm kỳ một (1)
ĐIỀU 114
Trong nhiệm kỳ đầu tiên, Tổng Thống có thể bổ nhiệm các Tỉnh Trưởng
ĐIỀU 115
Cuộc bầu cử Tổng Thống và Phó Tổng Thống phải được tổ chức chậm nhất sáu (6) tháng kể từ ngày ban hành Hiến Pháp này
ĐIỀU 116
Cuộc bầu cử Quốc Hội Lập Pháp, việc tổ chức Tối Cao Pháp Viện và Giám Sát
Chủ Tịch Ủy Ban Thảo Hiến
ĐINH THÀNH CHÂU
Viện phải được thực hiện chậm nhất là mười hai (12) tháng kể từ ngày Tổng Thống nhiệm kỳ một (1) nhậm chức
ĐIỀU 117
Các cơ cấu khác do Hiến Pháp qui định phải được thiết lập chậm nhất là hai (2) năm kể từ ngày Quốc Hội pháp nhiệm một (1) được thành lập
Bản Văn Hiến Pháp này đã được Quốc Hội chung quyết trong phiên họp ngày 18 tháng ba năm 1967

Sài gòn, ngày 18 tháng 3 năm 1967
Chủ Tịch Quốc Hội Lập Hiến

PHAN KHẮC SỬU

Nguồn ngodinhdiem.us