Wednesday, June 5, 2019

Thảm sát Thiên An Môn qua lời kể của Đại sứ Úc tại Bắc Kinh!
BBC Vietnam: “Xe tăng chạy tới lui trên thi thể những người bị giết chết, cho đến khi xác của họ bị nghiền nát. Những gì còn lại sau đó bị xe ủi chất thành đống, để rồi bị súng phun lửa thiêu ra tro”.

Cựu Thủ tướng Úc Bob Hawke nói trong nước mắt khi ông đọc lại báo cáo từ tòa đại sứ Úc ở Bắc Kinh, 5 ngày sau cuộc thảm sát diễn ra trên Quảng trường Thiên An Môn ngày 4/6/1989.
“Nghiền nát tâm hồn và thân xác của tuổi trẻ, có khác nào nghiền nát tương lai của chính đất nước Trung Quốc,” ông nói trước các sinh viên Trung Quốc đang có mặt tại lễ tưởng niệm ở tòa nhà Quốc hội Úc, nhiều người quấn băng tang.”
Ngày này 30 năm trước, lãnh đạo Trung Quốc đã gây một tội ác vô cùng dã man đối với chính những người trẻ đẹp nhất của họ. Đây là một vết nhơ tởm lợm ngàn đời không rửa được của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Có lẽ vì vậy mà chúng ta được xem những clip chứng tỏ sự vô cảm gần với súc vật của xã hội Trung Quốc ngày nay.
Ở Việt Nam, những kẻ mang danh con người với trái tim dã thú nên ngẫm về sự kiện này. Khi con người mất đi những giá trị đẹp đẽ thì chúng là những con vật ghê tởm và đáng sợ nhất. Mà bạn biết rồi đấy, con vật thì không thể sinh ra được con người, không thể vẽ ra được những điều quý giá để dạy con cháu khi chính chúng không thuộc những bài học ấy. Chưa nói tới luật nhân quả nhưng chắc chắn là khi làm một hành động tàn ác, lương tâm chúng sẽ mãi mãi không yên. Mà sự bình yên, thanh thản trong tâm hồn lại là điều tuyệt vời nhất của CON NGƯỜI, phải không các bạn?
Viết đến đây, tôi có một niềm tin TQ sẽ không bao giờ làm bá chủ thế giới như tham vọng của họ. Nhân loại đã học được những bài học đắt giá. Lương tri con người sẽ không cho phép một chính thể khát máu trỗi dậy như loài quỷ dữ. Nếu điều ấy xảy ra, lịch sử khủng khiếp sẽ lặp lại một lần nữa!

