Tuesday, November 4, 2014

Tạ Duy Anh

Bước qua lời nguyền


Tôi phải nhớ rằng thành phần gia đình tôi bần nông. Dĩ nhiên bần nông là gì, nó khác địa chủ, phú nông ở chỗ nào thì tôi không biết. Đầu óc trẻ con của tôi làm sao hiểu được những quy định thiêng liêng ấy.

Khi lật tập hồ sơ mỏng teo, có lẽ cũng đơn sơ như tâm hồn tôi, cô giáo dạy vỡ lòng của tôi, xinh đẹp như tiên sa, lẩm bẩm: “thành phần cơ bản”. “Được”. Rồi cô trịnh trọng tuyên bố: “Kể từ hôm nay em có nghĩa vụ phải làm sáng danh cha anh mình”. “Làm sáng danh cha anh mình”. Nghe mù mờ và hấp dẫn quá. Bởi vì ít nhất có một đứa trong lớp “không được làm sáng danh cha anh mình”.

Con bé có cái tên rất thành thị: Quý Anh. Nó kém tôi một tuổi, là đứa duy nhất trong lớp có lý lịch phức tạp như lời người lớn vẫn nói. Ngày ngày nó đi học cùng với chúng tôi nhưng bao giờ cũng sau một đoạn:

- Mày là con địa chủ bóc lột!

Văng vẳng bên tai Quý Anh suốt thời cấp một là những lời trêu chọc như vậy. Dường như ý thức được số phận của mình, nó luôn luôn sợ hãi xung quanh. Chiếc mũ rơm bao giờ cũng che sụp gần hết mặt. Vào lớp nó ngồi khép nép ở bàn cuối.

Khi cô giáo của chúng tôi giảng bài “Đôi bạn” thì Quý Anh trở thành tên tội phạm thực sự. Đoạn con hươu được con rùa mách, đá lão địa chủ ngã nhào, một đứa ngồi giữa lớp hét toáng lên: “Bố con Quý Anh đấy! Chết cha bọn địa chủ đi”. Cả lớp cười khoái chí trong khi Quý Anh gằm mặt xuống bàn. Nó không khóc nhưng gương mặt đờ đẫn tới mức chính cô giáo phải chữa lại: “Không phải bố Quý Anh đâu. Chỉ là một thằng bạn của bố em ấy thôi”.

Tan học, đám trẻ con chúng tôi ùa nhau chạy trên đê Chùa, Quý Anh tụt lại, lủi thủi như con chó con bị đàn ruồng bỏ. Nó tưởng thế là thoát, nào ngờ hôm đó chúng tôi quyết định “đấu” con bé thay bố nó.

Mặt tái mét, Quý Anh bị xô đi đẩy lại, đứng vào giữa vòng tròn. Thoạt đầu một đứa con gái trong đám bần nông cầm roi quất vào người Quý Anh:

- Tại sao mày bóc lột nhân dân?

Quý Anh ôm chặt chiếc cặp sách, mắt trống rỗng nhìn đám đông. Một hòn đất nát bay thẳng vào mặt con bé: “Khai mau!”. Lại một hòn nữa rồi cả trận mưa đất trút lên toàn thân Quý Anh. Nó vội ngồi ngụp xuống, đưa tay gỡ đất và xoa lên vết thương. Không hé nửa lời.

- Thôi tha cho nó, hôm sau lại đấu tiếp.

Hôm sau, tháng sau và suốt một thời trẻ con, chúng tôi không ngớt hành hạ Quý Anh. Có hôm mặt nó tím bầm. Cũng có bận nó khóc, còn đa phần nó đều gắng chịu đựng, một sự chịu đựng mà ngay cả lúc lớn tôi vẫn không sao giải thích được.

Bố Quý Anh là lão địa chủ nòi. Trước kia lão gian ác có hạng. Sau cải cách ruộng đất, gia sản của lão bị xé nát và vợ chồng lão phải dựng lều ra ở rìa làng. Chẳng biết ngày xưa lão lý trưởng ấy ăn gan uống máu ra sao, nhưng khi tôi lớn lên chỉ thấy lão cặm cụi cùng vợ con cày xới mảnh vườn tí tẹo. Ra đồng, lão lý trưởng xưa kia cũng đứng riêng một chỗ. Gặp từ đứa trẻ lên sáu, nhất nhất lão đều lên tiếng chào trước.

Một hôm tôi bảo với bố tôi:

- Ông Hứa ngày xưa ác bá ra sao, mà ngày nay ông hiền thế.

Bố tôi trợn mắt:

- Mày sắp quên mối thù rồi đấy. Chẳng qua thời nay là thời của Bần-cố nông thì lão phải chịu đấy con ạ. Mẹ tiên sư, giá lúc nó xua tuần đến đốt nhà ông nội mà mày được chứng kiến nhỉ!

- Lão Hứa xua hả bố?

- Chứ còn ai vào đấy. Thằng Tư Vê đeo kiếm dài chấm đất lúc nào chẳng cặp kè với lão Hứa, ai dám ho he. Gớm, nó chả hiền sớm cho đấy.

Và để tôi ghi mối thù vào xương tuỷ, mỗi ngày bố tôi lại kể cho tôi nghe một chuyện thời xưa, về sự tàn ác của lão Hứa. Mỗi ngày một chuyện, lời kể của ông tuyệt vời như kể chuyện cổ tích, khiến tâm hồn tôi thấy đẫm những hồi ức kinh hoàng không bao giờ còn hong khô được nữa.

* * *

Sau trọn mười năm, kể từ ngày tôi khóc thầm ra đi, tôi lại trở về cái nơi còn ghi dấu mãi tuổi thơ cay đắng của tôi. Bố tôi già đi ghê gớm. Tóc ông bạc như cước, xơ xác trên vầng trán bị thời gian đào rãnh lô xô. Em út tôi lớn phổng lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Mười năm trước, chính nó từng họa theo lời bố tôi để thét lên: “Anh hèn hạ lắm! Anh cút đi cho bớt tai tiếng”. Lúc đó nó mới 12 tuổi, nổi tiếng là đứa bé có bản lĩnh. Nó giống bố tôi như đúc cả về hình thức lẫn tính cách. Giờ đây em tôi, con bé chỉ thích đeo kiếm đóng vai nữ tướng hồi bé, vồ lấy tôi khóc nức nở. Nó khóc thổn thức, ai oán đến nỗi tôi phải ngồi thụp xuống gạt nước mắt. Đến lượt mẹ tôi, bà chỉ dám khóc thầm sau tấm màn che gió. Lâu lâu bà mới cất tiếng:

- Đưa anh đi rửa ráy, con!

Đấy là bà bảo em tôi. Ôi trái tim người mẹ, bao giờ cũng có chỗ cho ta, sau khi mệt mỏi về trú ngụ. Bố tôi thì khác, ông xúc động theo kiểu của người cha. Ông ngồi ở bàn, vầng trán vằng vặc như chính người đang toan tính tiếp con đường công nghiệp mà người mơ cho tôi, bị đứt đoạn mười năm. Cặp mắt người vốn nổi tiếng một vùng vì độ thấu xa, không mảy may biểu lộ người mừng hay coi đó chỉ là chuyện trẻ con.

Tôi đến ngồi ghé trên chiếc tràng kỷ nhẵn bóng, đối diện với bố tôi:

- Mười năm anh đi những đâu?

- Thưa thầy con đi gần hết cái đất nước này.

- Anh thấy nó rộng hay hẹp?

- …

- Chưa vượt biên chứ?

Tôi vẫn im lặng, bắt gặp cái nhìn chia sẻ từ sau cánh cửa của em tôi. Tiếng bố tôi vẫn đều đều:

- Mười năm anh học được cái gì mang về?

- Con học được nhiều thứ. Nhưng cái quí nhất là cuộc đời con phải biết tự định đoạt lấy mình.

- Nghe nam nhi đấy! Giỏi!

Tiếng “giỏi” mà bố tôi buông ra cũng giống như dấu chấm hết một đoạn văn hay nhưng với ông không lọt được lỗ tai.

Tiếng “giỏi” ấy còn có nghĩa: “Được, để xem”. Hết chuyện. Tôi uể oải đứng dậy theo em gái tôi ra phía bể nước. Nó cầm chiếc khăn mặt chờ sẵn ở cửa, cầm tay tôi kéo như chạy.

- Anh chấp bố làm gì! Càng lớn em càng thương bố. Cuộc đời cũ vầy vật bố đến mức bố không thể quên được nó.

Đứng xem tôi hành hạ chiếc khăn mặt, nó tỉ tê:

- Anh về mà xem làng xóm, thay đổi khủng khiếp. Lớp người tuổi bố chết gần hết rồi. Vẫn hẹn nhau xuống mồ nữa cơ.

- Những ai mà chết gần hết?

- Ngoài bố ra còn ba vị nữa đang thập thò miệng lỗ. Cho các vị đi hết đi để đến lượt anh em mình làm chủ thế giới. Đến khổ với các vị.

- Vẫn thù nhau à?

- Thù càng ác liệt. Ngày mai anh sang chơi ông Mịch mà xem. Tuy tím tái hết chân tay đấy nhưng vẫn hỏi luôn mồm thằng ấy, thẳng nọ có vác mặt đến không thì lót lá dắt ra ngõ hộ.

Nước mát làm đầu óc tôi bớt nặng nề. Nhưng càng tỉnh táo tôi càng như bị ném vào tình thế phải che chắn tứ bề. Sẽ ứng xử ra sao cho ba vuông bảy tròn giữa những con người cứng đờ vì thiên kiến. Cuộc đời chiến sĩ chỉ dạy tôi điều đơn giản, nếu kẻ thù ở hướng nào thì phải quay súng về hướng ấy. Còn nếu nó ở bốn phía thì chính mình phải nổ tung! Trong trường hợp này, quá lắm tôi cũng chỉ đến mức – như mười năm trước – gào to lên lời nguyền rủa độc địa cho cái mảnh đất đầy thù hận này chìm lãng đi.

Tôi theo em gái ra thăm khu nghĩa địa. Quê tôi vẫn có thói quen chỉ tin vào người chết! Khu nghĩa địa của làng tôi lúc đầu chỉ có độc chiếc mả ngựa. Một vị tướng, không rõ từ thời nào, đã an táng con chiến mã của mình khi con ngựa đầy chiến tích ấy đến làng tôi thì gục xuống chết. Khi tôi lớn lên người ta vẫn gọi khu đất hoang ấy là “gò con ngựa”, mặc dù chính thức là nơi yên nghỉ của những người đã hưởng tuổi Trời. Giờ đây bãi nghĩa địa bị chia cắt làm ngôi mộ của họ xem ra cũng hiền lành. Nhấp nhô hàng trăm lô đất sàn sàn như nhau, cỏ mọc xanh rì. Làng tôi gọi đấy là khu bình dân. Sau hàng rào quét sơn trắng nổi lên đám mộ được xây cất công phu thò ra thụt vào, chạy song song nhau. Rồi lại một đám khác, lù lù mấy nấm đất cao ngang đầu, trên nóc đều có cây thiên tuế uốn éo một cách dị dạng. Tách biệt với khu bình dân và khu phú quí lại có một khu khác thập thò vài chục mô đất sè sè, nom hiu quạnh như lũ mộ vô chủ, cả năm may lắm được một lần hương khói vào dịp Thanh Minh.

Em gái tôi trở thành người hướng dẫn đắc lực:

- Đám trắng toát kia là của mấy ông phó Cả, phó Hai, phó Ba. Lần này thì chắc không bị đào nữa.

- Sao? Ai đào?

- Người ta đồn các ông phó mang theo vàng xuống âm phủ nên dân đào vàng bán xới họ đào.

- Còn đám kia?

- Đám ấy của cha ông phó Hộ. Thật là lúc chết vẫn muốn lù lù trước thiên hạ.

- Cuối cùng cũng chỉ là nấm đất với một dúm xương tàn. – Tôi nói bâng quơ như một ý tưởng đến bất chợt.

- Đúng! – Em tôi đồng tính – Giá lúc sống các vị biết cho điều ấy nhỉ.

Ngừng một lát, em tôi tiếp:

- Trông thì gia phong thế thôi – là em bảo cái đám mộ kia kìa. Chứ lúc hấp hối các vị mới lộ chân tướng thật, nghĩ mà rùng mình.

- Có chuyện gì thế?

- Khi cụ Hộ – bố của các ông phó – hấp hối, cụ mới đưa ra bảng phân vai. Đứa trước đây là cháu bây giờ thành con. Đứa trước đây là em thì bây giờ lên chú… đến nỗi đám con cháu thảm hại ấy như lạc vào mê cung ngôi bậc. Hoá ra thời mấy chục năm trước, khi các ông Phó đi lính đồn trú cho Pháp thì cụ Hộ ngủ cả với mấy cô con dâu. Bà nào có mang liền lên bốt ở với chồng vài tháng…

- Chết tiệt!!! – Tôi muốn gào thật to vào bầu trời thẳm sâu, tôi muốn gào xuống tận âm ty địa ngục cho quỷ thần nghe thấy, biết rằng chẳng để làm gì.

