Saturday, September 6, 2014

Trần Đỉnh

Đọc sách mới : ĐÈN CÙ



Một cuốn sách viết không phải vì tiền, ai có điều kiện thì nên mua ủng hộ tác giả, ai không có chỉ cần đọc là tác giả đã mãn nguyện rồi...


Link: https://docs.google.com/file/d/0B7GMKLKS_qhPa2Z0aXJpZjlZY3c/preview?pli=1



Thế là Đèn Cù đã được số hóa xong.Xin cám ơn mọi người đã cố gắng hết sức mình.
Bản Eboook sẽ ra mắt trong thời gian sớm nhất.
Công đầu thuộc về các bạn trẻ.Đúng là Sức Trẻ.
...
Ps : Chính tác giả Trần Đĩnh cũng đồng ý, với ông được nhiều người đọc là hạnh phúc lớn nhất, phải vậy không ạ chú Vu Thu Hien?
See More


Thursday, September 4, 2014

Cờ Vàng

Để Tôn Trọng Quốc Kỳ Việt Nam


Trên internet có người đưa tin là trong một buổi sinh hoạt của đồng bào tỵ nạn tại Hoa Kỳ, có kẻ đã không nghiêm chỉnh đứng dậy chào quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà khi buổi sinh hoạt khai mạc và nhân vật phụ trách điều khiển chương trình hôm đó là Nhạc sĩ Nam Lộc. Anh Nam Lộc đã cải chính với bằng chứng hết sức đáng tin cậy.
 
Tuy nhiên chuyện không ngừng ở đây, chắc chắn như thế. Thực tế chúng ta thấy rằng cộng đồng tỵ nạn Việt Nam đang phải đối phó với tình trạng các thành phần do chế độ cộng sản gửi ra ngoại quốc càng ngày càng tăng. Chúng có thể là những du sinh, những kẻ đi du lịch, những tên cán bộ cộng sản v.v.. Chúng sẽ tìm cách tham gia các sinh hoạt cộng đồng của tập thể lưu vong không phải để hỗ trợ mà để dò xét và nhất là để gây rối. Ngoài ra cũng không thể bỏ qua những kẻ vong thân mất gốc tuy xuất thân từ chế độ quốc gia Miền Nam nhưng nay thay đổi chính kiến, phản bội chính nghĩa, phủ nhận căn cước.  
 
Tổ chức là tiên liệu. Những hội đoàn hay cá nhân tổ chức những buổi gặp mặt có nghi lễ khai mạc với Quốc ca và Quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà phải chuẩn bị biện pháp để đối phó trong trường hợp có những tên vô giáo dục, bất lịch sự đến tham dự sinh hoạt của cộng đồng tỵ nạn mà từ chối không đứng nghiêm chỉnh khi cử quốc ca và khi chào quốc kỳ.  
 
Trước hết, phải bố trí một lực lượng giữ gìn trật tự bảo vệ an ninh sẵn sàng can thiệp khi hữu sự. Thành phần nòng cốt của lực lượng này là giới trẻ, nam cũng như nữ nhưng bên cạnh cũng cần một hai nhân vật đứng tuổi hay cao tuổi cùng tham gia. Những người này phải có kinh nghiệm giao tiếp hằng ngày, phải có trình độ văn hoá, biết nhu biết cương, biết ăn biết nói. Họ phải có sẵn các phương tiện liên lạc với giới chức hữu trách địa phương khi cần thiết : điện thoại cầm tay, số điện thoại cảnh sát; đương nhiên họ phải thông thạo ngoại ngữ sở tại. Nhưng tiểu ban an ninh trật tự này không những chỉ can thiệp khi có biến cố bất thường mà còn phải thường xuyên quán xuyến việc kiểm soát hội trường nhằm phát hiện mọi sự kiện bất thường để đề phòng bất trắc hữu hiệu và kịp thời ứng phó linh hoạt.  
 