Thursday, May 30, 2019

TỪNG CÓ MỘT NƠI 
HOÀN CẢNH KHÔNG THỂ LÀM HỎNG CON NGƯỜI
Mặc dù chê trách tôi về mặt lập luận, nhưng sau bài tôi viết lần trước ngày 23/5/2019, không ít bạn đã đồng tình với tôi về việc con người Việt Nam hôm nay đang bị làm hỏng một cách toàn diện. Chúng ta chẳng bao giờ nên bi quan một cách tuyệt đối, song sự làm lại con người hiện nay thì quả thật là khó, lý do là vì như chúng ta đều biết, mặc dù chưa từng được tổng kết nhưng hoàn cảnh lúc ấy nhất là cuộc chiến tranh 1945 – 1975 thật quá đặc biệt nó khốc liệt vượt qua sức tưởng tượng và khả năng chịu đựng của con người.
Chỉ cần nói thêm là tôi đã nói điều này chủ yếu dựa trên kinh nghiệm quan sát những con người miền bắc từng được sống được giáo dục như tôi và trải qua chiến tranh theo kiểu chúng tôi, trong khi đó thì nếu nhìn cả thực tế nước Việt Nam sẽ thấy còn có những con người được giáo dục theo kiểu khác có những niềm tin khác bị những quy luật khác chi phối và nay nhiều người vẫn đứng vững trước mọi biến động để làm ăn sinh sống rất tử tế. Xét trên đại thể, trong tình thế ngổn ngang của cả nước hôm nay những người còn được cái căn bản của con người ấy mới chính là cái tương lai là niềm hi vọng của cả xã hội.
Có một sự việc xảy ra mấy ngày hôm nay, nó làm tôi thấy thêm cụ thể về cái kết luận trên.
Ngày 22/5 và mấy ngày sau trên mạng dày đặc những bài viết về cái chết của nhà thơ Tô Thùy Yên (1938 – 2019). Con người đã từng tham gia nhóm Sáng tạo bên cạnh Thanh Tâm Tuyền Mai Thảo, con người từng có mặt trong các trại tù cải tạo tổng cộng 13 năm và đã từ biệt cõi đời trên đất Mỹ xa xôi, con người đó có dịp hiện ra trước cả những người còn biết rất ít về ông như bản thân tôi một chân dung với niềm tin sâu sắc, bộc lộ ở những nét tình cảm như ủ kín mà vẫn tuôn trào, trong những dòng thơ miên man, đôi khi khúc mắc nhưng thật ra là từng dòng đều chắt lọc, nói lên cái khắc khoải cuối cùng của cuộc đời ông, đó là bài thơ “Ta về” mà rất nhiều người thú nhận rằng đã đọc lên là không thể bỏ xuống được.
Trước tiên cái đáng ghi nhận nhất của bài thơ “Ta về” là nó cho ta thấy cái cao thượng của những con người bị rơi vào hoàn cảnh bên thua cuộc và sau đó là tù đày cực khổ mà vẫn giữ được lòng mình trầm tĩnh, nhìn ngẫm về cuộc đời trong đó có đủ cả sự trân trọng những gì tưởng như đơn sơ nhưng gần gũi nhất của ngày hôm qua, lẫn sự tha thiết sống tiếp cuộc sống hôm nay và muốn lây truyền đạt những điều tốt đẹp ấy cho các thế hệ sau. Ở đây con người trong cảnh khốn cùng tuyệt đối không thấy bộc lộ ra một chút nào gọi là oán thù căm giận trách móc. Thay vào đó là sự tin yêu trầm lắng mà lại dai dẳng đầy sức ám ảnh.
Cái sức mạnh tinh thần của con người ở đây tưởng như muốn ghìm xuống ẩn giấu mà vẫn ngời ngời, khiến cho cái hoàn cảnh tưởng rất bi đát lại vẫn hiện lên với đủ vẻ tươi tắn và đầy hy vọng.
on người tưởng như đã đi hết mọi nỗi cực khổ và đau đớn của đời sống hóa ra vẫn còn lại với tâm thế bình tĩnh nghĩ lại về cuộc đời đã qua và muốn truyền lại những thể nghiệm sống của mình cho những người khác.
Trong những năm chiến tranh, nhiều người ở miền bắc chúng tôi thường tự nhủ rằng mình đã đi đến tận cùng của sự đau khổ và tự hào là những hoàn cảnh khó khăn không làm gì được mình trước sau mình vẫn nguyên vẹn. Hóa ra chúng tôi nhầm. Một cái gì đó rất tốt đẹp đã chết đi trong chúng tôi, bởi sang thời hậu chiến nhiều người tự cho là mình có quyền làm tất cả những điều không được phép làm và coi đó là sự đền đáp đúng hơn là sự vớt vát lại chút hạnh phúc trần thế mà chúng tôi đã bị tước mất. Cái sự bị làm hỏng mà tôi nói trong bài trước gần như được mọi người miền bắc coi là tự nhiên.
Đọc bài thơ của Tô Thùy Yên tôi nhớ lại nhiều cuộc gặp gỡ tiếp xúc với con người ở miền nam sau ngày 30/4/1975, tôi nhớ lại những trang văn bài thơ mà tôi đã đọc, những công trình nghiên cứu khoa học xã hội được làm trước 1975 và tôi nhận ra rằng cũng trong sự bao vây của chiến tranh, nhưng con người nơi đó không bị hoàn cảnh làm cho tê cứng về mặt tâm hồn, liều lĩnh về cách sống, bất cẩn về mọi hậu quả gây ra cho mọi người. Tôi hiểu rằng ở xã hội đó, văn hóa vẫn còn, vẫn chi phối người ta trong mọi mặt đời sống. Cái sức mạnh tinh thần của Tô Thùy Yên hôm nay cũng như của bao nhiêu người khác là kết quả của một nền giáo dục nhân bản và giữ vững chuẩn mực. Người ta không những biết sống để thích nghi với hoàn cảnh mà còn biết giữ được cả những gì tốt đẹp nhất được bồi đắp từ nhiều thế hệ và chuẩn bị cho người ta ra tiếp xúc với thế giới.
Qua nhiều tài liệu về các trại tù cải tạo được thiết lập sau 75, tôi biết có một nguyên tắc chi phối các trại tù này là làm cho những người bị giam trong đó mất hết cảm giác và suy nghĩ của một con người bình thường, không còn đớn đau mà cũng không còn hy vọng, tóm lại là chỉ biết sống qua ngày như một thứ súc vật bị làm nhục. Trường hợp con người trong Tô Thùy Yên sau khi ra tù bộc lộ qua bài thơ “Ta về” chứng tỏ mọi ý đồ loại đó đã phá sản đây không phải trường hợp cá biệt ở một hai người mà phổ biến ở rất nhiều người. Sau khi bị tù đầy trở về họ vẫn giữ được lòng khao khát yêu đời và có đủ khả năng gia nhập vào cuộc sống hiện đại khi ra sống ở hải ngoại. Chính họ là niềm hy vọng của dân tộc chúng ta. Mà điều đó không phải là ngẫu nhiên vì nó đã được chuẩn bị từ trong cuộc sống hai mươi năm 1955-1975.
VƯƠNG TRÍ NHÀN
Đọc thêm :