- Thôi anh ạ! Cuối cùng họ chỉ còn lại trước cuộc đời bằng độc một mô đất. Cứ chia đều cho mỗi vị một nén.

Tôi làm theo lời em gái tôi, lòng không chút cảm xúc. Những nấm đất! Những nấm đất vô tri, lạnh lẽo. Các vị sống thế nào thì chết cũng thế ấy! – Tôi nguyền thầm.

Chợt tôi phát hiện có một mô đất bẹp dí ở rìa khu bình dân, sát mép nước. Tuồng như nó cố tình lút xuống để người sống khỏi ngứa mắt. Thấy tôi ngẩn ngơ nghi hoặc, em gái tôi vội nói:

- Lão Hứa đấy. Lão chết hồi năm kia sau 7-8 năm ỉa đái ra quần. Làng không cho lão vào nghĩa địa nên lão đành tạm ở đấy. Hồi đưa tang lão, thối khắp làng đến nỗi ruồi xanh đuổi theo quan tài đông hơn ong vỡ tổ. Mấy ngày sau tháng khí còn chưa hết khiến mấy chục con chó hoá dại một lúc rồi theo lão cả. Chỉ tội cho chị Qu…u.. ý Anh và cái Quý Hương…

“Quý Anh!” – Ký ức tôi bật chồm dậy như con ngựa chứng chưa thuần. Phút chốc những kỷ niệm mặn chát một thời của tôi vụt hiện lên, tươi rói như vết thương đang ứa máu.

- Cô ta bây giờ thế nào? – Giọng tôi như vọng về từ một thế giới khác.

- Chị ấy vẫn chờ anh. Cả làng bảo chị ấy mắc nghiệp chướng do lão Hứa gây ra. Nhưng chỉ mình em biết chị ấy chờ anh.

*


Trong những câu chuyện bố tôi kể thì ông và cuộc đời xưa kia là hai nhân vật chính, đối nghịch nhau suốt cuốn tiểu thuyết đầy máu và nước mắt. Ông tổ bốn đời của tôi vốn nghèo rớt mồng tơi. Chẳng biết sao cụ rất giỏi chữ Nho. Chính nhờ cái vốn chữ thánh hiền ấy mà cụ tôi, dù suốt đời cùng đinh vẫn được đám hào lý gờm nhất. Sau vụ cha con lão Lý Bá khuynh gia bại sản chỉ vì một bài thơ của cụ, thì cụ bốn đời của tôi bị liệt vào hạng nguy hiểm cho đám chức sắc từ Chánh tổng trở xuống. Vậy mà cụ tôi vẫn sống ngoài tám chục tuổi ung dung thoát tục như một ông tiên.

Ông nội tôi không thừa hưởng được số chữ của cụ tôi nên đám hào lý coi nhờn. Sẵn mối thù “bố nợ con trả” ông tôi bị chèn ép suốt một đời. Tuy thế ông nội cũng nuôi chí lớn lắm. Ông tôi vờ cúi rạp dưới chân đám quan lại, xin được một chân Trương tuần. Kỳ thực ông tôi thầm thu nạp khoảng hai chục thanh niên trai tráng, định đánh úp nhà Chánh tổng. Việc bại lộ, ông tôi bị trói nghẽn giữa đình suốt hàng tháng trời, kỳ đến tróc hết da vì đòn mới thôi. Bị bãi chức, ông tôi quay về cày chia cấy rẽ, lòng vẫn ôm ấp một mưu đồ lớn.

Chuyện ông tôi bị lão Hứa đánh giập phổi là chuyện sau này. Chỉ biết rằng lúc hấp hối, ông tôi dặn lại truyền cho con cháu: “Còn làng Đồng thì còn mối thù với thằng Hứa và con cháu hắn”.

Bố tôi kể: Chú Hai tôi chết vì thiếu đúng một bát cơm nguội. Sau này cứ vào ngày mồng 5 tháng ba âm lịch, bố tôi lại dậy từ nửa đêm, xúc một bát cơm nguội để trước mặt. Ông ngồi lặng hàng giờ, mặt đanh lại như sắt thép. Chú Hai tôi chết quá tang thương. Chuyện đó tôi thuộc lầu từ bé. Mãi khi đã lớn thỉnh thoảng tôi vẫn nằm mơ gặp chú, hoàn toàn do tôi tưởng lại từ lời bố tôi mô tả: “Đầu to, cao long khòng, toàn thân là một cái khung bằng xương”. Nhưng thôi, để yên cho bố tôi kể.

Dạo ấy bố tôi 16 tuổi, làm thằng ở chăn trâu cho Chánh tổng. Hàng ngày bố tôi sống chết cũng phải ăn cắp được một giỏ cơm nguội cho bà nội và hai chú tôi. Hôm ấy không hiểu sao bố tôi không về. Bà tôi và hai chú chờ mãi cho đến khi chú Ba tôi chết lả trong giấc ngủ. Chú Hai tôi đói quá tính đường đi ăn cướp. Chú đi dật dờ ở chợ, mắt vờ không thấy gì. Kỳ thực chú đã liếc thấy ở dãy hàng quán có người đang đưa lá bánh vừa bóc lên miệng liếm. Chú tôi dật dờ đến gần. Vụt! Chú tôi chao mất miếng bánh của người đàn bà nọ trong nháy mắt. Thế là loạn chợ, tiếng kêu cướp, tiếng đuổi nhau, tiếng đòn gánh nện chát chúa… Chú Hai tôi phóng vù xuống mép sông, phồng mồm nhai miếng bánh, lưng ròng máu vì mấu đòn gánh bổ dọc.

Bố tôi lại ăn cắp được cơm. Bố tôi đi tìm chú Hai tôi. Anh em gặp nhau, chú tôi sợ ăn đòn bỏ chạy. Bố tôi cầm bọc cơm gào đứt hơi suốt mấy làng ven sông Đáy. Hôm sau bố tôi tìm đuợc chú Hai tôi ở Tràng Cát, một làng nổi tiếng nhiều cướp. Chú tôi ăn cắp ngô non bị đám Trương tuần chôn sống. Rồi chính họ lại bới chú tôi lên – cho khỏi thối làng – bó chiếu giúp bố tôi. Bố tôi kể đêm ấy mưa bão, bố tôi vác chú Hai về đến nhà cũng vừa sáng. Sẵn có cái hố ngập nước, bố tôi thả tõm chú Hai xuống đó, mắt chú tôi vẫn mở trừng trừng.

Lần nào nghe bố tôi kể, tôi và em út đều chứa chan nước mắt. Bố tôi bảo: “Chỉ vì một bát cơm nguội mà chú mày chết. Mà bát cơm nguội ấy thằng Hứa giật đoạn trên tay tao đổ cho chó”.

Sau đận ấy bố tôi hận đời quyết chí bỏ lên rừng cũng đúng vào dịp lão Hứa được bổ lý trưởng. Lão biết bố tôi đi đâu nên thi thoảng lại đến hạch sách ông nội và mẹ tôi. Sau đêm chánh tổng chết hụt vì lựu đạn du kích, lão Hứa lấy cớ điệu ông tôi ra đình, bắt xin lỗi chính quyền vì chót đẻ ra bố tôi. Ông tôi không nghe. Lão Hứa sai tuần đem diêm đến đốt nhà ông tôi. Đến đêm, lão Hứa xua lệ ập đến, trói nghiến ông tôi kéo ra đình. Sáng hôm sau ông tôi chỉ còn như miếng giẻ đẫm máu. Mẹ tôi đem ông về. Mỗi ngày ông thổ ra một ít huyết tươi. Biết sắp chết, ông bắt mẹ tôi phải ghi lại lời nguyền. Mẹ tôi kể, sát ngày ông tôi về trời, ông dặn mẹ tôi sau này phải đẻ ít nhất 3 thằng con trai.

* * *

Năm tôi lên 10 gia đình tôi đang ở thời kỳ đại thịnh. Khỏi phải nói khi có quyền trong tay bố tôi đã đè bẹp, nghiền nát đám quan lại cũ ra sao. Lão Hứa tất nhiên thuộc đối tượng đầu tiên ông nghĩ đến. Lão bị tịch thu đến cả chiếc lư hương, khu trại cũ bị san phẳng thành ruộng. Lão sống lủi thủi như con chó lạc loài. Thằng cháu họ một thời cặp kè bên lão cũng quay lưng lại với lão. Để nịnh bố tôi, ông Tư Vê đã ỉa vào cửa nhà lão cả đống tướng.

Một hồi, dạo đó tôi 12 tuổi, tôi bắt gặp lão Hứa bới trộm khoai lang. Lão địa chủ cũ nhìn trước nhìn sau rồi chùi củ khoai lang vào vạt áo, đưa lên miệng nhai ngấu nghiến. Lão đói. Con cái lão cùng bị bỏ đói. Sau Quý Anh, lão còn bắt vợ rặn cho lão thêm một đứa nữa đặt tên là Quý Hương. Quý Hương giống chị như hai giọt nước, đẻ cùng tháng với em tôi. Thấy bảo hôm đón con bé, lão Hứa định ngầm bóp chết. Lão cần có đứa con trai để hy vọng đến ngày nào đó gia thế nhà lão lại phất lên. Chờ đúng lúc lão Hứa đang phồng má trợn mắt, tôi hét lên:

- Có thằng ăn trộm!

Lão Hứa suýt ngã vì sợ và xấu hổ. Lão nhè vội miếng khoai, xoa tay vào áo, dùng chân lấp lại chỗ đất lão vừa bới rồi quay lưng định lủi mất. Hình ảnh chú tôi chết đói, hình ảnh ông tôi chết vì đòn như kêu gào tôi trả thù. Tôi muốn nhân cơ hội này đâm cho lão Hứa một nhát. Có lẽ bộ mặt tôi lúc ấy gớm ghiếc lắm nên lão Hứa co rúm lại.

- Lão Hứa!

Lão địa chủ xưa kia đổ khuỵu xuống.

- Lão có biết lão mắc tội gì không?

- Cậu Tư ơi, tôi đói quá!

- Lão đói nhưng lão chưa chết. Còn chú ta, ông ta đều chết về tay lão thì lão tính sao?

Lão Hứa mếu xệch miệng. Tôi tiếp:

- Chỉ vì một bát cơm nguội mà chú ta thành ma đói. Lão có nhớ không?

- Tôi nhớ.

- Tại sao lão ác thế?

- Tôi van cậu Tư. Thì ông nhà đã đòi đủ ở tôi rồi mà!

- Chưa được bao nhiêu. Hôm nay lão phải trả nốt.

Tôi tiến lên, gí thanh nứa vạt đầu vào cổ lão Hứa. Lão địa chủ xưa kia vội đưa tay túm ngay chiếc que.

- Kìa cậu Tư, tôi cắn cỏ lạy cậu. Cậu thử hỏi ông nhà xem, có phải có lúc tôi đã tử tế với ông nhà không?

- Còn ông ta và chú ta, lão tử thế đấy à?

- Cậu Tư ơi! – Lão Hứa cuống quít đẩy thanh nứa đang bị tôi ấn mạnh thêm.

- Cậu cứ lớn lên đi cậu sẽ hiểu tôi chả là cái gì trước số phận, trước thời thế. Tôi có trực tiếp đánh ông cậu đâu. Tôi có trực tiếp chôn sống chú cậu đâu. Cuộc đời cũ nó ắt phải như thế.

Tôi không đủ sức để hiểu những lời lão Hứa nói. Đại loại lão muốn bảo tôi rằng việc làm của lão xưa với việc bố tôi tịch thu tài sản của lão, cả hai việc ấy đều do cuộc đời muốn thế. Tôi còn đang do dự không biết có nên lấy của lão một tí máu cho mát lòng ông và chú tôi, thì từ đâu Quý Anh hớt hải chạy ra. Thấy cảnh đó mặt nó cắt không còn giọt máu. Trông thấy con, lão Hứa vội kêu lên:

- Quỳ xuống đi con. Quỳ xuống xin cậu Tư và ông bên nhà đi con.

Quý Anh từ từ quỳ xuống, hai tay chắp trước ngực. Trông nó đối nghịch gay gắt với lão bố phàm tục của nó.

Sau này mỗi lần bắt gặp một tiên đồng trong các cuốn tiểu thuyết, tôi thường nhớ đến Quý Anh ở giây phút ấy. Khuôn mặt nó trong veo, cặp mắt trong veo với hai lọn tóc lắc lư bên má. Xin đừng nghĩ đơn giản về trái tim cậu bé tuổi 12 như tôi. Lòng tôi sóng sánh như bát nước đầy… Tôi để tuột thanh kiếm tráng sĩ vì một lời khẩn nguyện dâng lên từ đất: “Cậu và tôi… và những mùa vàng rực nắng, chúng ta cùng là con đẻ của một cuộc đời không thù hận.”

Hẳn lúc ấy tôi chỉ cảm thấy có gì đó khác thường đã xảy ra trong trái tim bé con của tôi. Nhưng khi tôi bắt đầu hiểu cuộc đời, tôi cứ nhớ có một lời khấn thầm như thế ngấm vào tôi. Có thể nó đến bằng một giấc mơ thanh sạch ở tuổi chớm lớn. Nhưng bao giờ lời khấn thầm ấy cũng đi cùng hình ảnh Quý Anh quỳ trước tôi từ buổi ấy. “Cậu và tôi…” lẽ nào điều ấy đã xảy ra khi vào một đêm nào đó tôi úp mặt lên gối khóc nức nở, quằn quại trong nỗi ân hận đành chịu mang tội với ông và chú Hai tôi.