Thứ nữa, người phụ trách điều khiển phần nghi thức khai mạc phải rất đề cao cảnh giác. Đương sự phải có chỗ đứng sao cho vừa có được tầm nhìn bao quát tất cả hội trường vừa có khả năng liên lạc bằng tín hiệu cùng các thành viên thuộc tiểu ban an ninh trật tự. Ngược lại, các thành viên tiểu ban này cũng phải tự đặt mình trong tư thế báo động để cấp thời hành động khi nhận được thông báo từ phía điều hợp viên.
 
Nếu thấy cần thiết – chẳng hạn nếu nhận biết sự hiện diện của một thiểu số bất hảo trong hội trường – thì ban tổ chức phải cảnh cáo trước qua thông báo rõ ràng cho tập thể cử toạ biết là sắp đến giờ khai mạc, sẽ có cử quốc ca và chào quốc kỳ, kính xin mọi người lưu ý, nếu ai không muốn tham gia thì đó là quyền cá nhân, yêu cầu rời khỏi hội trường ngay lập tức; bằng không khi chúng tôi thấy có những hành vi bất nhã và vô lễ, chúng tôi buộc lòng sẽ phải can thiệp rất cương quyết và dứt khoát. Nếu áp dụng các biện pháp phòng ngừa vừa kể mà vẫn phải đối đầu với trường hợp hữu sự – nhận thấy có kẻ ngồi yên không đứng dậy khi toàn thể hội trường được yêu cầu đứng dậy – thì điều hợp viên không được tuyên bố tiến hành nghi lễ khai mạc mà phải dõng dạc thông báo là có kẻ cố tình xúc phạm quốc ca và quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà, đề nghị tiểu ban an ninh trật tự hành động. Chỉ khi nào những thành phần đốn mạt vì bị tiểu ban an ninh trật tự áp dụng biện pháp tống xuất dưới áp lực của tập thể hiện diện rời khỏi hội trường, chỉ vào lúc đó, điều hợp viên mới tuyên bố rằng nghi thức khai mạc chính thức tiến hành.
 
Rất may mắn là ở Hoa Kỳ và qua sự điều khiển của MC Nam Lộc, tình trạng có kẻ cố tình xúc phạm quốc ca quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà đã không thể xảy ra. Nhưng rất có thể nội vụ sẽ diễn biến bất lợi tại một nơi khác, vào một dịp khác. Không bắt buộc phải là Hoa Kỳ mà có thể là Gia Nã Đại, Úc Đại Lợi, Hoà Lan, Na Uy, Pháp, Đức, Bỉ v.v.. Vì thế phải lo toan tính toán ngay tự bây giờ.


Trần Văn Tích
31.08.2014

Wednesday, September 3, 2014

tuankhanhblog



Nh và quên

IMG_1061.JPG Có một câu chuyện tôi chưa từng kể với ai. Câu chuyện vẫn thỉnh thoảng gợi nhớ về những ngày đầu tiên tôi bị lôi xềnh xệch vào một xã hội chính trị, lôi vào một thế giới mà tôi luôn loạng choạng đứng ở lằn ranh mong manh, giữa những điều vĩ đại nhất hoặc ô trọc nhất.

1997, lần đầu tiên tôi bị an ninh đưa đi làm việc vì những lá thư mà tôi chuyển giùm cho mẹ của một người bạn. Nhiều năm sau tôi mới ý thức rõ hơn tầm quan trọng của người phụ nữ ấy, bà Trần Thị Thức, phu nhân của ông Đoàn Viết Hoạt. Đó là một trong những vụ án chính trị đầu tiên của Việt Nam những ngày đầu mở cửa, có cái tên là vụ án Diễn Đàn Tự Do. So với facebook hôm nay, cái bản tin chia sẻ tin tức xã hội chính trị ấy chỉ là hạng chấm phẩy. Nhưng vào năm tháng đó, nó là một trái bom.