Sunday, May 19, 2019

Thế hệ bố, thế hệ con

"Một hôm. cậu con trai hỏi bố của mình:

“Bố ơi, con không hiểu ngày xưa bố và mọi người sống như thế nào khi không có Internet. không có máy tính, không có tivi, không có điều hòa, không có điện thoại di động? “

Người bố trả lời:

“Thì cũng giống như thế hệ ngày nay thôi con: sống mà không biết đến nguyện cầu, không có lòng trắc ẩn, không có danh dự, không có sự tôn trọng, không biết xấu hổ, không khiêm tốn và không thích đọc sách…”.

“Thế hệ bố, và thế hệ trước, sinh ra trong khoảng thời gian từ năm 1945-1985 thật là may mắn, khi:

- Ai cũng không ngại đi học một mình từ sau ngày đầu tiên đến trường.
- Sau giờ học, ai cũng được chơi đến tận tối mịt.
- Không ai ôm tivi từ giờ này qua giờ khác. Và ai cũng có những người bạn thực sự chứ không phải với những người bạn từ Internet.
- Nếu như khát, bọn bố uống luôn nước máy, chứ không phải nước đóng chai.
- Bọn bố ít bị ốm, dù rằng hay ăn chung uống chung, như 4 đứa cùng uống chung 1 cốc nước quả. Nếu có ốm thì ông bà chữa bệnh cho bằng các loại thuốc rẻ tiền trong nước sản xuất, hay là bằng các bài thuốc dân gian.
- Bọn bố không bị béo phì, dù rằng ngày nào cũng chén căng bánh mì và khoai tây.
- Bọn bố chơi bằng các đồ chơi tự làm lấy và chia sẻ đồ chơi, sách truyện với nhau.
- Ngày xưa, các gia đình hầu hết là không giàu có. Nhưng các ông bố bà mẹ đã tặng cho con cái tình yêu của mình, dạy cho con biết trân trọng những giá trị tinh thần chứ không phải là vật chất, dạy cho con biết thế nào là giá trị thực sự của con người : Sự trung thực, Lòng trung thành, Sự tôn trọng và Tình yêu lao động.