Tuổi thơ của tôi được nâng lên từ những cánh diều. Chiều chiều trên bãi thả, không cứ gì chúng tôi, người lớn cũng hò hét nhau thả diều thi. Diều của người lớn làm bằng cả cây tre to mấy người khiêng. Lúc thả lên trời, cánh diều khổng lồ ấy chao lắc như đảo đồng. Ở dưới dất, đám người lớn có vẻ bị lùn đi một chút, đang ăn thua nhau từng tấc một. Họ mượn cánh diều để ám chỉ sự phát lộc của từng gia đình nhau. Tôi còn nhớ đã từng xảy ra ẩu đả đẫm máu vì những cuộc thi diều. Con lợn năm chục cân làm giải thi, cứ từ chuồng nhà này sang chuồng nhà kia sau những thông báo sốt dẻo từ bãi thả.

Cánh diều của trẻ con chúng tôi mềm mại như cánh bướm. Thanh sạch vì không hề vụ lợi. Trong khi người lớn chạy bật móng chân để rong diều thì đám mục đồng chúng tôi sướng đến phát dại nhìn lên trời. Sáo lông ngỗng vi vu trầm bổng. Sáo đơn rồi sáo kép, sáo bè… như gọi thấp xuống những vì sao sớm. Ban đêm trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn. Có cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà! Người lớn sợ bóng đêm như sợ mất con lợn cứ thu diều về dần, bỏ mặc chúng tôi với bầu trời tự do, đẹp như một thảm nhung khổng lồ. Có cái gì cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi. Sau này tôi hiểu đấy là khát vọng. Tựa như khi tôi đọc truyện cổ tích và ước thành chàng hoàng tử lao vào chém mãng xà bảy đầu cứu công chúa. Chỉ có trăng, sao và những cánh diều hộ mệnh. Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời. Bởi vì bao giờ tôi cũng hy vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi diều ơi! Bay đi!…” Cánh diều tuổi ngọc ngà đứt dây bay đi, mang theo nỗi khát khao héo mòn của tôi.

Cho đến một hôm cánh diều trở lại thật. Nó xác xơ, ủ rũ và bị xách ngược lên, tàn nhẫn như người ta xách con cá.

- Cháu nhặt được ở Đồng Cát.

- …

- Cháu biết ngay là diều của cậu đứt dây. Cậu xé vở dán diều à?

- …

- Bố cháu bảo mang trả lại cậu. Cậu đã ôn bài cô giáo cho chưa?

Con em út tôi nghe thấy giọng nói ngập ngừng của Quý Anh, lao vụt ra như con chèo bẻo:

- Ai cho mày đến nhà tao. Cút ngay đồ bóc lột.

Quý Anh co người lại, câm lặng trở lui. Vốn sống bằng mặc cảm bị khinh ghét từ bé, nó và những đứa con lão Hứa đều xưng cháu với bất cứ ai trong làng. Nó sẵn sàng im lặng để một đứa lên ba cào vào mặt.

Dạo ấy chân ruộng gieo mạ chưa bị tận dụng tăng vụ như bây giờ. Sau khi đưa hết mạ xuống đồng cấy, chân ruộng ấy bị bỏ rờm cho đến lứa mạ sau. Thật là một thời kỳ hiếm có mà trời ban cho bọn trẻ chúng tôi. Không bị ngăn cản, đám cây cút kít, cỏ dày, cỏ mật… mọc nhanh như có phép, tạo một cái thảm cỏ xanh tuyệt đẹp chạy hút đến tận bờ đê là nơi mặt trời thường nhô lên mỗi sáng. Chúng tôi bỏ mặc lũ trâu chạy ăn tự do trên cánh đồng. Từng đàn chèo bẻo sà xuống bắt ruồi, thỉnh thoảng lại xoẹt cánh ngang mặt chúng tôi. Có hôm bọn tôi chạy toé kèn vì một đôi vợ chồng chèo bẻo mất con. Giống chim này say đòn, sẵn sàng bổ toác đầu đối phương, bất kể đó là người.

Quý Anh cũng có mặt trong đám trẻ chăn trâu. Lẽo đẽo theo nó là con Quý Hương. Hai chị em Quý Anh cùng với chiếc rổ sề, bao giờ cũng cặm cụi một chỗ kiếm rau lợn.

Con trâu nhà Quý Anh vốn nổi tiếng hung dữ. Ngoài hai chị em Quý Anh, bất kể ai có ý định đến gần nó, đều rất có thể bị húc lòi ruột. Ấy vậy mà trước hai cô chủ, nó hiền lành đến đáng ngờ.

Dạo ấy “Cu Nhỡ” mới lớn, là con trâu giống duy nhất trong làng. Nó cậy uy thế có bộ cà, độc chiếm đàn trâu cái vừa béo mượt trở lại sau vụ cày. Nó luôn canh cánh cảnh giác con Sừng Măng nhà Quý Anh là đối thủ cuối cùng khiến nó còn kiềng mặt. Sở dĩ gọi là con Sừng Măng vì cặp sừng của nó ngắn củn, to và nhọn như hai cái măng. Khi lao vào đối thủ, đôi sừng ấy lợi hại vô cùng. Nó có thể móc mắt, đâm thủng hầu đối phương mà không bị đánh trả.

Hôm ấy đám trẻ trâu chúng tôi đang mải quần nhau với đôi vợ chồng chèo bẻo mất con. Từ trên ngọn cây gạo, vợ chồng chèo bẻo thi nhau chửi chúng tôi. Ý chừng nó bảo: “Lũ sát nhân kia! Chúng mày giấu con bà ở đâu. Chẹp chẹp chẹp… bà thì móc mắt chúng mày ra”. Khi con chèo bẻo vợ chõ mỏ chửi một cách chua ngoa thì bất thần thằng chồng cục súc thu người lại, lao như tên bắn vào đám trẻ chúng tôi. Lúc đến gần, mắt nó loé lên như hai cục than, bộ móng chụm lại, chỉ nhãng ý tí là thủng đầu với nó. Tuy đã chuẩn bị trước nhưng bao giờ chúng tôi cũng bất ngờ, đành vụt vu vơ vào chỏm đuôi con chèo bẻo rồi lăn ra cười như nắc nẻ.

- “Chẹp chẹp… chồng bà thương lũ chúng bay đầu xanh tuổi dại đấy”.

- “Lần này thì mày chết. Chỉ một nhà là tụi ông nướng chả.”

- “Choẹt!”

- “Ai chà!”

Cứ thế chúng tôi quên bẵng mất đàn trâu và không hề biết Cu Nhỡ và Sừng Măng đang hẹn nhau đấu phân vai. Anh hùng vô song! Phải có một con đàn em kia. Như một cuộc đấu danh dự, hai con vật đều cố tỏ ra đàng hoàng. Nhận được lời thách, Cu Nhỡ tách đám trâu cái luôn sán đến bên nó, tiến dần về điểm hẹn. Con Sừng Măng gật đầu đáp lễ. Cu Nhỡ hỏi: “Ông nghĩ kỹ chưa?” Sừng Măng đáp: “Thằng oắt con lêu lổng, để xem mày được mấy hơi”.

Hai con vật phóng vào nhau bằng tất cả niềm căm thù bấy lâu bị dồn ép. Con Sừng Măng không vội đánh. Nó chỉ né mình tránh những nhát đòn trời giáng của Cu Nhỡ. Hăng máu vì liên tiếp trượt đòn, Cu Nhỡ càng lồng lên, mắt đỏ ối như lửa. Mặt đất ầm ầm rung động đến mức vợ chồng chèo bẻo quên cả đánh chúng tôi, dỏng tai nghe ngóng.

Cu Nhỡ vẫn lao vào như hoá dại nhưng không sao dứt điểm được với lão Sừng Măng. Con Sừng Măng vốn lõi đời trong nghề giang hồ, vẫn trơ ra như đá. “Thằng tráng niên ngu ngốc, liệu mà ông cho mày hết thói huênh hoang. Phầm! “Lão già quỷ quyệt, thời của lão còn đâu nữa”. Phầm! “Đánh với chác! Mày chỉ được cái tài lựa bọn đàn bà con gái”. Phầm! Phầm! Phầm… Đám đất dưới chân Cu Nhỡ tung lên. Một mũi sừng của nó đã gại được vào yết hầu con Sừng Măng, đủ làm đỏ một đám ruộng.

- Chết cha con Sừng Măng đi! Chết cha quân bóc lột đi!

- Gọi chị em con Quý Anh ra đây mà xem Cu Nhỡ lột da con Sừng Măng.

Nhận được lời cổ vũ. Cu Nhỡ càng lao vào như điên. Tuy trúng đòn, con Sừng Măng vẫn không hề nao núng. Nó xoay người một cách mau lẹ, lừa đối thủ vào miếng. Cu Nhỡ hở đòn do một giây chủ quan khiến mảng yết hầu phơi ra trước cặp mắt lão Sừng Măng cáo già. Phụp! Chiếc sừng sắc như dao cắm quá nửa vào cổ Cu Nhỡ. Nhưng giết Cu Nhỡ có lẽ không phải mục đích trận đấu của Sừng Măng. Nó sẽ buồn chán khi không còn kẻ nào đáng mặt thán phục nó. Nhưng nó phải dạy cho gã tráng niên ngu ngốc kia hết thói hợm đời. Rút khỏi cổ Cu Nhỡ, Sừng Măng luồn ngay chiếc sừng đỏ máu ấy vào giữa đoạn sừng đối thủ rồi khẽ lắc nhẹ một cái. Khi Cu Nhỡ thoát ra được, trông nó thật thảm hại. Một bên sừng bị gãy, lủng lẳng rủ xuống khiến đến lúc già nó còn khổ sở vì bị đám trâu cái coi thường. Con Sừng Măng phóng theo một đoạn, cốt cho đúng luật rồi tế một mạch đến cúi đầu chịu tội trước hai cô chủ.

Bọn trẻ chúng tôi sững sờ một lúc rồi ùa xuống cầm đất ném chí tử vào con Sừng Măng. Lúc đầu con vật gườm gườm nhìn lại. Nhưng bọn trẻ chúng tôi dùng cả lửa quăng lên lưng con vật khiến nó tung vó chạy thục mạng. Bọn trẻ đang cơn khát trả thù bèn quay ra túm lấy chị em Quý Anh. Con Quý Hương so vai rụt cổ, mặt cắt không ra máu. Nó được ưu tiên còn bé, tha cho về trước nhưng cấm không được hé với người lớn nửa lời.

Quý Anh bị túm tóc lôi ra trước bãi đấu. Nó ngầm đưa mắt cho tôi, đầy lên lời van xin được cứu mạng. Tôi muốn gàn đám bọn chăn trâu nhưng sợ bị chúng gán cho tôi có tình ý với con địa chủ. Trời sập tối rất nhanh. Bình thường như mọi khi, chờ trăng lên là chúng tôi dong trâu về. Nhưng mải “tra tấn” Quý Anh, chúng tôi bỏ mặc vầng trăng bơ vơ một mình.

Quý Anh bị trói vào cây phi lao cụt ngọn, miệng mím chặt nhìn vào cánh đồng mênh mông. Đám trẻ ồn ào phân công nhau kiếm phương tiện tra tấn. Một đứa thò ngay chân xuống nước để nhử lũ đỉa bám vào rồi bắt lấy. Cái giống thân mềm này chỉ cần nom thấy đã ghê tởm. Vậy mà lát nữa nó sẽ bò loe ngoe trong ngực Quý Anh. Một tụi khác chạy tản đi rình túm những con lăng quăng lúc nào cũng nhan nhản trên đường. Những con lăng quăng không làm chết được ai, nhưng chỉ cần chạm vào nó đã đủ chết khiếp. Chúng tôi thấy trước tiếng rú thảm thiết của con bé bị trói kia. Với riêng tôi, có lẽ do trái tim mách bảo, tôi còn nghe thấy cả tiếng thì thầm: “Lên trời tôi sẽ bóp cổ cậu”.

Tôi chùng chình nán lại trước khi đám trẻ trâu chạy tản đi thực hiện nhiệm vụ từng đứa. Khi tôi quay nhìn Quý Anh, tôi thấy mắt nó sáng như hai viên bi thuỷ tinh. Tôi chạy vụt đến bên cây phi lao cụt, quỳ hẳn xuống dùng cả răng lẫn tay dứt tung lớp dây quấn từ ngực đến chân Quý Anh.

- Chạy đi!

- Cậu Tư chạy với cháu.

Chúng tôi nhằm bờ đê, chạy lọp bọp qua ruộng nước. Giả sử lũ bạn tôi có nhìn thấy, chúng cũng tưởng đồng bọn đang đuổi con rắn nước nào đó. Và lát nữa trở lại không thấy Quý Anh đâu, thì chính chúng lại đem lũ con vật bắt được ra tra tấn. Những con đỉa sẽ bị kẹp vào giữa ống cỏ, suốt cho đứt đuôi. Kỳ đến chán trò, đứa nào đứa ấy mới lo cuống lên tìm trâu của mình.

