Sunday, June 30, 2013

Nguyễn-Xuân Nghĩa


Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Bắc Kinh
 
Nguyễn-Xuân Nghĩa

Saturday, June 29, 2013

Lê Như Đức

Người Lính Năm Xưa

Tôi gặp anh là duyên số. Anh gặp tôi là cố tình. Dù duyên phận hay cố ý, tôi vẫn luôn sung sướng khi biết được anh. Cho dù chỉ ở với anh chưa đến hai ngày tôi vẫn nhớ mãi những kỷ niệm thật đậm đà, nhẹ nhàng đến từ anh, từ gia đình anh và cả từ thành phố anh ở, El Paso.
 
Tháng 7 năm 1998, gia đình tôi qua California làm. Công ty chỉ cho gia đình tôi bốn người mướn một cái xe. Khi tôi lái xe đi làm, vợ con tôi bị treo giò, nằm ở nhà ngóng. Nhiều khi cần đi chợ hay đi học, vợ tôi lại phải chở tôi tới sở sáng sớm. Nhìn hai cô con gái còn ngái ngủ phải thức dậy sớm, tôi chịu hết nổi. Một buổi chiều thứ năm, nhân nghỉ lễ cuối năm, tôi phóng ra phi trường, lấy vé bay về Houston rồi một mình lái xe qua lại California.
 
Đường từ Houston qua tới Huntington Beach dài khoảng 1550 dặm Anh. Tôi tính lái đi tổng cộng hai ngày, rời Houston từ sáng sớm hôm thứ sáu và sẽ tới California vào chiều thứ bẩy. Theo lịch trình thì ngày đầu tiên tôi sẽ lái một nửa, khoảng hơn 750 dặm tới thành phố nằm tận cùng của tiểu bang Texas, El Paso. Tôi sẽ tìm một quán ăn Việt nam, dùng bữa cơm chiều thật xôm tụ để lấy sức rồi kiếm một khách sạn nghỉ qua đêm. Sáng hôm sau thức dậy lúc mặt trời chưa mọc, vừa phóng xe đi vừa ăn sáng thì có lẽ sẽ tới California trước bữa cơm chiều.

Có lẽ đối với dân Mỹ thì bữa cơm chiều là quan trọng nhất. Thường thì người Mỹ ăn trưa trong sở làm. Một miếng bánh mì sandwich kẹp vài ba miếng thịt nguội, một trái táo và lon nước ngọt. Có người bỏ luôn bữa trưa, chỉ ăn bữa sáng thật nhiều rồi nhịn cho tới bữa ăn chiều.

Với dân Việt nam thì ba bữa sáng, trưa, chiều đều quan trọng như nhau. Ngày còn nhỏ, tôi nhớ sáng sáng thường làm một bụng đầy trước khi đi học. Lúc thì cơm tấm, khi lại bánh xèo, nào bánh tầm bì, nào bánh cuốn rồi bánh mì thịt nguội. Trưa đi học về, cả nhà quay quần chung quanh bàn ăn với đầy đủ các món trước khi làm một giấc ngủ trưa dài. Chiều, trời chưa tối gia đình chúng tôi lại quay quần chung quanh bàn ăn một lần nữa. Thỉnh thoảng ngủ trưa dậy tôi lại ra đầu xóm làm một tô bánh canh giò heo nóng hổi. Tối khuya, có lúc bố tôi kêu đói, anh em chúng tôi lại lục đục lên xe đi tới quán mì. Không mì xào cây dừa thì cũng mì xào cây me. Cây nào anh em chúng tôi cũng xơi. Tính tới tính lui, tôi nhớ có ngày ăn đến năm lần. Anh em chúng tôi vẫn không mập.

Qua đến Mỹ, ngày ngày phải đi làm tám tiếng, nên buổi trưa đối với tôi giấc ngủ quan trọng hơn miếng ăn. Do vậy bữa ăn chiều phải thật thịnh soạn, phải đầy đủ chất bổ dưỡng. Với bữa sáng, nhiều khi ly cà phê cần thiết hơn miếng bánh mì. Tuy nhiên phải có một chút xíu vô bụng thì mồm miệng mới thơm tho, ăn nói mới thông. Ngày còn nhỏ, bố tôi thường dậy anh em chúng tôi sáng phải có chút gì vô bụng để bịt cái hơi hôi, thông từ ruột đi lên. Cho dù mình có đánh răng, nạo lưỡi hay xúc nước thơm cách mấy, không có chút gì vô bụng, mở miệng nói vẫn nặng mùi. Mùi hôi xông từ bao tử, từ ruột non, ruột già đi lên không thuốc thơm nào trị được. Chỉ cần một miếng bánh donut nho nhỏ hay nửa củ khoai lang đóng cái cửa thông hơi, hơi miệng bảo đảm sẽ không bay mùi. Cà phê chỉ để tỉnh ngủ chứ không chữa được hết mùi. Do đó tôi thường chỉ ăn một chút xíu vào buổi sáng sớm để ăn nói cho ngọt ngào chứ chẳng phải cho no. Bữa ăn trưa thường lè phè, có ít ăn ít, có nhiều ăn cũng ít để lẹ cho giấc ngủ trưa. Tất cả tôi đều tập trung vào bữa ăn chiều. Tôi phải tới El Paso và California trước bẩy giờ tối để sửa soạn cho bữa cơm chiều.

Tôi tới El Paso sớm hơn dự tính, trước sáu giờ chiều. Kiếm được một khách sạn thuận tiện nằm cạnh quốc lộ số 10. Quốc lộ số 10 có lẽ tất cả dân của mọi tiểu bang phía nam nước Mỹ ít nhiều cũng phải một lần đi qua. Nó chạy từ tiểu bang Florida qua tới California. Nối Thái Bình Dương với Đại Tây Dương. Cái khách sạn be bé xinh xinh, chỉ có khoảng năm chục phòng là cùng. Tôi thích chọn khách sạn nhỏ với một tầng trệt để đậu xe ngay trước cửa phòng, khỏi mất công khiêng đồ lên xuống. Đi với vợ con thì tôi phải chọn khách sạn lớn, đầy đủ tiện nghi vì con tôi thích cầu thang máy và vì vợ tôi sợ không được an toàn.

Vừa lấy được phòng ngủ là tôi vội tìm cuốn sách niêm giám điện thoại. Hầu như ngày nay bất cứ cuốn sách niêm giám điện thoại của mọi thành phố trên đất Mỹ đều có họ Nguyễn và bất cứ người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản cũng đều có họ hàng sống ở Cali. Lựa một tên thật bình thường tôi bấm số hỏi địa chỉ nhà hàng Việt Nam. Đầu dây bên kia, giọng người đàn bà trả lời ngắn một tiếng Hello. Tôi lên tiếng :
- Xin lỗi có phải nhà Việt Nam không ạ "
Người đàn bà ngập ngừng giây lát rồi bập bẹ trả lời tôi:
- Ông ..đợi ..chút ..chút.