- Ngày xưa, bọn bố chưa bao giờ có điện thoại di động, đầu DVD, trò chơi điện tử Play Station, máy tính, không biết thế nào là Internet, chat…
Nhưng bọn bố có những người bạn thực sự, là khi:


- Thường đến chơi nhà nhau mà chả cần phải có lời mời, đến nhà ai gặp gì ăn nấy.
- Ký ức của thế hệ ngày đó chỉ là những tấm ảnh đen trắng, nhưng đầy ánh sáng và rực rỡ, ai cũng trân trọng lật mở cuốn album gia đình với sự thích thú, tôn kính, trong cuốn album đó luôn lưu giữ chân dung của ông bà cụ kỵ các con…


- Thế hệ bố không bao giờ ném sách vào thùng rác, mà đứng chồn chân trong hàng để mua sách, rồi sau đó đọc chúng suốt ngày đêm.
- Bọn bố không bao giờ đưa cuộc sống riêng tư của thiên hạ ra để đàm tiếu, cũng như biết giữ bí mật cuộc sống của gia đình mình, không phải như những gì bây giờ đang xảy trên Facebook và Instagram….


- Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ cuối cùng mà con cái biết nghe lời cha mẹ.
- Thế hệ bố, có lẽ, là thế hệ đầu tiên biết lắng nghe con cái.


- Thế hệ bố là như thế đó, là “phiên bản giới hạn”, vậy nên các con hãy biết tận hưởng những ngày bên bố mẹ, hãy biết học hỏi và trân quý…
…Trước khi thế hệ này biến mất, nhé con “.


Phan Việt Hùng lược dịch từ mạng Nga
@internet

Thursday, May 16, 2019

Thi áo dài đẹp năm 1960
nhân Lễ Tưởng Niệm Hai Bà Trưng và cũng là Ngày Phụ Nữ VN


Đọc thêm :