Chúng tôi chui vào một chiếc hầm tránh bom nổi trên bờ đê. Quý Anh chưa hết run ngồi ép vào tôi.

- Cậu Tư bao nhiêu tuổi?

- Mười lăm… còn mày?

- Cháu mười bốn.

- Sao mày nhớn thế?

- Cháu là con gái mà. Cậu Tư xem này.

Quý Anh cầm tay tôi thản nhiên đặt vào ngực nó. Xin thề là bàn tay tôi lúc ấy trong trắng như thiên thần nên tôi rất thích chí trước một bí mật. Tôi lật úp lật ngửa bàn tay, cốt để xoa lên hai trái vú mềm như nhung, hơi răn rắn ở đầu, không bợn lên một vụ lợi nào; tựa như tôi vẫn xoa đầu con mèo, hay vạch quần tóm chim một thằng bé nào đó.

- Cháu mặc quần “con” rồi đấy.

- Để làm gì?

- Cậu chả biết được. Mới lại phải tội chết… Sau này lớn nhất định cháu với cậu đẻ chung một đứa con. Chỉ cần cậu sờ vào ngực cháu như lúc nãy là cháu đẻ.

Đêm hôm ấy, sau một hồi hút chết vì mất trâu, tôi nằm mơ được ngủ với một cô tiên. Chợt khi cô kéo đầu tôi vào ngực cô, có cái gì rút dọc sống lưng tôi. Cô tiên cười đưa cho tôi bông hoa thần lấy từ ngực cô. Tôi lên cơn sốt mê man, mặt mày xây xẩm như bị ai bắt vía. Sáng ngày ra tôi thấy mẹ tôi lo lắng nhìn tôi.

- Có làm sao không hở mẹ?

- Chuyện bình thường, con trai mẹ ạ. Từ giờ con là một chàng trai và phải có trách nhiệm với việc làm của mình.

Tôi đã giã từ tuổi thơ bằng một giấc mơ.

*


Bố tôi kể: Làng Đồng xưa kia vốn chỉ là một bãi đất bằng dùng làm nơi để cày bừa nhà Chánh tổng. Trong năm gia đình đầu tiên đặt tên “Đồng” cho làng tôi, có ông tổ bốn đời của tôi. “Đồng” có nghĩa là cùng một lòng, cùng một chí hướng và cùng lấy một họ. Về sau dân tứ chiếng kéo đến. Đôi vợ chồng phu phen phiêu bạt trên đường kiếm ăn; một ông cướp chán nghề, quàng vào một ả nào đó tự dưng thích sống yên ổn. Rồi có khi là ông mõ làng khác bị đuổi, đến xin giữ nguyên nghề… Làng rộng dần ra cho đến bây giờ.

Thấy cái miếng đất “gan chó” trở nên màu mỡ riêu cua, chánh tổng xin quan huyện cho đặt lý trưởng. Lão Hứa nhảy tót lên ngồi mâm nhất. Cũng bắt đầu từ đó chữ “Đồng” mất hẳn ý nghĩa bởi làng bị cắt thành năm bảy miếng, do năm bảy ông anh bà chị “hùng cứ một phương”. Tuy nhiên tất cả đều bị đặt dưới sự kiềm toả của lão Hứa.

Không biết từ bao giờ có lời nguyền: con trai con gái trong làng không được lấy nhau? Sau khi lão Hứa bị tước triện bạ và chính quyền của lão sụp đổ, lời nguyền kia không những không mất đi mà còn có thêm những lý do bổ sung để tồn tại một cách tai quái. Chính quyền của lão Hứa đã rất thành công khi tạo ra những mối hằn thù sâu sắc giữa những cuộc đời đều phải đánh vật để sống. Người ta bắt đầu lục lại gia phả để định giá trị từng nhóm họ. Bố tôi là chủ tịch xã nên nhóm họ của ông thuộc loại danh giá nhất. Theo đó đến cánh nhà ông phó Hộ, rồi đến cánh các ông phó Nhất, Nhị, Tam… Bất cứ mối quan hệ nào cũng bị đem ra xét xử thật sự. Đã từng xảy ra một thảm kịch yêu đương ở làng Đồng. Một cô gái thuộc nhóm họ có ông tổ làm nghề cướp, đem lòng yêu chàng trai bạ cư ở đầu làng. Họ đã cố hết mức để chỉ hai người biết với nhau. Nhưng làm sao mà giữ kín được bất cứ một chuyện gì ở làng tôi? Bên nhà gái như động mả, họp nhau vật ngửa cô gái ra, cạo trọc đầu bôi vôi, doạ sẽ trầm hà nếu không đích thân tố cáo anh chàng kia can tội rủ rê. Chàng trai bị điệu ra trước hội nghị nhân dân (Hội nghị nhân dân hẳn hoi) để lĩnh hàng trăm lời nguyền rủa. Anh bị đặt trước hai điều kiện: hoặc phải quỳ xuống xin lỗi cả làng, hoặc cút về cái nơi ông bố bà mẹ tội lỗi của anh đã sinh ra anh. Tuy bố tôi lúc ấy đang nổi tiếng vì có tầm nhìn xa, khi được hỏi ý kiến cũng tặc lưỡi: “Lệ làng thế nào cứ vậy mà làm”. Trong thâm tâm ông biết điều đó là sai. Nhưng sự nghiệt ngã trước cái nghĩa vụ phải bảo vệ danh giá của nhóm họ mình, đã đẩy ông đến chỗ hành động theo cảm tính. Có lẽ mọi chuyện sẽ qua đi nếu hàng tháng sau tình yêu của đôi trai gái nọ không cứ bị đem ra phỉ bang như một tội lỗi. Một đêm đôi trai gái ấy hẹn nhau ở ngôi nhà thờ Tổ của làng. Sau khi nguyền rủa cả trái đất, họ đã hiến thân cho nhau và chết trần truồng bên bệ thánh.

Sự kiện đó tác động trước hết đến các bà mẹ. Bắt đầu từ tuổi đi học, mỗi chúng tôi đều được kể cho nghe rành rẽ về từng nhà một trong làng. Tựa như đứa nào dại dột quan hệ với con nhà này nhà nọ sẽ bị tuyệt nòi tuyệt giống vì phải trả nợ thay “ông tổ 5 đời đức mỏng như bàn tay”. “Thằng bố nó ngày xưa chuyên đi lừa lọc”. “Cái năm cải cách, con mẹ nó chả vơ từ sanh thủng…”

Với riêng tôi và anh chị em tôi, đứa nào cũng thấm đẫm vào trí nhớ một câu bất hủ: “Lão Hứa và con cháu lão là kẻ thù truyền kiếp”.

Ai ngờ tôi là đứa phản bội bố tôi trước tiên, mặc dù tôi được dạy dỗ khá cẩn thận về địa vị gia đình mình, nhưng hễ gặp Quý Anh là tôi quên mất. Quý Anh vào tuổi 17, đẹp như tiên sa. Tôi sẵn sàng cãi nhau với bố tôi để bênh vực Quý Anh.

Một hôm bố tôi đi họp về, quăng chiếc cặp lên bàn là quát gọi mẹ tôi:

- Bà có biết chuyện gì đã xảy ra trong nhà này không?

Mẹ tôi lo lắng nhìn tôi.

- Tư! – Bố tôi quay sang tôi – Mày quan hệ với con Quý Anh từ bao giờ?

- Từ ngày chúng con còn để chỏm.

Bố tôi ngã ụych xuống ghế thở dốc. Ông căm ghét nhìn về phía tôi nhưng không ngớt lời nguyền rủa mẹ tôi. Chờ còn hai mẹ con, mẹ tôi mếu máo hỏi tôi:

- Con nói thật đi, có đúng con giăng dện với con Quý Anh không?

- Con yêu cô ấy.

- Trời đất ơi! – Bà chu chéo – Mày có biết nó mang dòng máu của ai trong người không? Của kẻ đã giết ông và chú mày.

Thấy tôi im lặng, mẹ tôi dịu giọng:

- Có đời thủa nhà ai lại như thế bao giờ. Rồi người ta ỉa vào cửa nhà mày. Con không thấy anh em phó Hộ nó đặt vè đấy à?

- Mẹ chấp làm gì bọn loạn luân ấy…

- Mày phải thôi ngay hoặc tao thắt cổ tao chết.

- Thì thôi! – Tôi gắt lên – Con trai mẹ chả cao giá lắm đâu.

- Dù sao con cũng phải nghĩ đến bố con. Khối kẻ chỉ chờ nhà ta hở ra là chọc vào, con có lớn mà không có khôn.

Chưa bao giờ tôi căm ghét đồng loại đến thế. Nửa đêm tôi lẻn dậy trốn khỏi nhà cùng với cây vồ sàn bằng gỗ lim. Đây rồi, sự ngu ngốc, thói dởm đời, long thù hận, đều vì những cây nấm độc này. Tôi đập nát tất cả bảy chiếc miếu thờ để suốt đêm ấy tôi ngồi khóc âm thầm như kẻ bị ruồng bỏ.

* * *

Bây giờ các vị đã nằm cả ở đây, nơi trước kia chỉ là cái gò con ngựa. Bỗng dưng tôi cảm thấy cô đơn. Đôi khi có cảm giác người ta chưa kịp để lại gì cho trần thế đã mất hút trong sự lãng quên khắc nghiệt. Không biết ở dưới mồ còn vị nào chưa yên giấc? Tôi tha thứ cho các người. Bởi vì ngày ấy cũng đã mười năm. Mười năm đủ cho tôi thấm nỗi đau của cả mấy thế hệ mà số phận bị nhào nặn bằng một bàn tay phàm tục.

Giờ đây ở giữa sự hoang lạnh của khu nghĩa địa, tôi lại nhớ đến cái đêm khủng khiếp ấy. Tất cả các vị đang nằm đây đều có mặt để xét xử chúng tôi. Đêm ấy không có trăng nhưng đầy sao và hương thơm mùa màng toả ra từ đất. Lần đầu tiên trong đời, trái tim nóng như hòn than cháy ngút trong ngực, khi tôi biết cảm nhận sự kỳ diệu của da thịt… Tôi và Quý Anh, hai kẻ trong trắng như nhau đã bước qua lời nguyền, đã ân xá cho nhau trong sự chứng kiến của các thiên thần. Và đêm ấy các vị đã bọc chặt chúng tôi bằng giáo mác, bằng nỗi căm ghét phi lý. Dưới ánh đuốc, các vị có thể thấy rõ dù chết chúng tôi cũng không rời nhau. Vậy mà các vị cứ quấn chặt chúng tôi bằng vòng lửa của địa ngục khiến tôi hét lên:

- Đâm đi! Các người cứ lấy máu chúng tôi sẽ thấy nó mặn như nhau đỏ như nhau… vì chúng tôi được hoài thai từ một bà mẹ nhân hậu hơn bà mẹ đã sinh ra các người. Cả làng – hẳn các vị còn nhớ – đã không ai dám tiến thêm nửa bước.

Tôi gào tiếp:

- Các người chỉ quen để ý nhau từng lời, từng chữ, rình xem mâm cơm nhà khác có thịt cá không để quy kết, bôi nhọ. Nhưng làng xóm tiêu điều thì các người bỏ vắng. Các người thành kính dựng người chết dậy để thờ trong khi đó nhẫn tâm để kẻ đang sống, đang yêu xuống mổ. Chúng tôi căm ghét và thương hại các người.

Tôi biết tóc bố tôi bạc đi một cách khủng khiếp một phần vì những đau khổ tôi trút lên cuộc đời Người.

* * *

Mọi việc tôi làm trong kỳ nghỉ phép đều không lọt mắt bố tôi. Ông đáp trả bằng sự im lặng. Đợi đến khi tôi xếp đồ vào ba lô, ông mới bất ngờ hỏi tôi:

- Tại sao con Quý Anh nó không đến?

- Cô ấy sợ.

Bố tôi gục xuống và khi ông ngẩng lên, tôi tưởng như không tin ở mắt mình. Mặt ông bị vò nát bởi hàng trăm nếp gấp khắc nghiệt. Trên khuôn mặt ấy tôi lại thấy cái quá khứ vật vã đẫm máu và nước mắt mà bố tôi vừa căm ghét vừa hãnh diện. Trên khuôn mặt ấy như vừa thoáng hiện hình ảnh ông tôi, chú tôi, bị xé nát trong tiếng kêu cứu tuyệt vọng. Giá còn nước mắt thì hẳn ông đã khóc. Tiếng ông khô khốc:

- Chờ nhau ngần ấy năm… thời buổi này không dễ có mấy người. Anh chị đã quyết, tôi cũng không dám cản. Nhưng tôi chỉ xin ở anh một yêu cầu.

- Vâng, bố cứ nói.

- Anh cứ đợi khi nào tôi chết hẵng đưa nó về ở nhà này. Tôi biết nói ra điều này không xứng đáng với một ông bố. Nhưng tôi không thể… anh hiểu ý nguyện của tôi chứ?