Khoảng hai phút sau, giọng người đàn ông vang trong điện thoại:
- A-lô, ai đó "
Tôi lập lại câu hỏi cũ :
- Xin lỗi có phải nhà Việt Nam không ạ "
- Đúng vậy. Anh tìm ai "
Tôi vội giải thích:
- Thưa anh, em lái xe từ Houston qua Cali, giữa đường ngừng nghỉ ở El Paso tối nay. Em muốn tìm một quán ăn Việt Nam. Em coi trong cuốn điện thoại thấy tên anh nên gọi hỏi đường. Anh có thể chỉ giúp em quán ăn Việt ở vùng này "
Người đàn ông cười trả lời:
- Vùng này có vài quán nhưng họ lại nấu lai theo kiểu Mễ để câu khách Mỹ, khách Mễ. Chú ăn không được như ở Houston hay Cali đâu. Có một tiệm tạm tạm được nhưng đường đi lại hơi khó, tiệm lại không có bảng hiệu rõ ràng. Chú hiện giờ đang ở đâu"
Tôi nói tên khách sạn của tôi đang mướn. Người đàn ông tiếp:
- Anh biết chỗ chú ở rồi. Cũng gần nhà anh thôi. Chú đợi khoảng mười lăm phút anh tới dẫn chú đi.
Tôi chưa kịp trả lời chỉ nhờ anh chỉ đường để khỏi làm phiền thì anh đã nhanh cúp điện thoại. Nằm dài trên cái giường to nhìn lên trần nhà, tôi nghĩ vớ vẩn đến người đàn ông kỳ lạ này. Mình chỉ hỏi đường, anh đòi tới dẫn mình đi. Chưa kịp nói số phòng, anh đã cúp phôn. Hình như anh đã biết tôi là ai và sẽ phải làm gì. Tôi bước vào phòng tắm xả nước nằm ngâm mình cho bớt cơn mệt nhọc sau hơn mười tiếng đồng hồ lái xe mà lòng vẫn băn khoăn nghĩ tới người đàn ông lạ kỳ này.

Chưa đầy mười lăm phút, điện thoại phòng tôi reo vang. Tôi nghe giọng anh vang rền trong máy:
- Chú ra văn phòng chính của Hotel. Anh đang đợi chú ở ngoài này đây.
Vẫn vội vã như lúc trước, tôi chưa kịp trả lời, anh đã cúp điện thoại. Tôi khóa trái cửa phòng, lững thững đi ra văn phòng của khách sạn tôi đang mướn. Ngay chỗ quầy làm giấy tờ cho mướn phòng, một người đàn ông Việt Nam tuổi dễ qúa năm mươi, người to lớn, đang đứng phân trần với nhân viên của khách sạn. Tôi bước lại gần thấy họ nói với nhau bằng tiếng ...Mễ. Người đàn ông Việt Nam bỗng nhiên ngưng nói, quay qua nhìn tôi như ra lệnh:
- Chú đưa credit card cho nó đi. Nó bằng lòng hoàn lại tiền phòng cho chú rồi. Nhà anh dư phòng, chú tới ở đêm nay, đỡ được hơn sáu chục bạc.
Tôi ú ớ chưa biết trả lời ra sao, thì anh lại tiếp:
- Chú mới mướn phòng chưa được nửa tiếng đồng hồ nên có quyền lấy lại hết tiền.
Anh nhìn cái đầu ướt của tôi rồi cười hì hì:
- Theo luật thì chú không được tắm đâu. Nhưng anh nói với tên ngố này chú chưa đụng gì đến đồ trong phòng. Ngay cả cái thùng rác. Lẹ lẹ lên không nó đổi ý, lại mất công giải thích. Mình phải đánh thật mau, rút thật lẹ mới được.
Tôi ngập ngừng:
- Anh đừng lo. Tiền khách sạn, công ty của em sẽ hoàn lại. Ngay cả tiền ăn dọc đường nữa. Em chỉ cần tìm tiệm Việt Nam để ăn tối nay.
Anh lắc đầu, quơ tay liên tục:
- Có trả cũng về nhà anh ở. Vừa rộng rãi, thoải mái, vừa an toàn đóng quân hơn nơi đây nhiều. Chú nghe anh nói, đưa credit card cho nó đi.
Thấy anh hối mấy lần, tôi phải đưa thẻ tín dụng của tôi cho người nhân viên khách sạn. Hình như anh ta cũng không muốn cãi lộn bằng tiếng Mễ với người Việt nữa nên nhận lấy thẻ nhanh nhẹ quẹt vào máy, trả tiền lại cho tôi trong tích tắc. Khi người nhân viên khách sạn đưa tờ biên nhận hoàn lại tiền cho tôi, anh cẩn thận nhắc nhở:
- Chú coi cho kỹ đó. Lộn tới Cali gọi kiện nó không chịu trả đâu. Có lấy lại được thì cũng tốn gần hết tiền cho điện thoại long distance. Đừng để địch nắm đằng chuôi.

Anh theo tôi về lại phòng ngủ để dọn đồ đạc ra xe. Vừa đi anh vừa tự giới thiệu mình:
- Anh ở đây dễ cũng tới hai chục năm hơn. Ngày xưa lúc mới qua cũng trấn ở Cali một thời gian. Rồi không thích ồn ào bay về đây ở ẩn. Án binh bất động.
Tôi cười tiếp lời anh:
- Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ, người khôn người xuống phố Bô-sa.
Anh cười lớn lặp lại câu thơ ... thẩn của tôi rồi bỗng thấp giọng:
- Đây đàn bà Mễ nhiều lắm, lại chịu đàn ông Việt mình nên không phải là nơi vắng vẻ đâu. Chú nhớ đấy, đàn bà Mễ hành quân còn mạnh hơn cả cánh ta ở Cali nhiều.

Tôi khuân đồ ra xe rồi lái theo anh về nhà. Nhà anh cách cái khách sạn tôi mướn chỉ khoảng năm dặm Anh thôi, nhưng trời đã xẩm tối nên anh lái thật chậm sợ tôi theo không kịp. Khi tôi tới được nhà anh thì đường phố đã lên đèn, nhà nhà đều đèn đuốc sáng trưng. Trước cửa nhà, một người đàn bà và hai đứa con trai vội mở cửa ra đứng đón khi nghe tiếng còi xe anh bấm lúc chúng tôi đậu xe vào bãi đậu xe của nhà.
Căn nhà anh vừa vặn, xinh xắn sơn mầu xanh nhạt. Vườn trước rộng mênh mông với bãi cỏ lớn, hợp đúng tiêu chuẩn của tiểu bang Texas. Một cây cổ thụ lâu đời mọc giữa bãi cỏ như che phủ lấy căn nhà. Thân cây cắm hai lá cờ: cờ Việt Nam Cộng Hòa và cờ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Trước cửa vào nhà là một dãy hàng hiên dài với cái ghế xích đu treo lủng lẳng và vài ba cái ghế nhựa mầu xanh lá cây đậm để ngổn ngang gần cửa ra vào.
Anh mở cửa xe bước xuống, hai đứa bé chạc mười tuổi chạy vội ra ôm anh. Chúng nhìn tôi lễ phép khoanh tay chào. Giọng Việt nghe rõ ràng. Người đàn bà đứng yên nơi cửa chào đón. Từ xa tôi cũng đã nhận đoán chị không phải người Việt Nam qua vóc dáng cao lớn của chị. Nếu mang giầy hơi cao gót, tôi chắc chắn chị sẽ cao hơn anh. Mái tóc hơi ngả mầu vàng, chị trông lối bốn mươi hơn.