Sunday, May 5, 2019

MƯỜI ĐẶC TRƯNG LỚN CỦA TIẾNG VIỆT
HỌC GIẢ ĐỖ THÔNG MINH




Thursday, April 25, 2019

Việt Nam hôm nay – vì sao?
Sáng trong người mệt mệt không muốn ra ngoài ăn, tôi nấu cho mình tô mỳ và ngồi nhâm nhi nó. Chợt cảm xúc dâng lên khi tôi nghĩ về những người nữ công nhân, những người nghèo khó, những người cũng đang bầu bì như tôi nhưng hoàn cảnh buộc 3 bữa của họ chẳng có thứ gì khác ngoài mỳ tôm. Mỳ tôm với họ không phải món ăn đôi khi thèm thuồng mà là món ăn chính trong các bữa ăn thường trực.
Cuộc sống lao động vốn đã vất vả nay mỗi ngày một khó khăn; giá điện, giá xăng độc quyền, tăng không ngừng. Người dân lao động cầy cật là vậy nhưng cũng chẳng để ra được bao nhiêu. Họ không hiểu, không dám và cũng không biết thắc mắc vì sao. Quanh quẩn là những tiếng than thân, nghề nào cũng vất vả nhưng đời sống người dân không hề dư dả.
Tôi in đậm trong tâm ánh mắt của người đàn ông kham khổ tôi từng gặp bên Thái trong một lần du lịch. Đó là vào buổi chiều, tôi cho con trai ngừng chân ở một tiệm ăn bên đường gần một khu chợ sỉ. Đương nhiên người Việt phải dùng tiếng Việt, tôi vừa cho con tôi ăn vừa nói chuyện với thằng bé. Bất chợt tôi thấy người đàn ông bàn bên cạnh cứ len lén nhìn hai mẹ con tôi. Dáng vẻ của một người bốc vác, nhìn anh to con, đen nhẻm và nhếch nhác. Tôi nhận ra anh là người Việt. Tôi cười và quay ra hỏi anh qua bên đây làm lâu chưa. Anh im lặng không trả lời, cúi đầu ăn. Tôi không hiểu vì sao anh lại cư xử như thế.
Tôi không nhớ lúc đó tôi nói chuyện gì với con, nhưng hai mẹ con rất vui vẻ. Có vẻ như anh không chịu nổi nữa, anh chen một hai câu vào câu chuyện của mẹ con tôi. Anh hỏi thằng bé mấy tuổi rồi. Anh nói con anh ở nhà cũng chừng đó tuổi, rồi anh có vẻ buồn rầu. Ăn xong hai mẹ con tôi đứng dậy, không quên chào tạm biệt anh, anh gật đầu cười lại.
Một lần khác đưa con vào công viên bên ấy. Vì con đòi ăn mít, tôi dắt con vào chiếc xe bán hàng ron bên hông. Rõ ràng anh chàng bán mít đó là người Việt, nhưng khi tôi hỏi anh là người Việt hả? Anh lại một mực lắc đầu phẩy tay.
Lúc này thì tôi hiểu rồi, đó là những thân phận người Việt tha hương. Họ khao khát được nói tiếng Việt, được trò chuyện với đồng hương nhưng họ không dám làm như vậy. Họ sợ sẽ bị phát hiện ra là người Việt, sợ sẽ bị cảnh sát Thái bắt giam. Có hàng triệu những con người Việt Nam đang phải tha hương cầu thực, sống một cách bất hợp pháp nơi đất khách quê người như họ để cầu có một cuộc sống cho gia đình nơi quê nhà nghèo khó.
Tôi uất ức, tại sao sinh ra trên mảnh đất vốn màu mỡ với đường bờ biển trải dài như đất nước tôi mà người dân không thể sống nổi trên quê hương mình? Trước 30/4/1975, miền Nam Việt Nam được ví như hòn ngọc Viễn Đông cơ mà? Sau bao nhiêu năm giành được quyền lãnh đạo, đảng CS đã làm gì với đất nước này?
Thay vì phát huy sự nhân văn tốt đẹp, phát triển đất nước, họ đã bán dần bán mòn tài nguyên, vay nợ Quốc tế ngập đầu để vơ vét, bỏ túi riêng. Biết bao nhiêu thảm họa đã nối tiếp nhau trên mảnh đất quê nhà; đẩy biết bao gia đình vào cảnh ly tán tha hương?
Cộng sản là cộng vào chia ra, là người nghèo có ruộng cày ư?
Khoảng cách giàu nghèo ở Việt Nam ngày hôm nay có một sự cách biệt lớn không tưởng, thậm chí không kém mà hơn các nước Tư bản nữa kìa.
Xã hội vô số những trọc phú huyênh hoang lệch cỡm, những kẻ coi tiền như giấy rác, đốt vào những thú vui bệnh hoạn. Trong khi đó có những đứa trẻ sinh ra đã không được sống như một con người. Còn hàng triệu những mảnh đời thê lương không được đưa lên những mặt báo. Không chỉ có hai đứa trẻ có mẹ ngày chạy Grap, tối đi làm lao công quét dọn, cho đến khi mất cũng không có một ngày an vui để nuôi con ăn học.
Nếu như đa phần những người giàu trong xã hội hôm nay là do tài năng, khả năng và công sức của họ thì không nói làm gì. Vì điều đương nhiên rằng, không thể bắt những người tài giỏi và hy sinh phải sống ngang như như những người bình thường như chủ nghĩa Cộng Sản. Nhưng không phải vậy, thành phần trọc phú của hôm nay xuất hiện nhiều từ việc ăn trên xương máu dân, từ kiểu quan hệ con ông cháu cha, một người làm quan cả họ được nhờ, từ những chính sách tàn phá đất nước. Thật bất nhẫn với những bỏ ra xương máu để mong cầu cuộc sống độc lập an vui, với tất cả những người đã nằm xuống trong cuộc nội chiến tương tàn, với tất cả người dân sinh ra và lớn lên dưới dải đất hình chữ S.
Chủ nghĩa sai lầm, thể chế sai hướng, quản lý, lãnh đạo yếu kém là nguyên nhân đẩy đất nước xuống dốc không phanh, người dân vẫn lầm lũi cơ cực như ngày hôm nay.
Trịnh Kim Tiến

Thursday, April 11, 2019

Tháng 4 đen

30/4/1975
CHUYỆN TRÊN QUỐC LỘ 20

... Anh chàng Chuẩn úy cao hứng nhảy lên cái nóc lô cốt có từ thời tây đứng xoa tay quan sát. Trước mặt Anh là QL20 thênh thang vắng ngắt. Xa xa là các xứ đạo khu Gia Kiệm, bên trái nghĩa địa của giáo xứ Thanh Sơn im lìm, phần lớn người dân đã tản cư về Biên Hòa.