Tôi biết lờ mờ những cái tên Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Minh Quốc… qua những bì thư mà tôi được nhờ đi gửi minh bạch qua bưu điện thay cho cô Thức và những người bạn của cô. Có khi đó là một phần của tờ Thông Luận, hoặc một tâm thư của ai đó trong Câu Lạc Bộ Kháng Chiến cũ. Tôi coi mọi thứ đó là chuyện thư tín bình thường, cũng như cô Thức đơn giản chỉ là mẹ của người bạn cùng tên, nhỏ tuổi hơn mà chúng tôi gặp nhau trong khoa Anh ngữ, Đại học Tổng Hợp lúc đó.
Không ít lâu sau, tôi đối diện với việc một đợt điều tra của an ninh Việt Nam về những bức thư đó. Sau nhiều ngày thẩm vấn, do cuối cùng nhận ra tôi chỉ là một thằng nhóc sinh viên không đảng phái, thích làm chuyện bao đồng, phía an ninh dịu giọng và chuyển tôi vào dạng giáo dục tư tưởng. Hồ sơ tiết lộ tôi là một sinh viên khoa báo chí, nên phía an ninh quyết định để tôi nói chuyện với một người lớn tuổi hơn, cùng trong nghề báo.

Cuộc gặp gỡ diễn ra ở số 258 Trần Hưng Đạo, quận 1, Sài Gòn. Người chủ trì là anh Hải, đại uý PA25, còn người đến để giáo dục tư tưởng cho tôi là nhà báo Đoàn Thạch Hãn, lúc đó là cây viết của báo Công An TP với số ấn bản ngất trời 500.000 số/kỳ.
Hôm đó, phía công an nói rất ít, nhường lời cho anh Hãn, một người dáng thô, khoẻ, nói giọng miền Trung Việt Nam.

Anh Hãn nói với tôi rất nhiều thứ về chính trị, tư tưởng, mà thật lòng, tôi bỏ ngoài tai hầu hết. Chỉ đến khi anh hỏi rằng “Em có biết trước đây anh là gì không?”. Câu chuyện trở thành phần giới thiệu về anh Hãn, là người sống trong chế độ miền Nam Việt Nam Cộng Hoà, từng là một cây viết của báo Điện Tín. Sau này tôi còn được biết thêm anh Hãn, với ngày 30-4-75 là cột mốc tác động nhiều thứ đến đời anh, kể cả tù tội, khiến hôm nay anh như thế này.

Anh Hải, công an quê ở Củ Chi có đôi mắt đẹp và giọng nói mềm mỏng xin ngắt lời anh Hãn, và kể rằng vào giờ phút anh Hãn tuyệt vọng nhất, cán bộ cách mạng tìm thấy anh ở đường rầy xe lửa như định chọn cái chết. Cán bộ thuyết phục và khuyên giải nên anh Hãn đã hồi tâm và hôm nay trở thành một công dân tốt, phục vụ cho chế độ, đất nước. “Em nên coi chuyện anh Hãn như một tấm gương để sống và phục vụ cho tổ quốc”, anh Hải nói.

Tôi nhìn sang anh Hãn, hai ánh mắt chạm nhau im lặng, vô hồn. Anh không nói gì, tôi cũng không nói gì. Tôi không biết câu chuyện đó của anh Đoàn Thạch Hãn có thật hay không, nhưng trong suy nghĩ của tôi lúc đó chỉ là không biết buổi làm việc hôm nay có kịp cho tôi lao đến Đại học Tổng hợp sau giờ lên lớp chiều, rồi qua Nhạc Viện cho giờ học kế hay không.

Nhiều năm sau đó, tôi không gặp lại nhà báo Đoàn Thạch Hãn, mà chỉ thấy qua các bài viết của anh trên báo Công an TP. Là một người có máu văn nghệ, tôi đọc rất nhiều các bài viết của anh về Khánh Ly, về Duyên Anh… Thậm chí cả những bài viết hoàn toàn đầy chính trị về những người không chấp nhận Cộng sản mà ra đi. Trong giai đoạn chỉ có một tờ báo với một giọng điệu nói mà không có nơi phản hồi, anh là một cây viết sáng giá, lấp lánh như một bảo đao. Văn của anh lạnh và khinh miệt khi nói về những người cùng thời với mình. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều, bỏ nhiều thời gian để đi tìm hiểu về sự sắc bén của anh Hãn, để cuối cùng tâm nguyện rằng, dù phải chết, tôi cũng không chọn nghề viết, như cách của anh.