Thường thường, người đàn bà Mễ không giữ được thân hình thon gọn sau khi lấy chồng sinh con. Có lẽ vì dân Mễ thích ăn đậu, ưa ngồi nhiều nên dễ phì. Người đàn bà Mễ đang đứng trước mặt tôi là một ngoại lệ. Dáng chị cao lớn nhưng không xồ xề, thân người to nhưng không thô, tay chân dài nhưng không thừa thãi. Chị nhìn tôi mỉm cười nhẹ, nói bập bẹ vài ba câu xã giao tiếng Việt:
- Mời anh vô nhà. Mời anh nghỉ. Anh đi xe có mệt không"
Tôi có bạn gốc Mễ, được dạy nói vài câu xã giao vớ vẩn, nên trả lời câu hỏi của chị bằng tiếng Mễ. Anh và chị đều cười to khi thấy tôi pha trò. Hai đứa bé không hiểu mấy nên ngẩn mặt tò te. Có lẽ anh ít bạn tới nhà chơi nên chúng có vẻ không được tự nhiên với tôi nhiều. Riêng anh và chị thì thoải mái hơn. Anh vừa kéo lê cái va-li hành lý của tôi vào nhà vừa chỉ chị và hai đứa con giới thiệu tên:
- Đây là Silvia. Tụi nhỏ tên An và Lộc. Chú đóng quân ở đây rộng rãi không sướng sao. Tội chi ẩn vào cái Hotel đó. Anh nói chú nghe. Nhân tiện chú đi ngang qua đây, ở chơi với anh mấy ngày rồi hãy về Cali.
Tôi cười thoái thác ngay:
- Anh cho em ở một đêm thôi. Mai phải lên đường. Em có nhiều chuyện lắm. Sáng thứ hai đi làm sớm, không ở lâu được đâu. Khi lái xe về lại Houston, có nhiều giờ hơn em sẽ ở lâu hơn.
Anh lắc đầu liên tục:
- Mấy khi có dịp. Chú đừng dùng kế hoãn binh. Mai thứ bẩy chú ở lại đây một ngày. Sáng sớm chủ nhật lái xe đi sớm, tới Cali vào lúc xế chiều. Sáng thứ hai dậy đi làm lại. Anh tính chú thấy sao"
Tôi vẫn lắc đầu từ chối :
- Mệt lắm anh ạ. Em muốn tới sớm, có một ngày nghỉ cho khoẻ.
- Thanh niên như chú thì đánh đấm Việt cộng sao nổi. Tới Cali chỉ cần ngủ một đêm thôi là mai có thể đi làm được rồi. Ngày xưa đi đánh giặc, chúng tôi chỉ ước được vài tiếng nghỉ mà chả có. Nhiều khi thức trắng đêm đến sáng thức tiếp. Ngủ nhiều là có thể ...ngủ luôn.
Thấy anh có lòng, tôi im lặng chấp nhận. Tính tôi dễ dãi. Ngày xưa, lúc mợ tôi còn sống thường nói tôi là con cừu, muốn sao cũng được, không thích làm trái ý ai.

Trong nhà anh đồ đạc bầy đơn sơ, không kiểu cách mấy. Phòng khách nhỏ với bộ nghế xa lông có lẽ trên chục năm hơn đã ngã mầu xanh lá cây đậm thành lạt. Cái vô tuyến truyền hình đặt góc phòng cũng kiểu xa xưa với hai cây ăn-ten cao lêu nghêu để trên nóc. Dàn máy nhạc cũ kỹ để cạnh với cái gía nhỏ đựng dĩa và băng nhạc. Phía trong là nhà bếp bốc khói nghi ngút. Tôi ngửi được mùi bún riêu thoang thoảng cộng lẫn mùi nồng nồng của mắm tôm. Phía trái của phòng khách là phòng ăn với cái bàn gỗ mầu vàng nhạt và sáu cái ghế đặt chung quanh. Hai đứa bé lo phụ mẹ bầy chén đũa lên bàn. Người đàn bà Mễ đương hý hoáy nấu đồ ăn Việt Nam trong bếp. Anh nhìn tôi quảng cáo:

- Hôm nay anh cho chú thưởng thức món bún riêu nổi tiếng của vùng này. Đặc sản thuần túy của dân Việt Nam do đầu bếp... ngoại quốc nấu. Chả có tiệm nào ở đây nấu đồ ăn Việt Nam bằng Silvia đâu. Khỏi phải đi đâu kiếm tiệm chi cho mất công. Nhà này là tiệm ăn số một của vùng El Paso.

Trong cuộc đời, tôi may mắn sống nhiều nơi, đi nhiều chỗ và cũng được ăn nhiều món lạ. Có thể nói tôi rất hài lòng khi có được một cuộc sống đa dạng và trôi nổi. Tôi đã từng sống trong tù vượt biên, lúc lang thang ngủ trên nóc xe lửa cả tháng trời, khi lại nằm trong khách sạn thật sang trọng, mắc tiền tuần lễ hơn. Từng phá rừng Long Khánh, đốn cây trên đảo tỵ nạn Mã Lai, rồi một ngày lại được ngồi họp trong những phòng ốc tối tân nhất của thế giới. Có lúc khổ cực phải bươi khoai mì ăn sống, nhiều khi tôm hùm, đồ biển lại ngập bàn. Đi nhiều, thấy nhiều, nhưng có lẽ hình ảnh người đàn bà Mễ có chồng Việt Nam đứng trong bếp nêm nước mắm vô nồi bún riêu là một thích thú đặc biệt nhất trong cuộc sống lưu vong của tôi. Nó vừa là hình ảnh của một sự buồn bã chia cắt sống lưu lạc nơi xứ người phải lấy vợ ngoại quốc, vừa lại là một sự kết hợp hạnh phúc giữa các sắc dân nơi vùng đất tạm dung. Nó là sự chấp nhận thay đổi với cuộc sống mới nhưng lại không quên được quê hương qua những mùi vị của chai nước mắm, của lọ mắm tôm. Silvia sẽ mãi mãi không nấu bún riêu ngon bằng chị tôi hay vợ tôi nấu. Nhưng chiều hôm đó tôi đã có được một bữa ăn đầy hương vị của đất nước tôi. Tô bún của tôi có cả rau muống chẻ, có tía tô, kinh giới, có hành phi cháy dòn, và có đậu hũ chiên chấm nước mắm nguyên chất hiệu một con cua. Tôi còn nhớ mãi lời anh dặn:
- Nước mắm phải là đúng hiệu một con cua, tuy hơi đắt nhưng ăn mới đúng điệu. Ba con cua rẻ hơn nhưng không đậm đà bằng. Nước mắm mực chỉ dùng để nêm vô nồi nước lèo chứ không thể chấm ăn được. Chú nhớ đấy.