Sáng nay theo lệnh của Hằng Minh (danh hiệu truyền tin của Thiếu tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh SĐ18BB), Tiểu đoàn đã lui về sau xa khu dân cư vì Ông Tướng không muốn người dân phải hứng chịu những trận pháo kích điên cuồng của đối phương.

Vì thế, bây giờ Trung đội của Anh với 16 tay súng là cái chốt chặn đầu tiên trên Quốc lộ này. Anh chàng tắc lưỡi nghĩ thầm ... 15 thằng ... cũng được rồi !

Anh hiểu rằng chỉ vài giờ nữa, địch sẽ tung ra hàng Tiểu đoàn thậm chí hàng Trung đoàn có cả xe tank yểm trợ để đè bẹp các anh, những người lính bộ binh của Trung đoàn 52/SĐ18BB này.

Tiếng súng, tiếng pháo, tiếng máy bay gầm rú từ mặt trận phía đông dội về. Mặc mẹ nó, muốn vượt qua đây, xe tank nó phải cán qua xác anh và lính của anh cái đã. Mà đâu có dễ ăn như vậy !

Có tiếng gọi Anh :
- Chuẩn úy nhìn kìa.

Anh chàng Trung đội trưởng tuột xuống nhìn sang bên phải. Từ trong lô cao su, một toán chừng 5,6 người bước ra. Họ mặc đồng phuc NDTV (Nhân Dân Tự Vệ), trên người lỉnh kỉnh nào là M16 nào là M72, họ đi thành hàng một, đều đặn và nghiêm chỉnh.
Người đi đầu trạc 50 ngoài đi thẳng tới chổ anh, giơ tay chào và dõng dạc:

- Chúng tôi là NDTV ấp BĐ, gia đình bọn tôi tản cư rồi, chúng tôi ra đây phụ với các anh.

Viên Chuẩn úy trố mắt nhìn họ, họ già có trẻ có, họ có vẻ hào hứng lắm khi tham gia một trận đánh chính quy này.

Anh chàng Sĩ quan trẻ vồn vã :
- Con cám ơn bác, nhưng thôi bác dẩn anh em về nghỉ đi, chỗ này nguy hiểm lắm. Hơn nữa đây là việc của tụi con.

Lần đầu tiên, Anh nhìn thấy môt cơn giận dữ. Ông cụ sấn tới, mặt mày đỏ ké nói như quát vào mặt anh :

- Chuyện của anh à, thế cái đất nước này là của bố anh để lại cho riêng anh chắc ! Mặc xác anh.

Ông quay sang những người NDTV :
- Theo tao !

Họ băng qua đường, chiếm một vị trí cạnh những gốc cây to.

Viên Chuẩn úy lặng người, 15 người lính cũng lặng người.
Anh đi lai chỗ nhóm NDTV bố trí, người trưởng toán nhìn anh. Đột nhiên, viên Chuẩn úy giơ tay lên và hét to :
- Nghiêm !

Cả Trung đội bật dậy nghiêm như những pho tượng. Viên Chuẩn úy giơ tay chào người trưởng toán, mắt anh sũng nước ... họ ôm chầm lấy nhau ..."

Người chủ quán cà phê, một người lính ĐPQ cụt một chân vì tham gia trận đánh ở Ngã Ba Dầu Giây ngưng kể, anh ngập ngừng.

Tôi hiểu anh không muốn nhắc lại nữa. Anh vừa chỉ về một vạt rừng gần đó và nói :
- Trời mưa chứ không tôi dẫn anh đi thăm họ, tất cả họ đều ở đó ...!!

Tất cả họ đều ở đó ... Tất cả họ đều ở đó ...
Nước mắt tôi bổng ứa ra. Trời vẫn còn mưa .....

Facebook/Võ Ngọc Ẩn,

Xem Thêm :