Bố tôi lại gục xuống như vừa bị cả khối nặng khủng khiếp đè lên vai. Hình như ông đã khóc được.



Tạ Duy Anh

Monday, November 3, 2014

Trần Trung Đạo

Cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc?

 Macy’s là một trong 20 công ty buôn bán sản phẩm tiêu dùng lớn nhất nước Mỹ. Đứng đầu danh sách là Walmart. Cách đây vài năm, trên diễn đàn Internet, một người hay một nhóm người Việt nào đó tố cáo công ty Macy’s “treo cờ Cộng Sản”, tức cờ nền đỏ sao vàng. Thế là hàng trăm người lên tiếng phản đối theo. Thậm chí có người viết thư gởi thẳng cho ban giám đốc Macy’s yêu cầu công ty này phải hạ ngay “lá cờ máu” đó xuống.Thật ra, thương hiệu của Macy’s là nền trắng sao đỏ dù có lúc đổi ngược bằng nền đỏ sao trắng giống như các đội thể thao chuyên nghiệp thường đổi ngược màu áo tùy thuộc khi chơi ở sân nhà hay sân khách. Mà cho dù, công ty Macy’s có dùng nền đỏ sao vàng đi nữa cũng chỉ là thương hiệu của một công ty, giống như công ty buôn bán đồ cũ được thành lập vào sáng 2-9-1945 tại Việt Nam mà thôi. 
 
Nguồn gốc cờ đỏ sao vàng theo tài liệu đảng
 
Tạm gác qua những tài liệu còn có thể tranh luận được, theo tài liệu chính thức của đảng CSVN, tác giả lá cờ nền đỏ sao vàng là ông Nguyễn Hữu Tiến làm nghề thầy giáo, tham gia đảng Cộng Sản, bị tù và vượt ngục. Năm 1935, ông được Xứ Ủy Nam Kỳ giao trách nhiệm vẽ lá cờ để sử dụng trong các cuộc đấu tranh. Ông đã vẽ lá cờ nền đỏ sao vàng. Lá cờ này được Xứ Ủy Nam Kỳ chấp thuận và xuất hiện trong các cuộc đấu tranh do đảng Cộng Sản tổ chức và lãnh đạo, trong đó có cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 23-11-1940.
 
Ngày 28-8-1941 ông Nguyễn Hữu Tiến bị xử bắn cùng các lãnh đạo trung ương khác của đảng Cộng Sản như Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Vǎn Tần, Hà Huy Tập. Ông Hồ Chí Minh rất thích lá cờ này và thường dùng trong các hoạt động của phong trào Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản. Cờ nền đỏ sao vàng xuất hiện không chính thức trong ngày 2-9-1945 vì đến ngày 5-9-1945, ông Hồ mới ký sắc lịnh dùng cờ của Xứ Ủy Cộng Sản Nam Kỳ làm cờ chính thức cho nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Sau đó lá cờ nền đỏ sao vàng được đưa sang quốc hội gồm khoảng 300 đại biểu bù nhìn của đảng Cộng Sản, không tính 70 đại biểu từ các đảng không Cộng Sản thêm vào sau không bầu, thông qua. Sau giai đoạn khó khăn từ 1945 đến 1950, đảng Cộng Sản với sự yểm trợ bằng máu xương và súng đạn từ hai đàn anh Cộng Sản quốc tế, đã chiếm được một nửa nước Việt Nam. Nhưng mục tiêu của đảng không dừng lại ở miền Bắc đất hẹp người thưa nhưng nhắm vào khu vực đông dân trù phú ở miền Nam.
 
Ngày 20-12-1960, trung ương đảng CSVN lập thêm chi nhánh miền Nam và để che giấu dư luận quốc tế, đảng dùng cờ nửa xanh nửa đỏ làm thương hiệu cho cơ sở miền Nam. Nhưng sau khi chiếm trọn miền Nam vào 30-4-1975, việc che đậy không còn cần thiết, đảng dùng cờ nền đỏ sao vàng cho cả nước từ đó đến nay. 
 
Dù có vài tình tiết trùng hợp lý thú, công ty Macy’s và đảng CSVN chẳng liên hệ gì nhau. Sự so sánh chỉ nhằm chứng minh rằng cờ nền đỏ sao vàng của đảng CSVN và cờ nền trắng sao đỏ của công ty Macy’s đều chỉ là thương hiệu của một hai tổ chức kinh doanh. Một công ty quốc tế ở Mỹ hay một tiệm bán đồ cũ ở Việt Nam cũng đều có thương hiệu và sự tồn tại của thương hiệu gắn liền với thời gian hoạt động của công ty. Giả thiết, một ngày nào đó công ty Macy’s bị công ty Target mua, ngôi sao đỏ sẽ bị thay bằng hai vòng tròn trắng đỏ, thương hiệu của công ty Target. Tương tự, một ngày, chắc chắn sẽ có ngày đó, chế độ CSVN sụp đổ, lá cờ nền đỏ sao vàng cũng sẽ tiêu tùng theo chế độ. 
 
Trong quan điểm đó, tôi chia sẻ ý kiến của nhà báo Lê Diễn Đức viết trong Facebook góp ý bài báo “Những lá cờ” của tác giả Bá Tân đăng trên Blog Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập: “Theo tôi, cờ đỏ sao vàng không phải là cờ của Tổ quốc VN, của dân tộc VN, mặc dù tôi đã từng học tập, lớn lên dưới lá cờ này và nhiều lúc đã tự hào vì cha ông tôi đã chiến đấu dưới lá cờ này. Nhưng chính xác mà nói thì đó là cờ hiệu của nhà nước CHXHCN VN do Đảng CSVN cầm quyền. Nước VN có mấy ngàn năm lịch sử, trải qua bao nhiêu triều đại và chế độ với những là cờ khác nhau. Cờ đỏ sao vàng có chính thức từ ngày 2/9/1945, chỉ là biểu tượng của một nhà nước với ý thức hệ cộng sản, không đại diện cho cả chiều dài lịch sử của dân tộc.” 
 
Vài bằng chứng cụ thể về số phận những “cờ tổ quốc” sau khi phong trào CS thế giới sụp đổ 
 
Châu Âu
 
Trước 1989, “cờ tổ quốc” của Hungary gồm ba màu đỏ, trắng, xanh lá cây, ở giữa là huy hiệu sao đỏ và búa liềm của đảng Cộng Sản. Quốc kỳ của Hungary hiện nay, trong lúc vẫn duy trì ba màu truyền thống của dân tộc Hung, ở giữa là hai đường cung trống rỗng, đánh dấu sự cắt bỏ chủ nghĩa Cộng Sản khỏi đất nước Hungary. Khoảng trống được giữ lại giữa lá cờ còn để nhắc nhở sự hy sinh của các thế hệ Hungary trong cuộc nổi dậy vào tháng Mười 1956. Ngày đó, đường phố Budapest ngập đầy những lá “cờ tổ quốc” bị xé nát như những xác lá cuối mùa thu. Tiến sĩ Nicholas Martin, giáo sư ngôn ngữ học tại Pasadena City College, vào thời điểm đó là một cầu thủ Water Polo và đang đại diện cho Hungary trong Thế Vận Hội 1956 tại Melbourne, nhắc lại kỷ niệm không thể nào quên trong đời ông: “Việc đầu tiên tôi làm là xé ngay lá cờ Cộng Sản Hungary trong làng Thế Vận và chúng tôi tuyên bố đại diện cho một quốc gia Hungary tự do”. Nhưng vào những ngày cuối của Thế Vận 1956 cũng là lúc đoàn xe tăng của Hồng Quân Liên Xô đang càn lên xác những người dân Hung yêu chuộng tự do được trang bị bằng gậy gộc, đội tuyển Hung gặp đội tuyển Liên Xô trong giải chung kết Water Polo. Trận đấu được báo chí tường thuật là trận đấu “máu hòa trong nước”. Kết quả đội tuyển Hungary đã thắng đội tuyển Liên Xô tỉ số 4-0. Thật ra, các cầu thủ Liên Xô cũng chỉ là những cầu thủ vô tội, chẳng may phải gánh chịu các trận tấn công liên tục của các tuyển thủ Hungary đang sôi máu căm thù. 
 
Châu Á
 
Mông Cổ, sau thời đại huy hoàng của Thành Cát Tư Hãn và các con ông, vào thế kỷ 14, quê hương của đại đế bị chia cắt thành hai mảnh và phân hóa trầm trọng. Vào thế kỷ 17, Mông Cổ bị đặt trong vòng cai trị của nhà Thanh và phần lớn khu Nội Mông đã trở thành đất của nhà Thanh, hiện nay là Khu tự trị Nội Mông thuộc Trung Cộng. Lợi dụng cách mạng Tân Hợi Trung Hoa 1911, các phong trào yêu nước Mông Cổ tuyên bố độc lập nhưng chưa kịp làm gì đã bị quân Trung Hoa đánh bại và chiếm đóng. Trong lúc số phận Mông Cổ, một trong những đế quốc lừng danh trong lịch sử nhân loại sắp bị xóa tên khỏi bản đồ thế giới, quân đội Bạch Nga dưới quyền Bá Tước Ungern, bị Cộng Sản Nga đánh đuổi, tràn sang biên giới và đánh bại quân Trung Hoa. Trong cái rủi có cái may, sự xâm lược của quân Nga vô tình cứu Mông Cổ thoát khỏi nạn đồng hóa. Khi Liên Xô thắng, nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ, trong vùng Ngoại Mông, được thành lập. Tuy bị đặt trong vòng kiểm soát của Liên Xô, về đối ngoại Mông Cổ là một quốc gia độc lập, thành viên của Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế. Khi Liên Xô sụp đổ, giống như các nước trong vòng ảnh hưởng của Liên Xô, Mông Cổ trở thành nước Cộng Hòa Mông Cổ. Hai chữ “nhân dân” trong tên nước bị xóa bỏ. Trong thời Cộng Sản, “cờ tổ quốc” của Mông Cổ gồm ba phần, hai bên màu đỏ, phần giữa mà xanh với dấu hiệu sao vàng của đảng Cộng Sản bên trái. Ngày 15 tháng Giêng 1992, quốc hội Cộng Hòa Mông Cổ biểu quyết xóa bỏ ngôi sao vàng Cộng Sản khỏi lá cờ và thay vào đó bằng ngọn lửa biểu tượng cho tinh thần Soyombo phát triển, thịnh vượng và thành công của dân tộc Mông Cổ. 
 
Châu Phi
 
Ethiopia là một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại nhưng trong thập niên 1980 của thế kỷ 20 quốc gia 82 triệu người này đã chịu đựng nạn nghèo đói tận cùng và ách Cộng Sản dã man. Chỉ trong vòng 5 năm, khoảng 10 phần trăm dân số bị chết trong đói khát hay chết dưới bàn tay của bạo chúa Mengistu. Kỷ nguyên Mengistu được báo chí gọi là “khủng bố đỏ” để so sánh với “khủng bố trắng” do thực dân Âu châu gây ra cho các nước Phi châu trước đây. Sau khi thiết lập chế độ độc đảng vào năm 1987, Mengistu Haile Mariam và đảng Lao Động Ethiopia do y thành lập tuy vẫn giữ ba màu đỏ, vàng và xanh lá cây truyền thống đoàn kết châu Phi nhưng ngay giữa lá cờ, Mengistu đã thêm huy hiệu nền đỏ sao vàng biểu tượng cho quyền lãnh đạo trung ương của đảng Cộng Sản. Nhiều đảng phái chống Mengistu ra đời và phối hợp hoạt động dưới danh nghĩa của Mặt Trận Dân Chủ Cách Mạng Ethiopia. Cuối cùng chế độ khát máu Mengistu bị lật đổ vào tháng 5 năm 1991. Ngày nay, Ethiopia vẫn còn là một nước nghèo với 40 phần trăm dân số sống bằng nông nghiệp và không có nguồn tài nguyên thiên nhiên nào lớn nhưng là một trong những quốc gia Phi châu có mức phát triển nhanh. Con đường dân chủ hóa của Ethiopia bắt đầu từ 1994, là con đường đầy gai góc nhưng đã tiến xa so với thời bạo chúa Cộng Sản Mengistu. Sau khi được tự do khỏi xích xiềng Cộng Sản và có hiến pháp dân chủ, quốc kỳ đại diện cho quốc gia Ethiopia gồm ba màu truyền thống đỏ, vàng, xanh lá cây và tia sáng có chiều dài bằng nhau kết thành hình ngôi sao trên vòng tròn màu xanh nước biển biểu tượng cho tinh thần bình đẳng, chính thức được phê chuẩn ngày 6-2-1996. 
 