Buổi tối mùa đông trời El paso chuyển lạnh xuống thật mau. Anh và tôi bước ra ngoài hàng hiên trước nhà ngồi ghế xích đu, uống cà phê phin, ngắm trời xứ người. Hai lá cờ, Mỹ và Việt, gió lộng thổi tung bay phần phật trước mặt chúng tôi. Hình như tối nào sau bữa cơm chiều anh cũng đều ra đây ngồi ngắm chúng. Đã hơn hai mươi năm sau ngày nước mất, hình ảnh cuộc chiến vẫn chưa phai nhòa trong anh.
Ngồi càng lâu sương khuya xuống càng đậm, anh càng ít nói. Giọng anh lạc hẳn khi hỏi tôi hay tự hỏi chính mình:
- Tại sao một quân đội hùng mạnh, thiện chiến vào bậc nhất của thế giới lại vất súng đầu hàng một lũ người ngu dốt, "người không ra người, ngợm chả ra ngợm" Không bắn được một viên đạn mà phải bỏ chạy. Cho đến giờ nghĩ lại anh cũng không thể tưởng tượng nổi ngày đó lại đến qúa mau như vậy.
Tôi chưa nghĩ được câu trả lời thì anh lại lẩm bẩm tiếp:
- Nếu nói Mỹ cố tình sắp đặt thì tại sao những tướng lãnh, chỉ huy của mình lại nghe họ bỏ súng đầu hàng. Mình vẫn còn dự trữ đạn dược dùng cả năm trời cũng chưa hết mà.
Đêm càng khuya càng lạnh. Anh vẫn ngồi yên lặng trên cái ghế xích đu, trầm tư nhìn hai lá cờ nghĩ về cuộc chiến năm xưa. Anh đã ngồi như vậy mỗi buổi tối suốt hơn hai mươi năm qua.

Cuộc chiến đã kết thúc, nhưng nó vẫn hằng in đậm trong tâm hồn của kẻ tới chiếm lẫn người ra đi. Ai ai cũng thấy cái thất bại của phe mình, cái gía phải trả cho cuộc tương tàn. Đoàn quân chiến thắng kéo từ rừng rú về thấy được sự phồn thịnh, tự do của những người bỏ cuộc. Kẻ mệnh danh đi giải phóng người trông thật ngu ngơ, tồi tàn hơn người được giải phóng. Người vất súng bỏ chạy uất ức thua vì sự ngu dốt của quân đội Bắc phương, sự lừa bịp của đám lãnh tụ về một chủ nghĩa không tưởng. Cả hai bên, thắng và thua, cũng đều thua đậm trong cuộc chiến.


Người lính bên tôi ngày ngày ngồi ôm đầu trách mình
sao bỏ súng qúa nhanh. Người lính bên kia, xưa lấy thân lấp lỗ châu mai, chống Mỹ cứu quốc nay đứng ngẩn ngơ nhìn các lãnh tụ mà một thời mình sùng bái hèn hạ dâng không đất cho đàn anh kết nghĩa ruột thịt. Thật thương cho sự hy sinh của người thua và tội nghiệp cho sự ngu dốt của kẻ chiến thắng.

Tôi chậm rãi bâng khuâng trả lời câu hỏi của anh:
- Có thể chúng ta thua vì bọn chúng quá... ngu chăng 
 
Sau ngày nước mất, tôi có được nghe một câu chuyện thật khôi hài, đầy mỉa mai về một cán bộ cấp tá vào miền Nam thăm người em trai của mình. Ông mang chức vụ trung tá chỉ huy cả một sư đoàn sao đỏ tới thăm em chỉ là một công chức quèn của chế độ cũ với chiếc túi xách nặng chĩu trên vai. Vì lịch sự, gia đình người em không hỏi gì về cái túi cả. Một tuần sau, chả thấy người anh nhắc gì đến nó, vợ người em thắc mắc nhờ chồng hỏi vì sợ bác có đồ dơ áy náy không dám nhờ giặt dùm. Người anh đỏ mặt ấp úng chối quanh. Người em vội mở túi xách ra thấy toàn giấy báo cũ xếp thật gọn gàng. Người anh đành thú thật:
- Nghe chúng tuyên truyền trong nam Mỹ, Thiệu rất ác, người dân khổ sở thiếu thốn mọi thứ. Ngay cả giấy đi cầu cũng không cho, bắt phải chùi bằng lá chuối nên đít ai cũng lở không ngồi được. Mỗi ngày tôi lấy báo cũ trong sư đoàn tích lại, tính vào đây cho gia đình chú. Vào đến đây thấy nhà cửa của chú tôi mới biết mình cũng bị tên chính ủy sư đoàn lừa luôn.
Một vị sĩ quan mang cấp bậc trung tá mà còn ngây thơ và đần độn đến nỗi bị lừa phỉnh một cách ấu trĩ như vậy thì thử hỏi tại sao không có cả một quân đội chục triệu quân ngu dốt cứ đâm đầu sinh Bắc tử Nam cho vài tên ác độc, bịp bợm ngồi hưởng lộc tại Bắc bộ phủ.

Nghe xong câu chuyện của tôi, anh gật đầu đồng ý:
- Cùng có thể lắm. Chúng ta thua vì chúng qúa ngu. Ngu không tưởng được nên mới nghe lời dụ dỗ thật nhảm nhí như vậy. Càng ngày càng đói nhe răng mà lúc nào cũng mơ sống trong thiên đường cộng sản, đồ ăn vất đầy đường không ai thèm lượm. Thật là ...ngu. Nhưng mà nếu nói mình thua vì chúng qúa ngu thì ai mà tin được.

Buổi sáng tôi thức giấc trễ hơn mọi ngày vì El paso trễ hơn California một múi giờ đồng hồ. Cả gia đình anh thức giấc từ lâu. Họ đã dùng xong bữa ăn sáng và đang ở vườn sau tưới cây, nhặt cỏ. Hơn một phần ba vườn, anh làm nhà kính bao chung quanh để trồng rau miền nhiệt đới. Tôi trông thấy được cả những cọng rau muống thật to và dài. Anh chỉ tôi, hãnh diện khoe:
- Chú thấy đấy. Mùa nào gia đình anh cũng có đầy đủ các loại rau. Chỉ cần chịu khó một tí là tha hồ có rau tươi ăn quanh năm. Còn các bà thì càng dễ hơn. Cứ huấn luyện vài lần thì Mỹ, Mễ gì cũng nấu được bún ốc, quấn được chả giò ngay. Nếu biết cách chỉ huy là xong thôi.
Trưa hôm đó tôi được ăn bánh xèo, quấn rau cải đắng chấm nước mắm pha nhạt. Anh còn bẻ cho tôi vài ba quả ớt tươi trồng trong nhà kính của anh. Buổi chiều xuống chúng tôi lại ra ngồi trước cửa ngắm trời và nghe anh kể chuyện chinh chiến năm xưa. Chúng tôi lại kết thúc câu chuyện bằng câu hỏi của ngày hôm qua:
- "Tại sao một quân đội hùng mạnh, thiện chiến vào bậc nhất của thế giới lại vất súng đầu hàng quá nhanh"

Trước khi đi ngủ anh còn cẩn thận lôi ra cho tôi coi bộ đồ trận anh mặc trong ngày bỏ nước ra đi từ đáy chiếc rương cũ. Nó được xếp thật ngay ngắn với cái mũ bê rê đỏ đặt lên trên. Anh đã sửa soạn để mặc lại nó trong ngày ra đi lần thứ hai: trở về nước hay từ bỏ kiếp làm người. Không một bộ đồ nào khác anh muốn mặc. Một ngày khoác bộ quân phục làm người lính Việt Nam Cộng Hòa, một đời chỉ muốn chết cho tổ quốc, cho quê hương. Tôi sờ nhẹ lên mép của cái áo như thấy được cả một cuộc chiến trôi nhanh qua. Mùi thuốc súng và mùi mồ hôi thoang thoảng đâu đây. Tôi nhìn anh, thương thật nhiều cho người lính của nước tôi năm xưa.