Có lẽ đã phí thời giờ của anh Hãn vào một ngày của năm 1997, năm mà rất nhiều người Hồng Kông đã không xuất ngoại vì bị thuyết phục rằng Trung Cộng sẽ đối xử với vùng đất của mình tử tế, rất tiếc, tôi muốn mình khác.
Bất ngờ tôi nghe tin nhà báo Đoàn Thạch Hãn mất vào một ngày tháng 9/2014. Đời người vinh quang hay tủi nhục có lúc rồi cũng đến điểm cuối cùng là phu du, vô nghĩa. Tất cả những kỷ niệm của tôi bật ra. Trên các trang blog hay facebook, tôi đọc nhiều điều tranh cãi về anh, có lẽ vì anh là một nhà báo lớn hoặc anh có quá nhiều bạn bè lẫn kẻ thù. Trên đất nước này, cũng có hàng triệu người như nhà báo Đoàn Thạch Hãn nằm xuống và lại gây tranh cãi – bởi đất nước của chúng ta là một phác đồ của nghịch cảnh, phác đồ của mỗi cá nhân bị buộc phải chịu trách nhiệm thay cho các nền chính trị đã điều khiến dân tộc này, chưa thấy đủ yêu thương đã ngập hận thù.

Tất cả chúng ta đã hoặc đang là nạn nhân của chính trị. Nhưng chắc chắn chúng ta cũng có một phần trách nhiệm, không thể chối cãi trong những bước đi của đời mình. Tôi cũng vậy, và anh cũng vậy.
Trên facebook của nhà báo Huỳnh ngọc Chênh, tôi thấy anh ghi lại một mẩu trò chuyện với nhà báo Đoàn Thạch Hãn rất thú vị. Trong đó, câu nói đáng nhớ của anh Hãn rằng “mình rất tiếc đã tự bôi đen đời mình quá nhiều”, khi nhắc đến những gì đã làm, đã viết. Trong ký ức cỏn con ập về, tôi nhớ lại những bài báo của anh Đoàn Thạch Hãn viết về văn nghệ sĩ đã tị nạn, về những cộng đồng Việt ngoài Việt Nam với khả năng nhuần nhuyễn của ngợi ca và phỉ báng. Tôi cũng nhớ đến đất nước này, với nhiều con người tự thú điều bí mật vào những phút cuối đời. Tôi cũng nghĩ về một ngày rất cũ, rằng không biết anh có thật sự muốn tôi học bài học ngày hôm ấy, trước mặt viên sĩ quan PA25 hay không. Nhưng mẩu đối thoại từ facebook của anh Huỳnh Ngọc Chênh, là phần kết quý báu của bài học mà tôi nhận được từ nhà báo Đoàn Thạch Hãn, cho việc chọn một lẽ sống đúng trên đất nước này.

Người Việt hay nói đến câu “nghĩa tử là nghĩa tận” để bày tỏ sự hoà ái cho một người đã ra đi. Nhưng “tận” không hoàn toàn có nghĩa là hết hẳn. Nếu chúng ta im lặng và chối bỏ những gì đã có, và chôn vào quên lãng tất cả là giả dối và khốn nạn với lịch sử con người. Đúng là có những thứ cần phải quên, nhưng có những thứ cần phải nhớ. Thậm chí chính người đã mất cũng ước muốn chúng ta phải nhớ.

Nhớ, để đó là một bài học dành cho chúng ta về kiêu hãnh hay điếm nhục trong cuộc sống, nhưng hãy quên, vì độ lượng thứ tha trong trái tim của mỗi con người, để chia sẻ về những điều cay đắng thầm kín của người dành lại, trong gia tài khốn khó của quê hương này.

Tuấn Khanh

Tuesday, September 2, 2014

Thơ Trần nam Phương

Tổ quốc trong tôi.