 
Đông Nam Á
 
Tại Campuchia láng giềng. Trước ngày 17-4-1975, lá cờ Cộng Hòa Khemer gồm hai màu xanh đỏ với hình Angkor Wat bên góc trái và ba ngôi sao trắng bên góc phải. Ngày 22-5-1975, lá cờ này bị thay đổi bằng cờ nền đỏ với Angkor Wat vàng của chế độ diệt chủng Pol Pot. Điều 16 trong hiến pháp “Dân chủ Campuchia” công bố ngày 5 tháng Giêng 1976, giải thích “màu đỏ là màu cách mạng, biểu tượng cho quyết tâm của nhân dân Campuchia để giải phóng, bảo vệ và xây dựng đất nước”. Cờ của chế độ Pol Pot không phải là cờ mới được vẽ nhưng có lịch sử gắn liền với sự ra đời của đảng Cộng Sản Campuchia được thành lập vào 1951 sau khi đảng Cộng Sản Đông Dương “tự động giải tán” ngày 11-11-1945. “Cờ tổ quốc” của chế độ diệt chủng Pol Pot được phác họa khá giống với “cờ tổ quốc” của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ khác vị trí của sao vàng được thay bằng Angkor Wat vàng. Sử gia David P. Chandler trong bài phân tích về hiến pháp Cộng Sản Campuchia (The Constitution of Democratic Kampuchea: The Semantics of Revolutionary Change) do ký giả Đức Siegfried Ehrmann trích lại trong bài báo Lá cờ với một quá khứ đầy cực hình (A flag with a tortured past), cũng thừa nhận cờ của chế độ Pol Pot “giống như cờ của phong trào được gọi là Việt Minh trong đầu thập niên 1950”. Sau một thời gian dài đầy biến cố, quốc kỳ của Campuchia Quân Chủ Lập Hiến hiện nay gồm hai màu xanh đỏ truyền thống như đã được dùng trong thời Cộng Hòa Khemer với biểu tượng Angkor Wat trắng được đặt ở trung tâm. 
 
Tóm lại, từ 15 nước thuộc Liên Bang Xô Viết cho đến 8 nước Cộng Sản Đông Âu, 3 nước Cộng Sản vùng Baltics (Latvia, Lithuania, Estonia), Cộng Sản Phi châu (Ethiopia), Cộng Sản Á Châu (Kampuchea), không có một nước nào tiếp tục sử dụng lá cờ của chế độ Cộng Sản làm cờ đại diện cho quốc gia thời sau Cộng Sản. 
 
Lịch sử diễn ra trước mắt như thế, rõ ràng và dễ hiểu.Tuy nhiên, từ hai phần ba thế kỷ từ 1945 đến nay, ban tư tưởng trung ương đảng CSVN đã nhồi sọ, tẩy não các thế hệ Việt Nam để họ tin một cách tự nhiên, tin một cách chân thành rằng lá cờ nền đỏ sao vàng của Xứ Ủy Cộng Sản Nam Kỳ, thương hiệu đối ngoại của đảng CSVN là "cờ tổ quốc". 
 
Thế nào là tổ quốc? 
 
Hiểu một cách đơn giản và gần gũi, tổ quốc là đất nước, là cội nguồn và là căn nhà chung của một giống dân có cùng một lịch sử, văn hóa, truyền thống, lãnh thổ, vùng trời, vùng biển. Ngay trong Đại Tự Điển do Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo và nhà Xuất bản Văn hóa Thông Tin ấn hành năm 1998 cũng định nghĩa tổ quốc là “Đất nước, gắn liền với bao thế hệ ông cha, tổ tiên của mình: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.” 
 
Với định nghĩa đó, thương hiệu của đảng CSVN không thể gọi là cờ tổ quốc và càng không nên dùng, dù là dùng như một lá chắn, để biểu dương lòng yêu nước của mình. Biểu tượng của tự do dân chủ không nhất thiết phải là một lá cờ mà có thể là một hình chữ V như Boris Yeltsin ra dấu khi đứng trên chiếc xe tăng, một ngón tay còn dính mực xanh chứng tỏ vừa làm xong nghĩa vụ công dân của người phụ nữ Iraq, một giọt nước mắt vui mừng của người mẹ Ai Cập hay trong nhiều năm tại Miến Điện là bức ảnh của bà Aung San Suu Kyi. 
 
Mặc dù chỉ là biểu tượng nhưng cách dùng biểu tượng cũng thể hiện ý thức chính trị của người dân tại quốc gia đó. Nếu ai để ý sẽ thấy, trong số hàng triệu sinh viên Trung Quốc tham dự cuộc biểu tình suốt bảy tuần lễ tại Thiên An Môn tháng Tư 1989, rất ít người mang theo cờ đỏ năm sao vàng của đảng CS Trung Quốc. Lá cờ của phong trào dân chủ là cờ trắng với hàng chữ đòi hỏi “Tranh luận dân chủ”. Họ đi tìm một biểu tượng. Những ngày cuối của cuộc biểu tình tuổi trẻ Trung Quốc đã can đảm chọn tượng Nữ Thần Tự Do làm biểu tượng chính thức cho cuộc đấu tranh vì về mặt tinh thần, nữ thần tự do không có quốc tịch và không đứng trên biên giới của một nước nào. 
 
Bảy tháng sau biến cố Thiên An Môn, cuộc biểu tình chống chế độ Nicolae Ceausescu tại Timosoara, Rumani cũng diễn ra tương tự. Hơn 100 ngàn dân, đa số là thanh niên sinh viên, xuống đường chống chế độ độc tài CS không mang theo “cờ tổ quốc” như họ vừa được dạy ngày hôm trước mặc dù lúc đó chế độ Ceausescu vẫn còn rất mạnh và các cuộc đàn áp đẫm máu sắp sửa diễn ra tại thành phố này. 
 
Hầu hết tuổi trẻ Việt Nam sinh ra và lớn lên sau 1975. Tâm hồn của các em là những tờ giấy trắng, xã hội vẽ lên đó những con đường, những tín hiệu và các em đi trên con đường đó, nhận diện cuộc đời qua các tín hiệu đó. Xã hội trong trường hợp Việt Nam là bộ máy tuyên truyền của đảng Cộng Sản, một tổ chức chuyên nghiệp với trách nhiệm khống chế mọi lãnh vực, suy nghĩ và nhận thức của con người. 
 
Dù sao, tuổi trẻ sinh ra và lớn lên khi lá cờ đỏ sao vàng đã có rồi, bị đầu độc để hiểu sai lịch sử, còn có thể thông cảm, những giáo sư, trí thức, nhà văn, nhà thơ học nhiều hiểu rộng, có dịp ra nước ngoài học tham khảo thêm nhiều tài liệu khách quan mà vẫn tin lá cờ nền đỏ sao vàng của đảng Cộng Sản là cờ tổ quốc mới là đáng trách. Họ thích khoe khoang bằng cấp, trình độ học vấn và luôn nhấn mạnh đến tinh thần khách quan khoa học nhưng lại sống và hành động như một thói quen, cảm tính, một phản xạ sinh tồn tự nhiên, chấp nhận những hiện tượng nghịch lý, phi lý một cách dễ dàng. Điều đó cho thấy không gian giữa kiến thức và nhận thức vẫn còn là một khoảng cách khá dài. 
 
Lý luận biện minh cờ đỏ sao vàng là cờ tổ quốc
 
-  Cho đến nay, lý do được viện dẫn nhiều nhất để biện minh cho tính chính thống của cờ đỏ sao vàng là căn cứ vào quốc hội khóa 1 và hiến pháp 1946. 
 
Cả thế giới đều biết trong chế độ Cộng Sản quốc hội chỉ là tấm bình phong dân chủ để che mắt dư luận. Đảng mới là trung tâm quyền lực tuyết đối điều khiển mọi hoạt động của đất nước. Ngày 6-1-1946, ngoại trừ 70 đại biểu không bầu gọi là “đại biểu truy nhận” từ các đảng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội và Việt Nam Quốc Dân Đảng được thêm vào sau đó, hầu hết trong số 333 đại biểu là đảng viên đảng Cộng Sản hay các tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản và phải qua sự giới thiệu của Việt Minh, một tổ chức tương tự như Mặt Trận Tổ Quốc ngày nay. 
 
Một vài quan điểm biện minh cho hiến pháp 1946 xem đó như là hiến pháp dân chủ, giá trị, thế nhưng giá trị của một hiến pháp không phải vì đó là một văn bản có nội dung súc tích, chứa đựng tầm nhìn xa nhưng ở chỗ thực hiện và áp dụng hiến pháp trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Hiến pháp 1946 mặc dù trên danh nghĩa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 nhưng chưa từng được chính thức công bố cho đến khi được thay bằng hiến pháp 1959. Sau lần “bầu cử” 1946, đảng CSVN không thấy cần có quốc hội nên suốt 14 năm sau đó, đảng chẳng màng nghĩ đến chuyện bầu bán “cơ quan quyền lực cao nhất” này làm gì cho tốn công tốn của. 
 
-   Lá cờ nền đỏ sao vàng là cờ tổ quốc vì đã thắm máu của nhiều người Việt Nam yêu nước trong cuộc “chiến tranh chống thực dân Pháp đầy chính nghĩa. Từ những ngày gian truân trên núi rừng Việt Bắc cho đến khi lá cờ này được cắm trên nóc hầm chỉ huy của tướng De Castries, và đó là một chiến thắng không thể phủ nhận.”
 
Tạm gác qua bên vai trò then chốt của các tướng lãnh Trung Cộng trong trận Điện Biên Phủ và mục đích cuối cùng của đảng Cộng Sản, máu xương của hàng triệu người Việt Nam đổ xuống không chỉ ở lòng chảo Điện Biên Phủ mà trong suốt gần một thế kỷ Pháp thuộc, phát xuất từ lòng yêu nước. Không ai chối cãi hay phủ nhận điều này. Như tôi đã viết nhiều lần trước đây, tình yêu dành cho quê hương của họ là một tình yêu thuần khiết và trong sáng. Họ ngã xuống cho thanh bình sớm được vãn hồi trên quê hương khổ đau và bất hạnh Việt Nam. Họ là những công nhân đôi tay còn dính dầu máy, là những nông dân từ bỏ ruộng vườn, ra đi theo tiếng gọi của núi sông vang vọng từ Mê Linh, Lam Sơn, Bạch Đằng, từ bốn ngàn năm lịch sử. 
 
Tôi thật sự tin, trong một nước Việt Nam tự do dân chủ, sự hy sinh của đồng bào trong suốt gần một trăm năm dưới ách thực dân, dù chết ở đâu và chết như thế nào, chẳng những không bị lãng quên mà còn được vinh danh xứng đáng. Giống như trong các tổ chức khác, trong hàng ngũ đảng Cộng Sản có nhiều người yêu nước nhưng bản thân đảng Cộng Sản như một tổ chức chính trị chưa bao giờ là một đảng yêu nước.
 
Những người Việt Nam đó đã chết chỉ vì một mục đích duy nhất cho con cháu họ được sống trong thanh bình, tự do, độc lập chứ không phải sống trong xiềng xích độc tài nô lệ, và quan trọng nhất, họ không chết vì lá cờ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Dùng lá cờ của chế độ Cộng Sản độc tài để vinh danh những người đã chết vì nguyện vọng độc lập tự do cho dân tộc là một hình thức phỉ báng họ. 
 
-  Lá cờ nền đỏ sao vàng phải được gọi là cờ tổ quốc vì đã thắm máu của nhiều người Việt Nam yêu nước trong cuộc chiến “chống Mỹ xâm lược anh hùng” và cuối cùng đã cắm lên “trên đỉnh cao nhất của dinh Độc lập Sài Gòn”. 
 
Sau 39 năm với hàng ngàn tài liệu được công bố, hàng trăm tác phẩm được viết ra, đã chứng minh một cách tận tường và chi tiết lịch sử hình thành và mục tiêu của đảng CSVN từ 1930 cho đến nay. Hàng hàng lớp lớp thanh niên Việt Nam bị xua vào cuộc chiến gọi là “chống Mỹ cứu nước” chỉ để thỏa mãn tham vọng Cộng Sản hóa toàn cõi Việt Nam, và ngoài ra, để làm những tên lính đánh thuê trung thành cho Liên Xô và Trung Cộng. 
 
Trong các thập niên 1930, 1940, một mặt hô hào đoàn kết nhưng mặt khác đảng thẳng tay tận diệt mọi thành phần yêu nước, từ các chính khách, lãnh tụ đảng phái tên tuổi như Nguyễn Thế Nghiệp, Nguyễn Ngọc Sơn bị cắt cổ ở miền Bắc, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi bị giết ở miền Trung, Phan Văn Hùm, Bùi Quang Chiêu, Hồ Văn Ngà, Hồ Vĩnh Ký bị giết ở miền Nam, cho đến các bậc lãnh đạo của hai tôn giáo được khai sinh ngay trong lòng dân tộc là Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, chỉ vì họ có quan điểm đấu tranh chống Pháp khác với mục tiêu xích hóa Việt Nam của đảng Cộng Sản. Không khác gì các chế độ phong kiến bất nhân, chẳng những cá nhân họ bị giết mà con cái họ dù còn trong tuổi vị thành niên cũng không được tha như trường hợp năm người con của nhà cách mạng Bùi Quang Chiêu. 
 