Sáng hôm sau, ngày chủ nhật, tôi dậy sớm để sửa soạn cho nửa cuộc hành trình còn lại. Gia đình anh cũng vẫn dậy sớm hơn tôi. Anh giúp tôi mang hành lý ra xe. Hai đứa bé ôm chân mẹ đứng trước cửa nhà nhìn ra im lặng. Anh đứng cạnh cửa xe tôi bùi ngùi chúc:
- Chú đi đường bình an.
Tôi gật đầu đáp lại lời anh:
- Anh, chị và hai cháu khoẻ luôn.
Anh nhìn tôi một lúc bỗng dưng mỉm cười hỏi tôi câu cuối:
- Chú còn thắc mắc gì về anh cứ việc hỏi, không đi đường suy nghĩ vớ vẩn dễ đụng xe. Con người của chú mang nhiều tình cảm, hay suy nghĩ.
Tôi ngần ngừ giây lát, không nhìn anh, ấp úng hỏi:
- Một điều em không hiểu. Người như anh, tại sao có người lại ...chê, bỏ ...anh đi.

Anh im lặng nhìn về hướng trước như ôn lại quá khứ rồi chậm rãi trả lời:
- Những ngày mới qua còn thiếu thốn khổ cực. Lại thêm cái buồn mất nước, cái nhục thua trận. Nhiều khi anh nóng nẩy, có lời lẽ không được nhẹ nhàng. Lỗi do anh cả.
Lời anh ngắn, nhưng tôi thấy được cả nôĩ khổ dài bao năm của người lính nước tôi đã trải qua: nước mất đến nhà tan. Tinh thần lẫn thể xác đều tổn thương. Anh trầm tư thêm giây lát rồi bỗng vỗ mạnh vào thành xe tôi nói to:
- Chú đi không trễ. Khi nào muốn trốn đời, về lại El Paso tìm anh.

Tôi từ từ lái xe ra khỏi sân. Ngoái lại nhìn mọi người lần cuối như muốn thu tất cả hình ảnh vào trong lòng. Xe tôi đi xa vẫn thấy anh đứng yên đấy. Nhìn qua cái kính chiếu hậu hông xe, tôi thấy được cả cái ghế xích đu mà chiều chiều anh ngồi vò đầu nhìn hai lá cờ để tìm câu giải đáp về một cuộc chiến đã tham gia. Hai lá cờ vẫn lộng gió tung bay như thách thức câu trả lời. Hai đứa bé vẫn ôm chân mẹ đứng nhìn hiện lờ mờ trên kính sau anh. Tên của chúng gợi tôi nhớ đến hai câu thơ nói về một địa danh đẫm máu và một binh chủng bách thắng mà năm xưa, một lần đã được ghi vào quân sử:

An Lộc địa sử lưu chiến tích,
Biệt Kích Dù vị quốc vong thân.
 
LÊ NHƯ ĐỨC
Houston, July 4 năm 2002

Friday, June 28, 2013

CHÚA NGUYỄN HOÀNG

   
     
 
CHÚA NGUYỄN HOÀNG VÀ ĐẤT PHƯƠNG NAM
 
 
         Năm nay 2013,nhân 400 năm ngày chúa Nguyễn Hoàng tạ thế(1613-2013),toàn thể nhân dân Việt Nam,đặc biệt là con dân tỉnh nhà Quảng Trị,thành kính tưởng niệm công đức Ngài,nhờ Ngài qua công cuộc Nam tiến,mà chúng ta có được một dải giang sơn gấm vóc,lớn gấp đôi so với thời kỳ trước đó,với diện tích gồm 331.210 km2 như hiện nay,cũng như hoàn thiện lãnh thổ và  chủ quyền quốc gia,xứng đáng tầm vóc Việt Nam tại Đông Nam châu Á.(Hình phải trên :Trường cơ lăng,lăng mộ chúa Nguyễn Hoàng)
      
Nước ta,từ khi lập quốc với quốc hiệu Văn Lang cho đến Việt Nam bây giờ,có thể chia làm 3 thời kỳ Nam tiến,diễn tiến qua các thời kỳ,trong đó thời kỳ do các Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi là thời kỳ cuối,đặc biệt quan trọng . Tổng quan,3 thời kỳ diễn tiến như sau :
 
THỜI KỲ 1. Từ 2700AD đến 938BC

Từ năm 2700AD với quốc hiệu Văn Lang thời đại Hùng Vương đến năm 938 BC với quốc hiệu Nam Việt thời Ngô Quyền lãnh thổ trải dài từ miền Bắc đến Thanh Hóa,đây là thời kỳ cổ đại kéo dài gần 3 ngàn năm,trong đó có 1000 năm Bắc thuộc nên khó chính xác biết được sự hình thành lãnh thổ cụ thể(Bản đồ của zum.de).
 
THỜI KỲ 2. Từ năm 938 đến năm 1471
 
Từ năm 938,sau khi Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán,lập nên nước Nam Việt độc lập và tự chủ cho đến năm 1471,đời vua Lê Thánh Tông,là giai đoạn  lãnh thổ mở mang thêm vào tới tỉnh Bình Định,diễn tiến kéo dài 483 năm.Tóm tắt thời kỳ này,như sau:
 
- Đời Lý, năm 1069.vua Lý Thánh Tông trong kế hoạch phá Tống bình Chiêm  đã thân chinh đi đánh Chiêm Thành,bắt được vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ dâng 3 châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh để chuộc mạng nên được tha về,châu Ma Linh về phía Nam là phần bắc tỉnh Quảng Trị bây giờ.
 
- Tiếp đến đời Trần, năm 1306 vua Trần Nhân Tông gả con gái là Huyền Trân công chúa cho vua Chiêm là Chế Mân,được hoàng tế này dâng 2 châu Ô và Rí làm lễ sính vật,phía Nam châu Rí là đèo Hải Vân.
 
- Năm 1471,vua Lê Thánh Tông đánh chiếm kinh đô Chà Bàn,vua Chiêm là Trà Toàn bị bắt, vua cho lập bản đồ Đại Việt,từ đó có 13 thừa tuyên, đơn vị hành chánh nước ta thời đó ở cực Nam là thừa tuyên Quảng Nam(gồm Quảng Nam, Quảng Ngãi,Bình Định ngày nay).
 