Tổ quốc ơi xin đặt trọn tên Người
Vào lồng ngực còn tươi màu huyết đọng
Từng mạch đập rung lên như nhấc bổng
Cuộc đời tôi trên biển sóng mênh mang
 Lặng người nhìn gẫm lại mảnh giang san
 Trang hùng sử hằn in vầng trán khổ
Hơn mười năm trước trại tù giặc đỏ
Bạn bè tôi xác bỏ giữa rừng sâu,
Hiến thân cho dân Việt bớt cơ cầu
 Cho đất Mẹ bớt hoang màu tang chế
Tổ quốc ơi ! Kìa quê hương hoang phế
Xác xơ nằm mi ướt lệ sầu vương.
Mẹ lần theo chân thế kỷ đoạn trường
 Thương con trẻ cuối đường sương thấm lạnh
 Ai đã cắt biên cương thành trăm mảnh
 Chia giống nòi Nam Bắc bửa làm đôi

Đồng bào ơi ! Tổ quốc ở trong tôi
 Bằng thực thể trên nôi giòng sử Việt
 Hồn Dân tộc bốn ngàn năm tinh khiết
 Hịch Bình Ngô - Khí tiết vẫn còn đây
Rừng Chí Linh đã mấy độ thu chày
 Núi Hồng Lĩnh, Lam sơn rừng nắng hạ
Say lý tưởng máu dồn tim rộn rã
 Sóng Bạch Đằng nghe Mẹ thét gọi con
Quá khứ hôm qua - hiện tại vẫn còn
 Trông bóng núi áo mờ vai Kháng chiến
 Chuyện muôn người - suốt cả đời tự nguyện
Đi dưới cờ Vàng thề quyết giữa quê hương
Thề đứng lên quyết quật khởi hùng cường
 Chân tiếp nối bản trường ca bất tử
Tổ quốc ơi ! Người cho tôi quá khứ
Như lời thơ rất tình tự, vĩnh hằng,
Với niềm tin không một chút băn khoăn
 Trước bạo lực điêu ngoa loài vô đạo
 Tôi muốn được làm con chim báo bão
 Bay giữa đầu quân sói đỏ sài lang
Cùng toàn quân quét sạch lũ tham tàn
 Chủ nghĩa Mác ngoại lai loài vô đạo

 Tổ quốc ơi ! Người hiên ngang ngạo nghễ
Triệu anh linh đâu tưởng dễ phai mờ.
Yêu Dân tộc, quý cả những vần thơ
Của đồng đội dựng cờ đi cứu nước
Đường Kháng Chiến dễ thường ai hiểu được
 Cuộc hành trình chân rỉ máu niềm tin.
Thời gian dầu có xa xăm
 Không gian muôn thủa vẫn nằm trong ta
 Quốc hồn - nhạc trỗi hùng ca
 Cờ Vàng phất phới khắp năm châu về.

 Trần nam Phương
1993 - A 20 
@Facebook/PT

Đèn Cù

Đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh

 Tô Hoài (trái) và Trần Đĩnh (hình trang 590, sách “Đèn Cù.”) Trần Đĩnh không phải là một tác giả quen tên đối với người đọc sách Miền Nam Việt Nam, và cũng khá lạ với độc giả hải ngoại.Nhưng ông là người đã từng cầm bút viết lên những trang sách nhiều triệu người đọc, ở Miền Bắc.

Trần Đĩnh là người chấp bút Tiểu sử chính thức đầu tiên của Hồ Chí Minh, năm 1960; và chấp bút các cuốn tự truyện, hồi ký cho Phạm Hùng, Lê Văn Lương… trong đó, nổi tiếng với dân Miền Bắc là cuốn “Bất Khuất” (hồi ký tù Côn Đảo của Nguyễn Đức Thuận, 1967). Trần Đĩnh cũng là dịch giả nhiều tác phẩm văn học…(Tô Hoài (trái) và Trần Đĩnh (hình trang 590, sách “Đèn Cù.”)

Tại sao dân Miền Nam và hải ngoại ít biết tới Trần Đĩnh? Câu trả lời đơn giản: ông bị bắt, bị cải tạo lao động (trong một xưởng in), bị quản chế nhiều năm vì liên hệ trong “vụ án xét lại” — một vụ án được nhiều người gọi đơn giản là vụ án Hoàng Minh Chính, hay vụ án “tay sai Liên Sô”.