Hôm nay, Liên Xô đã sụp đổ nhưng mối họa Trung Cộng do đảng CSVN rước về chẳng những chưa chịu ra đi mà đang tiếp tục gậm nhấm từng phần lãnh thổ Việt Nam, tàn sát và đe dọa đời sống của ngư dân vô tội. Trung Cộng là lý do chính để Việt Nam từ một quốc gia bán đảo phì nhiêu nhìn ra biển Đông bao la bát ngát trở thành là một nước nghèo nàn, chậm tiến, bị cô lập trong một vũng ao tù nước đọng không lối thoát ra đại dương. 
 
Cựu Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger, trong tác phẩm mới nhất Về Trung Quốc (On China) vừa xuất bản, đã trích lại một đoạn đối thoại giữa Phạm Văn Đồng và Chu Ân Lai trong cuộc viếng thăm Trung Cộng của họ Phạm vào năm 1968. Chu Ân Lai: “Trong một thời gian dài, Trung Quốc bị Mỹ bao vây. Bây giờ Liên Xô bao vây Trung Quốc, ngoại trừ phần Việt Nam”. Phạm Văn Đồng nhiệt tình đáp đúng ngay ý chủ: “Chúng tôi càng quyết tâm để đánh bại đế quốc Mỹ bất cứ nơi nào trên lãnh thổ Việt Nam”. Chu Ân Lai: “Đó chính là lý do chúng tôi ủng hộ các đồng chí”. Phạm Văn Đồng phấn khởi: “Chiến thắng của chúng tôi sẽ có ảnh hưởng tích cực tại châu Á, sẽ đem lại những thành quả chưa từng thấy”. Chu Ân Lai đồng ý: “Các đồng chí nên nghĩ như thế ”.  Đó là bản chất của cuộc chiến gọi là “chống Mỹ cứu nước”.
 
Một lá cờ tắm máu bao thế hệ thanh niên Việt Nam đã chết chỉ vì phải đem thân làm tôi mọi, làm phên dậu châu Á cho chủ nghĩa bành trướng Trung Cộng xứng đáng được gọi là cờ tổ quốc? 
 
Một lá cờ được làm mục tiêu tác xạ của hải quân Trung Cộng trên biển Đông, đại diện cho một đảng chỉ biết khúm núm trước kẻ thù nhưng vô cùng tàn ác với đồng bào cùng máu mủ xứng đáng được gọi là cờ tổ quốc? 
 
Vượt qua để thăng tiến chính mình và đất nước
 
Tôi biết, nhiều chú bác anh chị, nhất là từ miền Bắc sống sót sau cuộc chiến Việt Nam, có thân nhân, đồng đội chết dưới lá cờ đỏ sao vàng. Thân xác họ được gói trong lá cờ đó và hôm nay trên mộ họ vẫn còn cắm lá cờ đó. Tuy biết cái sai của chế độ nhưng không phải dễ dàng dứt đi được vì không ai nhẫn tâm chặt đứt cánh tay mình, cắt bỏ đi một phần xương thịt của chính mình. Một chiếc áo cũ ném đi lòng còn vương vấn đừng nói chi một người thân, đồng đội, anh em, một phần đời trai trẻ.
 
Không, tôi không nghĩ các chú bác anh chị nên quên quá khứ hay giết chết đi kỷ niệm. Đúng ra, không ai có thể hay có quyền ra lịnh đó. Vượt qua không có nghĩa là quên đi nhưng biết đặt kỷ niệm, đặt quá khứ vào đúng chỗ trong một ngăn tủ riêng tư và đóng góp phần đời còn lại cho một tương lai tốt đẹp chung của con cháu mình, đất nước mình. Con người có tuổi thơ, tuổi trẻ, tuổi về chiều nhưng dân tộc thì không. Dân tộc Việt Nam bốn ngàn năm nhưng vẫn còn rất trẻ. Và một ngày, các chú bác anh chị sẽ thấy mình, giống như dân tộc, trẻ lại vì khát vọng hồn nhiên của thuở tuổi hai mươi đang chảy cùng đất nước trong giai đoạn phục hưng đầy sức sống. 
 
Lịch sử nhân loại cho thấy, không một chế độ độc tài nào tồn tại vĩnh viễn. Một ngày, dân tộc Việt Nam sẽ có một lá cờ tổ quốc, biểu tượng của ý chí vươn lên, tinh thần độc lập, khát vọng tự do đã được hun đúc, trui rèn trong lửa đỏ, vượt qua bao khốn khó gian lao trong suốt chiều dài lịch sử. Để sớm có ngày đó, người Việt Nam, trong cũng như ngoài nước, phải dứt khoát chọn lựa một con đường, một lối thoát cho chính mình và cho dân tộc mình. Không thể phó thác sinh mạng chín chục triệu người và tương lai giòng giống Việt cho thiểu số ăn trên ngồi trước, nắm giữ quyền lực theo kiểu cha truyền con nối và cong lưng làm tôi mọi ngoại bang. Và lối thoát duy nhất, chọn lựa duy nhất của thời đại là dân chủ. 
 
 Trần Trung Đạo
(trích trong Chính Luận Trần Trung Đạo)

VN vs CHINA

Tạp chí Time:
Nếu không đương đầu với Trung Quốc,
  Việt Nam sẽ mất lãnh thổ vĩnh viễn
Tàu cảnh sát biển VN đương đầu với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền vùng đặc vùng kinh tế
Tàu cảnh sát biển VN đương đầu với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền vùng đặc vùng kinh tế.

Tuần báo Time Magazine trong số xuất bản ngày 27.10 đã đưa ra nhận định như trên sau chuyến viếng thăm Ấn Độ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Lời nhận định này được đưa ra dựa trên câu phỏng vấn PV Time Magazine dành cho ông A.B.Mahapatra – Giám đốc Trung tâm cố vấn đặt tại New Dehli có tên gọi “Trung tâm Nghiên cứu chiến lược Châu Á” của Ấn Độ.
“Mọi người đều lo ngại những gì Trung Quốc sắp sửa làm” – ông Mahapatra nói. “Giờ đây, đó cũng là mối lo ngại chung của Việt Nam và Ấn Độ bởi vì xuyên suốt lịch sử, cả Việt Nam lẫn Ấn Độ đều chưa bao giờ nghĩ rằng họ nên mở rộng quan hệ thương mại hay quan hệ quốc phòng”.

Time Magazine cũng loan tải lại thông tin về hợp tác quân sự giữa Việt Nam và Trung Quốc với một góc nhìn khác:
“Hôm thứ ba, Ấn Độ đã cam kết cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam và đổi lại họ cũng đã giành được quyền thăm dò dầu khí  ngoài khơi Biển Đông . Những động thái này hứa hẹn sẽ làm khó chịu nhiều kẻ ở Bắc Kinh”

Những tuyên bố trên được đưa ra trong chuyến thăm 2 ngày của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến Ấn Độ, trong chuyến thăm đó, thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi đã yêu cầu”đẩy nhanh” gói tín dụng 100 triệu USD vốn đã được bàn thảo trong chuyến viếng thăm Hà Nội của tổng thống Pranab Mukherjee hồi tháng 9.

Cùng với việc xúc tiến bán 4 tàu tuần tra, Ấn Độ cũng đã nâng cao các chương trình huấn luyện cho quân đội Việt Nam – theo lời tờ Economics Times được Time Magazine dẫn lại.
Những thỏa thuận này diễn ra đúng lúc Việt Nam, cùng với nhiều quốc gia ĐNÁ khác, đang bất đồng với những đòi hỏi phi lý của Trung Quốc về vấn đề lãnh thổ ở Biển Đông.

Hồng Lỗi – phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố sẽ phản đối bất kỳ hành động thăm dò, khai thác dầu khí nào của liên danh Việt - Ấn trên vùng biển VN mà Trung Quốc cố ý gọi là “vùng tranh chấp”

“Nếu sự hợp tác đó ảnh hưởng đến lãnh thổ và quyền lợi của Trung Quốc, chúng tôi cương quyết chống đối” – Hồng Lỗi nói.

Cả Việt Nam lẫn Ấn Độ đều có quan hệ thương mại gần với Trung Quốc. Chuyến thăm New Dehli gần đây của ông Tập Cận Bình đã đem lại những thỏa thuận nhiều tỉ đô la.

Nhưng ông Mahapatra chỉ rõ ra rằng cả nền kinh tế Ấn Độ lẫn nền kinh tế Việt Nam đều không phụ thuộc vào cuộc xung đột lãnh thổ do Trung Quốc gây ra.

“Cả Việt Nam lẫn Ấn Độ đều nhận ra rằng nếu bây giờ không đương đầu với Trung Quốc, họ sẽ mất lãnh thổ vĩnh viễn” – ông nói.


LHL
@motthegioi-(Time)

Saturday, November 1, 2014

XUÂN VŨ

XUÂN VŨ: MỘT NGÔI SAO VĂN HỌC ĐÃ TẮT


Trích đoạn :


Bốn năm sau (1964-1967)
Một đêm mưa tầm tã, tại Xóm Mới, một xóm nhỏ nằm bên ven sông Vàm Cỏ đông, thuộc địa phận huyện Lò Gò, tỉnh Tây Ninh, mà bên kia sông là lãnh thổ Campuchia, địa phận tỉnh Prây-Ven, tôi lại gặp Xuân Vũ trong quán hủ tiếu Ba Nhỏ (Tên của ông chủ quán đã được khách đến ăn đặt thành tên quán)
Tôi vừa bước vô quán vừa cởi áo mưa ra, thì nghe tiếng của ai đó, rất quen, đang ngồi ăn trong quán, gọi thật to:
- “Sáu Tùng, tại sao lại gặp ông ở tại mật khu này nữa vậỷ Tôi đã trốn nợ đời... từ thủ đô ngàn năm văn vật chạy vô đây! Còn ông chắc chạy trốn nợ tình của các cô gái Hà Thành chớ gì?”
Cả quán cười ồ... Tôi xoay người lại nhìn: Hóa ra không ai khác là anh chàng nhà văn tài hoa, hay nói đùa  họ Bùi, tên Xuân Vũ. Tôi liền “phản pháo” ngay, rằng:
- «Ông Sáu Búa (ám chỉ Lê Đức Thọ), chủ nợ của anh, ủy nhiệm cho tôi vào tận “rừng sâu núi hiểm” này, để đòi cho được món “nợ tư tưởng” Révisionnisme (Chủ nghĩa xét lại hiện đại) đó nghe!»
- “Tớ đã vô tận đây rồi, thì có đến 12 búa tớ cũng chẳng sợ, nên 6 Búa đâu có nghĩa gì đối với tớ! Nhưng tôi chỉ ngại ông đòi tiền 2 tô phở Tư Lùn thôi... »
Xuân Vũ cười trả lời một cách thoái mái. Rồi anh ta hỏi tôi:
- «Ông vào đây hồi nào vậỷ”
Tôi kéo ghế ngồi vào cùng bàn với Xuân Vũ, rồi trả lời gọn lỏn rằng:
-  Từ mùa khô năm 1964. 
Tôi hỏi lại anh ta:
-  «Còn anh, vào đây từ lúc nàỏ”
- “Như vậy, anh là “cựu binh”! Còn tôi vừa mới sạch mùi “tân binh”, 2 năm!”
Xuân Vũ vừa trả lời vừa chỉ vào bộ quần áo ‘Giải phóng quân” của anh đang mặc.
Lúc này, tôi mới chú ý: Về bên ngoài, Xuân Vũ bây giờ không phải như nhà văn Xuân Vũ ở Hà Nội, mà hình như anh đã thay đổi hoàn toàn! Nước da của anh đã xạm màu sốt rét, sau 2 năm lăn lộn trong chiến khu miền Đông “rừng thiêng nước độc”. Mái tóc “kiểu tóc Nguyễn Tuân” đã biến mất, nhường cho mái tóc “hớt cua”thật ngắn. Xuân Vũ đã biến thành một sĩ quan giải phóng về hình thức, với bộ quân phục màu xanh lá cây, đầu đội nón tai bèo, đeo súng nhỏ K.54 xề xệ bên hông phải, treo lủng lẳng trên giây ceinture màu vàng.
- «Bây giờ, anh đúng là một CHIẾN SĨ VĂN NGHỆ GIẢI PHÓNG trên chiến trường Nam bộ rồi đó!”
Tôi nói với giọng pha trò.
- “Cám ơn anh đã tặng cho “danh hiệu cao quí” đó. Nhưng không biết tôi có làm tròn nhiệm vụ “vinh quang nặng nề đó hay không?”
Xuân Vũ cười mỉm, nói với giọng đùa cợt
Sau khi ăn hủ tiếu xong, mưa rừng cũng đã tạnh hẳn, tôi kéo Xuân Vũ ra bờ sông vắng để tâm sự. Xuân Vũ cho biết: Chính anh tự nguyện xin đi B, và vận động sự ủng hộ của Đảng đoàn Văn nghệ mãi, mới được Ban Tổ chức Trung Ương chấp thuận Về tới Trung ương cục, anh được phân công về Tiểu ban Văn nghệ, trực thuộc Ban Tuyên Huấn do Trần Bạch Đằng phụ trách. Xuân Vũ cũng cho biết: Anh đã gặp được bà Nguyễn Thị Định, và bà ấy đã đề nghị anh nên về quê hương Bến Tre, lấy tài liệu sống để viết một tác phẩm lịch sử mang tên “Bến Tre, Ngọn Cờ Đầu Của Phong Trào Đồng Khởi”, do bà ấy lãnh đạo hồi 1959-1960. Vì vậy, tháng tới anh sẽ về Bến Tre với sự giới thiệu trực tiếp của bà Nguyễn Thị Định- Phó Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Quân Sự Miền.
- “Tôi tin rằng, thông qua chuyén đi về quê hương Đồng Khởi, cũng là quê hương của tôi lần này, sẽ có chất liệu đầy đủ cho tôi sáng tạo nên một tác phẩm có giá trị cao hơn cuốn Hòn Đất của Anh Đức!”
Xuân Vũ nói rất hứng khởi và tràn đầy sự tự tin!
- “Tôi cũng hy vọng anh sáng tạo được một tác phẩm bất hủ cho nền văn học giải phóng! Nhưng tôi e anh sẽ không hài lòng trước một thực tế không giống như những ai đã kể về Đồng Khởi đâu!”
Tôi nói một cách dè dặt.
Xuân Vũ tỏ vẻ ngạc nhiên, trầm ngâm... rồi hỏi:
- “Anh đã biết được sự thật thế nào về cuộc Đồng khởi Bến Tre? Nhưng dù sự thật có phũ phàng đến thế nào... tôi cũng phải về quê nhà một lần, để trang trải vấn đề tình cảm, và kiểm chứng thực tế luôn...»
Sau đó, Xuân Vũ hỏi tôi:
- «Hiện nay, anh công tác ở đâu? Tôi muốn liên lạc với anh thì làm thế nàỏ”.
- “Không dấu gì anh, tôi công tác ở ngành Tình Báo, nên không tiện cho địa chỉ cơ quan, vì sẽ vi phạm kỷ luật đã quy định! Nhưng khi nào anh muốn gặp tôi thì cứ viết thư hẹn, và đưa cho anh Ba Nhỏ, chủ quán hủ tiếu mà chúng ta vừa ăn đó. Anh chỉ nói: “Nhờ anh chuyển gấp cho anh Sáu Kiếng” là tôi nhận được ngay! Sáu Kiếng là tên của tôi hiện nay”.
Tôi không thể nói thật cho Xuân Vũ biết: “Ba Nhỏ là mật hộ viên của tôi”. Và càng phải giữ bí mật về thân phận của tôi hiện nay. Từ năm 1964, tôi không phải là tôi của những năm trong kháng chiến chống Pháp, hay là những năm đầu tập kết ra ở Hà Nội nữa! Trên lĩnh vực chính trị, hiện giờ tôi đã đứng trên chiến tuyến của Mặt Trận Quốc Gia đối đầu với Mặt Trận Cộng Sản (núp dưới danh nghĩa Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam). Vả lại, tôi đang “nằm vùng” trong hàng ngũ Quân Giải Phóng, khoát áo Cán bộ Giải phóng, mạo danh là đồng chí của Xuân Vũ, nên phải cảnh giác với mọi người chung quanh, kể cả người thân!
Tôi muốn lôi kéo Xuân Vũ về với chính nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, để anh có điều kiện phát huy đến đỉnh cao về năng lực sáng tạo văn học của anh. Nhưng tôi phải kiên nhẫn chờ đợi cơ hội thuận lợi, để sau khi anh đã “va đầu vào thực tế phũ phàng” của cái gọi là “Đồng Khởi Bến Tre”, mà Hà Nội đã thần thánh hóa vai trò “vĩ đại của chị Ba Định”, trong việc chỉ huy “đoàn quân vũ trang bằng súng bặp dừa” đã đánh thắng cả “sư đoàn Mỹ- Ngụy” (!?) Tôi tin tưởng anh sẽ tỉnh ngộ nhanh, bởi vì Xuân Vũ vốn là môt nhà văn thức tỉnh... và đến lúc ấy, tôi chỉ “rót thêm một giọt nước vào ly nước đã đầy” là ly nước của anh sẽ tràn ra, không ai ngăn chặn được!
 