THỜI KỲ 3. Từ năm 1558 đến năm 1802
 
Năm 1558,Nguyễn Hoàng vào nhậm chức Trấn thủ xứ Thuận Hóa,đặt thủ phủ tại Ái Tử. Sử Việt đoạn này chép như sau:
 
Nguyễn Kim (1468-1545)năm 1529 chống nhà Mạc cướp ngôi vua Lê,tìm con cháu nhà Lê tôn lên ngôi,sử Việt gọi giai đoạn này là đời Lê trung hưng,Nguyễn Kim bị hàng tướng nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu độc chết năm 1545,con trưởng là Nguyễn Uông bị Trịnh Kiểm ám hại,con thứ là Nguyễn Hoàng nhờ chị cả là  Nguyễn Thị Ngọc Bảo nói với anh rể là Trịnh Kiểm cho vào Nam. Trịnh Kiểm đồng ý vì cho rằng vùng đất ấy xa xôi,có thể bị nhà Mạc hoặc quân nước Chiêm Thành thanh toán. Nguyễn Hoàng cho người hỏi ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được trả lời : Hoành sơn nhất đái.Vạn đại dung thân . Hoành sơn là dãy núi chạy dài khoảng 50 km thuộc Trường Sơn (nam Hà Tỉnh và bắc Quảng Bình),nối tiếp dải Trường Sơn dài 1100 km,từ tỉnh Nghệ An chạy dài vào Nam,tới Tây Ninh.
 
Khi Nguyễn Hoàng vào Ái Tử năm 1558,trấn thủ đất Thuận Hóa,đời Lê Anh Tông,lãnh thổ nước ta lúc này đã đến tỉnh Bình Định. Năm 1611 do quân Chiêm khuấy rối phía Nam,Nguyễn Hoàng cho quân đi đánh Chiêm Thành lấy đất,lập phủ Phú Yên,chia thành 2 huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa.
 
Chúa Nguyễn Hoàng (1525-1613),người mà nhân gian  yêu mến thường gọi là chúa Tiên,trước khi mất ,ngày 3/6 năm Quý Sửu (1613)tại  Ái Tử,tỉnh Quảng Tri,đã trối trăn lại với người con trai thứ 6 kế vị là chúa Nguyễn Phúc Nguyên(chúa Sãi) rằng:
 
Nếu Bắc tiến được thì tốt nhất, bằng không giữ vững đất Thuận Quảng và mở mang bờ cõi về phía nam.
 
     -Bắc tiến ,để giải quyết tranh chấp quyền hành cát cứ của Mạc,Lê-Trịnh,thu non sông về một mối bởi nhà Nguyễn.Lời dặn dò này phải đợi đến 190 năm (1613-1802)sau mới thực hiện được bởi hậu duệ đời thứ 10 là Nguyễn Phúc Ánh, tức  vua Gia Long,năm 1802.
 
   -Mở mang bờ cõi về phía Nam,giữ vững đất Thuận-Quảng và mở mang lãnh thổ bằng lấn đất,di dân các tỉnh đằng ngoài vào, bắt đầu từ Bình Định,đó là những vùng đồng bằng và duyên hải,thuộc đất Chiêm Thành(Champa) và Chân Lạp(còn gọi là Phù Nam(Funan empire).Theo thứ tự thời gian,con cháu chúa Tiên,gồm 7 chúa tiếp tục(không kể chúa sau cùng là Nguyễn Phúc Thuần,vì mất sớm) đã tiến hành bằng hình thức chính trị,ngoại giao đặc biệt song hành  thay vì quân sự,bởi lẽ sử sách không ghi lại các trận đánh nào đáng kể,đối với 2 lãnh thổ quốc gia lân cận .Diễn tiến tóm lược như sau:
 
Đối với Chiêm Thành
 
-Năm 1631,chúa Nguyễn Phúc Nguyên gả con gái là công chúa Ngọc Hoa cho vua Chiêm là Po Rome,cùng kế sách dành dân lấn đất.
-Năm 1653  đời chúa Nguyễn Phúc Tần tiếp tục đánh và  chiếm thêm đất,lập phủ Diên Khánh
-Năm 1693 chúa Nguyễn Phúc Chu thu phục phần đất cuối của Chiêm Thành là Bình Thuận.
Vậy là Chiêm Thành lập quốc năm 192 AD với quốc hiệu Lâm Ấp,đến thế kỷ thứ 9 đổi thành Chiêm Thành bị tiêu vong với đời vua cuối cùng là Po Chong Chan(1799-1822).
 
Đối với Chân Lạp
 
Trên bước đường Nam tiến, khi vương quốc Chiêm Thành vẫn còn ngự  trị phần đất còn lại từ Khánh Hòa đến Bình Thuận, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên(1563-1635) vị Chúa thứ 2 của dòng họ Nguyễn này,đã tính kế sâu và xa hơn nữa là phải nhảy vọt,đột nhập sâu và xa hơn vào phần đất dưới của quốc gia thứ 2 là Chân Lạp,bằng chính sách ngoại giao gia đình, ngay từ năm 1620 đã gả con gái là công chúa Ngọc Vạn cho Chey Chetta  làm hoàng hậu,viện trợ vũ khí và binh sĩ cho hoàng tế này chống lại quân Xiêm(Siam) rồi dần hồi thu phục gọn gần một nửa phần đất dưới của Phù Nam(Kampuchia hiện nay) mà sử Việt  gọi là Thủy Chân Lạp. Lịch sử thu phục diễn tiến như sau:
 
-Năm 1708  chúa Nguyễn Phúc Chu thu phục đất Hà Tiên,Rạch Giá,Phú Quốc .
-Năm 1732 Chúa Nguyễn Phúc Chú thu phục đất Vĩnh Long,Bến Tre,thiết lập đơn vị hành chánh mới,gìn giữ và mở mang vùng đồng bằng sông Cửu long hiện nay.
-Năm 1755 chúa Nguyễn Phúc Khoát thu phục đất vùng Tân an và Gò công
-Năm 1757  thu phục Châu đốc,Sa đéc.
 
Không những Nam tiến thu phục đất đai, mở rộng lãnh thổ phía nam bao gồm cả các hải đảo ven bờ và quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa trên Biển Đông về mặt địa lý,các Chúa Nguyễn còn chú trọng đến mặt xã hội,văn hóa,ngôn ngữ,nông nghiệp,hành chánh…mà lịch sử đã ghi lại dấu son đậm nét,là chính trong thời kỳ này như,chữ Quốc Ngữ được hình thành bởi các giáo sĩ Bồ đào Nha(1615),đặt đồng hồ,chế tạo theo kiểu Tây phương tại các dinh trấn,cải đổi y phục,đậu Hòa Lan theo chân thương gia Hòa Lan, và khoai lang Phi Luật Tân được đem vào trồng,thiết lập chế độ ngoại thương với các nước Bồ đào nha,Tây Ba Nha,Hòa Lan ,công ty Đông Ấn vào buôn bán tại nước ta,lập cảng Hội An…Cũng nên biết thêm rằng,dân số miền Bắc dưới thời các chúa Trịnh có khoảng 3 triệu người,trong khi chúa Nguyễn tại phương Nam chỉ khoảng 1 triệu.
 