Tại sao ông dính vào “xét lai”?
Nơi trang 561 của “Đèn Cù,” tác giả Trần Đĩnh giải thích:
“Nhiều người không biết gốc tội chúng tôi là muốn đối thoại với bà con trong Nam chứ không xin máu họ. Cộng sản tồn tại nhờ chuyên chính bạo lực nhưng chúng tôi đòi giải vũ trang đảng, đòi đảng phải chụp bạo lực đi hay từ bỏ vai trò “bà đỡ của cách mạng” hay thôi con đường “chính quyền ra từ nòng súng.” Thực chất đòi dân chủ cho muôn người… chúng tôi đã xung phong làm nghịch tử. Không thích đổ máu người nữa. Thích quyền người.”

Cuốn tự truyện của Trần Đĩnh dày 600 trang, đầy những chi tiết về bản thân ông, một chàng trai theo lý tưởng chống Pháp, tham dự tổng khởi nghĩa do Cộng sản lãnh đạo ngày 19-8-1945 khi mới 15 tuổi, và năm 19 tuổi được đưa vào An Toàn Khu để làm báo Sự Thật bên cạnh các lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Trường Chinh…

Tuy là tự truyện, nhưng trước hết đây là một lối viết rất văn học, chú ý tới nhiều chi tiết dễ dàng làm độc giả hình dung ra người và cảnh một cách sinh động.
Thí dụ, nơi trang 84, Trần Đĩnh kể rằng ông Hồ và Trường Chinh tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.”

Cũng như chi tiết áo quan rẻ tiền, không chứa nổi xác bà cụ Nguyễn Thị Năm, nên “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” (trang 86)
Bịt râu và đeo kính râm suốt… Nhảy lên xác cụ bà, vừa giẫm vừa hô…
Đó là những chi tiết văn học, làm đôc giả thấy cảnh hiện ra rõ ràng.
Trần Đĩnh vào nghề làm báo và dược Trường Chinh (Tổng Bí Thư Đảng và là Chủ nhiệm bao Sự Thật) hướng dẫn.
Trần Đĩnh cũng kể về “mối tình” của ông Hồ với cô Phương Mai… Cách kể chuyện của Trần Đĩnh rất văn học, với những chữ như: tự nhiên, mang ba lô, chăn chiếu, tớ được xua về sớm, về muộn, máy Cụ…


Trích trang 30:
“Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À, cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô, chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm. Vài tháng sau, An lại về muộn. Hỏi vì sao thì An nói không thấy P.M. (Phương Mai) đến nữa. Chắc máy cụ yếu, giải đáp thuần túy sinh học. Không tính đến sở thích, gu của cụ”. (hết trích)
Đó là văn học, kiệm lời nhưng đưa sâu vào trí nhớ độc giả.

Phương Mai là ai?
Không rõ có phải Phương Mai đươc Nguyễn Minh Cần (Cựu Phó Chủ Tịch Ủy ban Hành chính thành phố Hà Nội) kể trong bài “Vài mẩu chuyện về cuộc đời HCM”, trích:
“…Xin nói rõ chuyện như thế này: hồi đó, có ý kiến là ông Hồ cần có vợ để việc “giải quyết sinh lý” được điều hòa thì tốt cho sức khỏe. Và sau Hiệp định Genève 1954, người ta chọn một người “kháu” nhất trong số nữ cán bộ trẻ, đó là chị Nguyễn Thị Phương Mai, tỉnh ủy viên Tỉnh ủy Thanh Hóa và đưa chị từ Khu Bốn ra Hà Nội để tiến cử lên ông Hồ. Và như ta đã biết qua cuộc “loạn đàm,” chị đặt vấn đề phải có hôn nhân đàng hoàng. Thế là… việc không thành. Rồi chị được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ thương binh và ở luôn tại Hà Nội.”(hết trích)
Chị Phương Mai đặt vấn đề? Hay là ông Hồ thấy dan díu đã đủ rồi? Dĩ nhiên, không ai có câu trả lời chỗ này…