Cuối năm 1968.
Tôi đang ngồi tại văn phòng của A17 (mật danh của Sở Điệp Báo) tại đầu đường Mạc Đỉnh Chi (Sàigòn), thì nhận được một bản báo cáo của Ty An Ninh Bến Tre, cho biết: «Nhà văn Xuân Vũ đã ra trình diện với tư cách là người TÌM TỰ DO!” Tôi rất vui khi nhận được tin Xuân Vũ đã tự thức tỉnh, từ bỏ hàng ngũ cộng sản, trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia, không vì sợ gian khổ, cũng không phải vì bã lợi danh, mà vì Lý Tưởng Tự Do, vì sự nghiệp sáng tác chân chính của anh!
Ngày hôm sau, tôi điện thoại xuống Ty An Ninh Bến Tre hỏi thăm tình trạng của Xuân Vũ, thì được biết Ban Q. (Ban Thẩm Vấn) của số 3 Bạch Đằng, đã bốc Xuân Vũ về Sàigòn ngay trước khi tôi gọi điện thoại. Vậy là tôi có thể đến gặp Xuân Vũ dưới hình thức “Thẩm vấn để khai thác tin tức”- Bởi vì theo nguyên tắc bảo toàn an ninh, ngăn chặn những phần tử “Chiêu Hồi Giả”, cho nên bất cứ ai ở trong hàng ngũ cộng sản trở về với quốc gia, đều phải qua giai đoạn Thẩm Vấn ở địa phương hoặc ở Trung ương (tùy theo chức vụ và vai trò của họ). Tôi muốn gặp Xuân Vũ cũng phải tôn trọng nguyên tắc đó! Cho nên, tôi phải gọi điện thoại cho Ban Q. xin đăng ký thẩm vấn “nhà văn Tìm Tự Do Xuân Vũ”, nhưng được trả lời rằng: «Dù là ưu tiên 1 (tức trong nội bộ Phủ Đặc ủy) nhưng cũng phải đợi đến khi Ban Q. và CIA Sàigòn thẩm vấn xong, thì mới xếp lịch thẩm vấn cho A17 ». Tôi đành phải chờ!
Một tháng sau. Vào những ngày cận Tết Kỷ Dậu (2-1969), tôi được Ban Q. sắp xếp cho gặp nhà văn Xuân Vũ. Tôi gặp Xuân Vũ, không bằng tư cách là Thẩm Vấn Viên, mà với tư cách là bạn hữu. Vậy là, trong vòng 20 năm (1950-1970) tôi chỉ gặp được Xuân Vũ có 5 lần - Một lần trong cuộc kháng chiến chống Pháp (1950). Hai lần ở Hà Nội (1960, 1963). Một lần trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1967). Và lần này tại Sàigòn, thủ đô của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, một vùng trời Tự Do (1969). Rõ ràng, tôi và nhà văn Xuân Vũ đã có “Duyên Kỳ Ngộ” của hai Học Sinh yêu nước “xếp bút nghiên lên đường tranh đấu’, của hai Thanh Niên có mộng ước “cầm bút viết lên những nét điển hình của con người Việt Nam, của tâm hồn Việt Nam”; và của hai Chiến Sĩ Việt Nam, đã một thời chọn sai lý tưởng cách mạng, nhưng cũng đã thức tỉnh, chối bỏ chủ nghĩa cộng sản, trở về với chính nghĩa Quốc Gia Dân Tộc!

Đọc hết bài :

Lê Tùng Minh

VH

Canada bỏ phiếu đóng cửa Viện Khổng Tử


Khu vực giám sát trường học lớn nhất Canada đã bỏ phiếu về việc cắt đứt với Viện Khổng Tử của Trung Quốc. Trước đó nhiều trường đại học ở Mỹ cũng đã làm vậy. Một giáo sư cho rằng Viện Khổng Tử đang được nhìn nhận như chủ nghĩa đế quốc về văn hóa của nước này

Ngày 30.10, các ủy viên của Hội đồng Trường học khu vực Toronto (TDSB) - nơi giám sát các trường học công với 232.000 học sinh - đã tiến hành cuộc bỏ phiếu về việc cắt đứt quan hệ với Viện Khổng Tử của Trung Quốc, sau khi các phụ huynh, giáo viên và học sinh phản đối bất kỳ sự liên quan nào của Chính phủ Trung Quốc vào các trường học ở Canada. Là một cơ quan phi lợi nhuận do Chính phủ TQ tài trợ, Viện Khổng Tử đã được hy vọng là cầu nối trao đổi văn hóa và ngôn ngữ, nhưng TDSB đã nhận thấy “mối quan hệ đối tác này không phù hợp với các giá trị của cộng đồng” - như lời ủy viên TDSB Pamela Gough phát biểu.
 
Cho dù chỉ vài ngày nữa là tới chuyến thăm của Thủ tướng Canada Stephen Harper tới Bắc Kinh và hành động nói trên sẽ khiến Trung Quốc không hài lòng, song TDSB vẫn tiến hành cuộc bỏ phiếu.
 
Trước đó, tại Mỹ, đầu tháng 10 vừa qua, Đại học Tổng hợp bang Pennsylvania đã chấm dứt mối quan hệ kéo dài 5 năm với Viện Khổng Tử với lý do khác biệt giữa hai bên. Đại học Tổng hợp Chicago cũng cắt đứt quan hệ với viện này hồi tháng 9.
 
Trong bài viết với tựa đề “Trung Quốc có phạm tội chủ nghĩa đế quốc văn hóa” trên CNN hôm 21.10, ông Tao Xie - giáo sư khoa học chính trị tại Trường Anh ngữ và Nghiên cứu Quốc tế, Đại học Nghiên cứu nước ngoài Bắc Kinh - cho biết, “đến cuối năm 2013, đã có 440 Viện Khổng Tử và 646 lớp học Khổng Tử ở 120 nước. Kể từ khi thành lập Viện Khổng Tử đầu tiên ở Hàn Quốc năm 2004, con số này thực sự là “bước đại nhảy vọt” về văn hóa nhằm vào người nước ngoài” - Giáo sư Tao Xie viết.
 
Tuy nhiên, ông Tao Xie nhấn mạnh: “Cho dù giới thiệu văn hóa và ngôn ngữ là một ý tưởng tốt, song các nỗ lực ồ ạt khi làm như vậy qua Viện Khổng Tử đã đem lại ấn tượng rằng TQ đang thực hiện một chiến dịch về hệ tư tưởng trên toàn cầu”.
 
Bài viết của ông Tao Xie cho biết: “Các quan chức TQ có vẻ quan tâm đến quan điểm cho rằng, mặc dầu TQ đã sở hữu sức mạnh cứng đáng sợ - về mặt kinh tế và quân sự - song họ sẽ không được xem là một cường quốc toàn cầu thực sự giống như Mỹ, cho tới khi họ sở hữu cả sức mạnh mềm cũng to lớn như vậy.
 
Các yếu tố của sức mạnh mềm TQ thường được người nước ngoài nhắc tới là Vạn Lý Trường Thành, Tử Cấm Thành, gấu trúc, võ kung fu, và Nhà hát Bắc Kinh. Nhưng ngoại trừ gấu trúc, thì tất cả những thứ còn lại đều là sản phẩm văn hóa của TQ cổ. Cái TQ thực sự thiếu không phải là văn hóa, mà là văn hóa hiện đại để có thể giao tiếp với người dân trên khắp thế giới”.
 
Ông Tao Xie cũng nhận ra rằng, việc thúc đẩy Viện Khổng Tử đã gây nhiều tranh cãi và bị xem là “dấu hiệu của chủ nghĩa thực dân văn hóa của một TQ đang lên”.
 
Với cái nhìn từ trong nước chiếu ra nước ngoài, ông Tao Xie nhận xét: Một số giá trị cốt lõi của Khổng giáo - chẳng hạn như sự quan trọng vượt bậc của nhà nước so với cá nhân, một xã hội thứ bậc, sự sùng bái chính quyền - tất cả đều không khớp với những xu hướng đang nổi trội của thế giới hiện đại.
 
Ông Tao Xie cũng cho rằng, cốt lõi của sức mạnh mềm của TQ là phải hiện đại hóa nền văn hóa thay vì tiếp thị di sản văn hóa cổ của họ. Sự hiện đại hóa văn hóa đó bao gồm không chỉ các sản phẩm văn hóa hấp dẫn hơn và sự đổi mới kinh doanh, mà còn là cải cách cơ bản trong các cơ quan chính trị của TQ. Ông Tao Xie còn viết, các nhà lãnh đạo TQ nên ít lo ngại về việc có ít sức mạnh mềm ở nước ngoài hơn, mà nên chú trọng hơn đến việc xây dựng một xã hội công bằng, tự do và thịnh vượng trong nước.
 
Các quan sát khác cho rằng, Viện Khổng Tử gây lo ngại ở nhiều nước không chỉ vì “ấn tượng” mà công việc của viện này tạo ra, như trong cách nhìn của Giáo sư Tao Xie. Reuters cho biết, việc đóng cửa ở Mỹ và Canada là do lo ngại Viện Khổng Tử đã hạn chế tự do học thuật, giám sát sinh viên Trung Quốc ở nước ngoài và quảng bá các mục đích chính trị của Trung Quốc.
 
Vĩnh Nguyên
@internet