Lời trăn trối Nam tiến và Bắc tiến của chúa Nguyễn Hoàng năm 1613,với kết quả là :
 
- Chỉ trong vòng 144 năm(1613-1757),các hậu duệ đã theo lời dặn trước khi mất của Chúa Tiên,đã Nam tiến và thu phục hết cả nước Chiêm Thành và gần một nửa nước Chân Lạp.Song song với việc Nam tiến,dọc theo đồng bằng và duyên hải,lần lượt từng giai đoạn,mở rộng lên vùng rừng núi thuộc dãi Trường Sơn,nay là vùng Cao nguyên,tính từ tỉnh Kontum hiện nay vào tới phần đất phía Tây tỉnh Tây Ninh .
 
- Cũng trong vòng 190 năm(1613-1802),hậu duệ đời thứ 10 là chúa Nguyễn Phúc Ánh,thừa hưởng thành quả Nam tiến của các Chúa đời trước,thực hiện công cuộc Bắc tiến,thống nhất sơn hà,với niên hiệu Gia Long năm 1802.
 
Lịch sử Việt Nam trong giai đoạn này rất phức tạp vì :

-Nội loạn,do sự cát cứ,loạn lạc  kéo dài 275 năm từ đời Lê Trung hưng, bắt đầu bởi nhà Mạc(1527-1592),vua Lê – chúa Trịnh(1545-1787),chúa Nguyễn ở phương Nam và sự trỗi dậy ngắn ngủi của nhà Tây sơn(1788-1802),đất nước chìm trong nạn đao binh,chiến tranh Trịnh-Nguyễn kéo dài 45 năm(1627-1672)bất phân thắng bại,mặc dầu quân Trịnh đông hơn gấp rưởi quân Nguyễn,nên sau đó lấy sông Gianh chia cắt đất nước thành Đàng Trong- Đàng Ngoài (Trịnh –Nguyễn phân tranh)hơn 100 năm (1672-1775) .
-Ngoại xâm,quân Nhật đánh phá Cửa Việt(Quảng Trị)năm 1585,quân Ai Lao cướp bóc ở biên thùy năm 1620,Hà Lan giúp chúa Trịnh phương Bắc đánh chúa Nguyễn(1644),năm 1702, quân Anh chiếm đảo Côn Lôn,trấn thủ Trương Phúc Phan tái chiếm(1703) …
        
Cứ như thế thì,ngoại trừ lòng trời ý dân,một vài yếu tố khách quan tác động Nam tiến thành công là giặc Tàu phương Bắc không quấy phá,vì cũng may là Trung Hoa thời Minh mạt ,bị người Mãn Châu thanh toán lập nên nhà Thanh,nước Chiêm Thành quá yếu và vùng thủy Chân lạp xa xôi,thoát ra ngoài sự kiểm soát của vương triều tại Oudong(Phnompenh) ,người Hoa phản Thanh phục Minh chạy qua Việt Nam quy thuận các chúa Nguyễn… Quả thật là,khi nhìn lại lịch sử ông cha,con dân Việt chúng ta không ai không ngưỡng mộ, thán phục và tri ân khi được thừa hưởng giang sơn gấm vóc như  ngày nay.
    
  Tưởng niệm 400 năm húy nhật của Chúa Nguyễn Hoàng,sự nghiệp và công  trạng của Ngài đối với đất phương Nam,với đất nước Việt Nam,không thể không nói đến điều trớ trêu của lịch sử là,kể từ năm 1945 nhà cầm quyền Việt Nam,do  đảng Cọng Sản VN độc tài lãnh đạo, đã áp đặt chủ thuyết Mác Lê,viết lại lịch sử dân tộc Việt qua lăng kính duy vật và để tôn xưng triều đại mới,đã vong ân bội nghĩa,bôi nhọ triều Nguyễn,triều đại đã mở mang bờ cõi rộng thêm gấp đôi so với trước .Không những thế,triều đại mới hay những kẻ kế thừa thường gọi cho khác đi,là thời đại Hồ Chí Minh(thay vì triều đại)chỉ như là ngụy triều theo cách nhìn nhận chính thống của sử quan,là nhà Hồ(Hồ Chí Minh)cướp ngôi nhà Nguyễn(vua Bảo Đại), lại không biết tô bồi vun đắp di sản tiền nhân , mà lại vì quyền lợi đảng trị,đã đem đất đai tổ tiên để lại,cống hiến giặc Tàu ,thật đáng xấu hổcó tội với Tiên tổ và nhân dân vậy.
 
CAO KIM LIÊN
April,2013
 
Đọc thêm:  daihocsuphamsaigon namkyluctinh  -   dactrung -   anviettoancau  husta  – nguyenhonghien -   Chua Nguyen Hoang  -   Trường Cơ lăng  -  ongtoi  -  dulich  -  vinhan  -  phuocyen  -  ducavn  -  funan  -  Champa  -  chvn  -  phong thuy  -  motgoctroi  -  Cohocvietnam

Thursday, June 27, 2013

US vs CHINA

Mỹ bất ngờ lộ
kế hoạch gây chiến với Trung Quốc
 
Theo Lầu Năm Góc, trận chiến Không – Hải là chiến lược phát động một cuộc chiến tranh chủ yếu sử dụng các loại tàu chiến, máy bay chiến đấu và tên lửa nhằm phá hủy toàn bộ hạ tầng quân sự và bao vây phong tỏa làm tê liệt kinh tế Trung Quốc mà không cần xâm lược.

Sau nhiều thập kỷ âm thầm phát triển kinh tế và quân sự, Bắc Kinh đã khá ngạo mạn. Nếu đợi đến khi kinh tế hồi phục, rất có thể Mỹ sẽ chẳng còn lại gì và đành ngậm ngùi nhìn Trung Quốc “điều khiển” mình.
Tờ Báo cáo tình báo hàng ngày (Mỹ) số ra ngày 16/4 vừa qua trích một phần trong tài liệu của Viện chính sách chiến lược Australia (ASPI) cho biết, Mỹ và các nước đồng minh châu Á, đặc biệt là Australia và Nhật Bản đang gấp rút hoàn thiện một bản kế hoạch chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh chống Trung Quốc.
 
Mỹ đã di chuyển hơn 60% lực lượng hải quân của mình về châu Á nhằm chuẩn bị cho trận chiến Không - Hải. (Ảnh minh họa)

Tài liệu của ASPI mang tên Kế hoạch chiến tranh không thể tưởng tượng: Trận chiến Không – Hải và tác động đối với Australia đã được Lầu Năm Góc phát triển từ 3 năm qua và là một thành phần không thể thiếu cho chiến lược “Trở lại châu Á – Thái Bình Dương” của chính quyền Obama nhằm ngăn chặn Trung Quốc trên tất cả các mặt trận ngoại giao, kinh tế, thương mại và quân sự.

Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Mỹ phải tính đến giải pháp sử dụng biện pháp quân sự với Trung Quốc là do nền kinh tế của nước này cùng như kinh tế thế giới ngày càng xấu đi. Việc sử dụng sức mạnh quân sự sẽ thay thế vai trò của kinh tế và ngăn chặn việc Trung Quốc trở thành kẻ chiếm đoạt sức mạnh của Mỹ ở châu Á và trên toàn thế giới. Nhà phân tích Ben Schreer của ASPI cho biết, Lầu Năm Góc đang toan tính một chiến lược quân sự nhằm phát động và đánh thắng trong cuộc chiến tranh lớn chống Trung Quốc.