Trần Đĩnh cũng kể về cô X. người đứng bên cạnh ông Hồ và đươc ông Hồ xem là “con nuôi.” Cô X. Những cảm xúc của Trần Đĩnh với cô X. đươc kể nơi trang 97-98 và:
“Tôi quả đang vút lên chín tầng mây… Mới hôm qua ở suối lên, dốc trơn, tôi giơ tay ra đỡ X. Bàn tay con gái tôi lần đầu nắm lâu trong đời. Và cảm giác rạo rực theo tôi mãi…”
Cô X. lúng túng, rơi chiếc thìa trên cỏ… Cô X. cũng là người làm Trần Đĩnh mơ mộng, có lúc ký tên với bút hiệu Hoàng X. là vì cô.
Nơi trang 375, Trần Đĩnh kể tiếp:
“…rồi cô cho tôi cái thìa, món kỷ niệm tôi đặt lên trên bụi lạc tiên đầy bụi ở giữa Na Sầm và Đồng Đăng, chờ vượt sang Trung Quốc. Tóm lại tình trong như đã, mặt ngoài còn e…”
Nhưng rồi Trần Đĩnh tiêt lộ, cô X. chính là cô Xuân, chết ở Hà Nội vì bị ô tô đè… (trang 183) Nhiều năm sau, người ta mới biết cô Xuân cũng là một phần giường chiếu của ông Hồ.

Đọc “Đèn Cù” của Trần Đĩnh, chúng ta nhìn rõ hơn về cach công an đàn áp những người “xét lại,” và thấy một sự thật nữa: mỗi lần chuyển biến chính sách đối ngoại, sẽ có một thành phần trong Đảng bị thanh trừng.
Bản “Đèn Cù” tôi đọc tuy có vài trang in nhầm, nhưng 600 trang sách đầy những chi tiết lịch sử đã lôi tôi vào một thế giới hiếm người Miền Nam biết tới: từ nơi An Toàn Khu, Trần Đĩnh làm báo với Trường Chinh, rồi đi Bắc Kinh nhiều năm để học, những cảm xúc của anh với cô diễn viên múa Hồng Linh có cha bị giết oan vì nghi là Tàu Tưởng (phe Tưởng Giới Thạch), rồi về nước làm báo tiếp, bị thanh trừng, đẩy vào một góc xưởng in để “lao động cải tạo” nhưng tất cả các thợ in đều thương cảm…

Nhiều chi tiết lịch sử đươc ghi lại mà chính sử sẽ bỏ qua, trong đó có chuyện Lê Duẩn “trình bày về đề cương về vấn đề con người” riêng cho triết gia Trần Đức Thảo nghe (trang 435-441) và khi xin Giaó sư Thảo có ý kiến… thì:
“Ngơ ngác một lát, Thảo nói: – Tôi không hiểu gì cả.”
Thế là, Lê Duẩn vòng ra sau GS Thảo, vòng tay ôm GS Thảo nhấc lên, giộng xuống đất mấy cái cho hả giận… rồi bỏ vào trong nhà.
Sau đó, GS Trần Đức Thảo kể lại với Trần Đĩnh, Duẩn chẳng hiểu gì về chủ nghĩa Mác… Rồi Trần Đức Thảo thì thầm vào tai Trần Đĩnh: “Làm sao Duẩn lại Mác-xít được?”

Có một chi tiết cũng đã bị chính sử Hà Nội xóa đi: nhà báo Bùi Tín vào Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975. Bây giờ, Hà Nội không muốn nhắc tới tên của nhà báo Bùi Tín, người đã vào Dinh Độc Lập và đã tò mò mở cửa một tủ lạnh nơi này…
Đọc cuốn Đèn Cù, sẽ có một số người không hài lòng, vì một số nghi vấn lịch sử không đươc Trần Đĩnh chú ý nhiều.
Người đọc có cảm giác không nghi vấn gì về tập thơ trong tù ký tên ông Hô mà một số học giả nói là của một bạn tù khác, và độc giả cũng không nghi vấn gì về một ông Hồ sau này được nói là gián điệp Hoa Nam giả mạo để càì vào VN.
Ông Hồ trong “Đèn Cù” là một nhà hoạt động với những tham sân si đời thường, và cũng tội nghiệp khi bị Lê Duẩn lấn ép.