Theo Lầu Năm Góc, trận chiến Không – Hải là chiến lược phát động một cuộc chiến tranh chủ yếu sử dụng các loại tàu chiến, máy bay chiến đấu và tên lửa nhằm phá hủy toàn bộ hạ tầng quân sự và bao vây phong tỏa làm tê liệt kinh tế Trung Quốc mà không cần xâm lược.

Tài liệu của ASPI mô tả, trận chiến Không – Hải sẽ được bắt đầu bằng việc Mỹ sẽ tìm cách buộc Trung Quốc phải nổ súng tấn công trước và sau đó Mỹ sẽ tiến hành một chiến dịch đáp trả và thực hiện một chiến dịch kế tiếp đó nhằm làm tê liệt các hệ thống chỉ huy và kiểm soát của quân đội Trung Quốc (PLA), sử dụng các loại tên lửa phá hủy các hệ thống vũ khí trên bộ và phong tỏa từ xa các tàu thuyền thương mại của Trung Quốc ở eo biển Malacca cũng như các nơi khác.

Tuy nhiên, nhà phân tích Schreer của ASPI cho rằng chiến dịch làm tê liệt các hệ thống chỉ huy và kiểm soát của PLA có thể dẫn đến nguy cơ Trung Quốc phản ứng quyết liệt, kể cả khả năng sử dụng vũ khí hạt nhân. Nói cách khác, nếu Mỹ phá hủy khả năng theo dõi các tên lửa đang trên đường bay tới mục tiêu, Trung Quốc sẽ cho rằng đây là một cuộc tấn công hạt nhân và có thể trả đũa bằng biện pháp tương tự.
 
Đến nay, các kế hoạch chuẩn bị cho Trận chiến Không – Hải của Lầu Năm Góc không chỉ dừng lại ở trên giấy tờ. Trên khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Mỹ đã âm thầm tổ chức hàng loạt căn cứ quân sự tiền phương để đối phó với các cuộc tấn công tên lửa, bố trí lực lượng dày đặc, di chuyển tới 60% lực lượng Hải quân Mỹ về châu Á và phát triển một thế hệ vũ khí mới nhằm phát động một cuộc chiến tranh trên biển và trên không ở bên ngoài lãnh thổ Trung Quốc.

Trong kế hoạch này, Triều Tiên đang là cái cớ rất hữu ích để Mỹ triển khai thêm lực lượng quân sự. Mỹ cùng với Nhật đang ráo riết xây dựng các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo để sẵn sàng vô hiệu hóa những đòn đánh trả của Trung Quốc trong trường hợp chiến tranh nổ ra. Lầu Năm Góc xác định Nhật Bản và Australia sẽ là trung tâm trong các kế hoạch chiến tranh. Nhật Bản và các căn cứ Mỹ đặt tại Nhật sẽ là “tiền đồn” để bao vây phong tỏa các tàu chiến, tàu ngầm Trung Quốc, đồng thời quân đội Nhật sẽ là lực lượng bổ sung cho quân đội Mỹ. Trong trận chiến Không – Hải, Australia sẽ là một “chốt chặn” vô cùng quan trọng giúp Mỹ bao vây phong tỏa kinh tế Trung Quốc bằng cách cắt đứt sự lưu thông của tàu thuyền Trung Quốc đi qua khu vực Đông Nam Á. Để chuẩn bị cho nhiệm vụ này, hồi cuối năm 2011, Mỹ đã được Australia cho phép triển khai Lực lượng Đặc nhiệm Lính thủy đánh bộ ở căn cứ Darwin và mở cửa các căn cứ khác cho tàu chiến và máy bay Mỹ đồn trú. Mỹ cũng hối thúc Australia phải phát triển các loại tàu ngầm có khả năng hoạt động tầm xa để chống lại Hải quân Trung Quốc. Mặc dù tài liệu của ASPI cũng như Lầu Năm Góc cho rằng chiến lược Không - Hải chỉ nhằm mục đích phòng thủ, nhưng rõ ràng để làm suy yếu ảnh hưởng của Trung Quốc ở châu Á - Thái Bình Dương, chính quyền Obama đang tìm cách thổi bùng những điểm nóng nguy hiểm trong khu vực, kể cả bán đảo Triều Tiên và các điểm nóng khác. Sách Trắng Quốc phòng năm 2009 của Australia đã xác định "có khả năng sẽ cùng Mỹ phát động một cuộc chiến Không - Hải chống Trung Quốc".
 
Nguồn: Infonet  -  calitoday

Wednesday, June 26, 2013

Bùi Viện/Lê Kim

Người Việt đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ

 
Khi Bùi Viện (một vị quan sống dưới triều vua Tự Đức) đặt chân đến Hoa Kỳ để đặt quan hệ ngoại giao vào đầu những năm 1870, lịch sử đã coi ông là người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đất nước châu Mỹ này
 
Khi Bùi Viện (một vị quan sống dưới triều vua Tự Đức) đặt chân đến Hoa Kỳ để đặt quan hệ ngoại giao vào đầu những năm 1870, lịch sử đã coi ông là người Việt Nam đầu tiên đặt chân lên đất nước châu Mỹ này. Nhưng trong cuốn sách "con đường thiên lý" (NXB Văn hóa - Thông tin), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê đã đưa ra những bằng chứng thuyết phục, chứng minh rằng trước Bùi Viện 20 năm, có một người Việt đã thực hiện một chuyến phiêu lưu ở miền Tây hoang dã của Hoa Kỳ như một cao bồi thực thụ.
Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm (người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ).
 
 Từ người Việt đầu tiên đến Hoa Kỳ và nhà báo Việt đầu tiên trên đất Mỹ
 
Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.
 
Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất, từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hòa Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
 
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó ông trở về thành phố Xanh - Phát - Lan - Xích - Cố ( phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
 
Trong cuốn sách La Rueé Vers L'or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Lousiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.
 
Thời đó, "Wild West" (miền Tây hoang dã) là cụm từ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.
 
Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người, nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn, gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp.
 
Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam, nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa, nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.
Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là "Oh! Suzannah" (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.
 
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng. Nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.
 
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
 
Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng, các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
 
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8/11/1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.
 
Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc ông.
 
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.

Người Minh Hương cầm quân chống Pháp
 
Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương. Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.
 
Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: "gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về", Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.
 
Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi làng xóm bắt đầu trù phú thì thực dân Pháp xâm lược nước ta. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi. Năng khiếu ngoại ngữ cũng giúp Lê Kim cảm hóa được một nhóm lính Pháp và dùng chính nhóm lính này tấn công quân Pháp ở Cái Bè, Mỹ Qưới, khiến cho quân giặc điêu đứng.
 
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandìere chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăn trối của ông: "Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần". Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:
 
 "Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế".
 
Như vậy, không chỉ là người đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ, Lê Kim còn là một trong những nhà yêu nước can đảm đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Dù cuộc khởi nghĩa của ông cùng chung số phận với nhiều cuộc khởi nghĩa khác ở Nam Kỳ đều bị thực dân Pháp và triều đình Nguyễn đánh tan, nhưng Lê Kim vẫn được công nhận là một trong những danh nhân lớn ở Đồng Tháp thế kỷ 19
 
(Dựa trên tư liệu của học giả Nguyễn Hiến Lê)