Nhưng Trần Đĩnh viết theo trí nhớ, theo những gì ông thấy, ông nghe. Và khi ông viết (thập niên 1990s) lại chưa có Internet để tra cứu tài liệu. Và cũng có thể nêu nghi vấn rằng ông nhớ không chính xác một số chi tiết.
Dù vậy, chúng ta không thể đòi như một tác phẩm nghiên cứu. Đây là một hồi ký, một tự truyện và tận cùng là một tác phẩm văn học; “Đèn Cù” đã ngay lập tức có một vị trí đôc đáo trong dòng văn học Việt Nam.
Trần Đĩnh đã cầm bút lên để viết như một chứng nhân của cách mạng, viết như một nạn nhân của vụ án xét lại, viết như một nhà văn trôi nổi với lịch sử dân tộc, và trong tận cùng là viết như một người con rất mực yêu thương đất mẹ.

Sách đề giá 25 Mỹ Kim, xuất bản bởi Người Việt Books. Có thể vào Amazon.com để mua.
Ngắn gọn, những ngươì quan tâm về lịch sử không thể không đọc sách này..

Phan Tấn Hải
@vietbao

ĐẾ QUỐC VIỆT NAM

ĐẾ QUỐC VIỆT NAM 
TUYÊN BỐ ĐỘC LẬP
do Vua Bảo Đại công bố ngày 11-3-1945
 (tức ngày ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại)





“Chiếu tình hình thế giới nói chung, và tình hình Á châu nói riêng, chính phủ Việt Nam long trọng công khai t...uyên bố, kể từ ngày hôm nay, hiệp ước bảo hộ ký với nước Pháp được bãi bỏ, và đất nước thu hồi chủ quyền độc lập quốc gia.

“Nước Việt Nam cố gắng tự lực, tự cường, để xứng đáng là một quốc gia độc lập, và sẽ theo đường hướng của bản Tuyên ngôn chung của khối Đại Đông Á, hầu giúp đỡ nhau tài nguyên cho nền thịnh vượng chung.

“Vì vậy, chính phủ Việt Nam đã đặt tin tưởng vào sự thành tín của nước Nhật, và đã có quyết định cộng tác với nước này, hầu đạt mục đích nói trên.
“Khâm thử.
“Huế, ngày 27 tháng giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại”.

Ngày 17-4-1945, ông Trần Trọng Kim trình danh sách Nội các lên vua Bảo Đại phê chuẩn vào và Nội các Trần Trọng Kim ra mắt Quốc dân 2 ngày sau đó ngày 19/4/1945. Danh sách Nội các Trần Trọng Kim:
1. Trần Trọng Kim, Giáo sư, Học giả, nhà Sử học: Thủ tướng.
2. Trần Văn Chương, Luật sư: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao.
3. Trần Đình Nam, Y sĩ: Bộ trưởng Nội vụ.
4. Trịnh Đình Thảo, Luật sư: Bộ trưởng Tư pháp.
5. Hoàng Xuân Hãn, Thạc sĩ Toán: Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ nghệ.
6. Vũ Văn Hiền, Luật sư: Bộ trưởng Tài chính.
7. Phan Anh, Luật sư: Bộ trưởng Thanh niên.
8. Lưu Văn Lang, Kỹ sư: Bộ trưởng Công chính.
9. Vũ Ngọc Anh, Bác sĩ: Bộ trưởng Y tế.
10. Hồ Tá Khanh, Bác sĩ: Bộ trưởng Kinh tế.
11. Nguyễn Hữu Thi, cựu Y sĩ: Bộ trưởng Tiếp tế.

Người Nhật đề nghị Vua Bảo Đại cho thành lập Quân Đội nhưng nhà vua xét thấy quân Nhật sẽ bại trận nên không đồng ý, vì vậy trong Nội các Trần Trọng Kim đã không có Bộ Quốc Phòng.

 Nguồn: Hồi Ký Con Rồng Việt Nam của Vua Bảo Đại