Tuesday, March 29, 2022

 Tháng Tư đen


Tưởng nhớ LÊ VIẾT HỒNG

 

Trong trí nhớ (nhỏ nhoi và tồi tệ của tôi vì ảnh hưởng thuốc mê qua nhiều cuộc phẫu thuật) không biết tôi và Hồng đã trở nên bạn thân từ lúc nào, chỉ biết tôi và Hồng cùng học Tham sự Khóa 3 sau đó cùng về học Đốc sự khóa 17.

Khi học Tham sự Khóa 3, kỷ niệm khó quên của tôi về các bạn: Hồng, Đẩu, Châu… những con sâu đánh bạc trong ký túc xá là cái thẻ lương của tôi được các bạn rất ưu ái, các bạn đã mượn đỡ từ đầu tháng và chỉ trở về với tôi cuối tháng, có thể vì thế mà tình bạn thắm thiết hơn.

Khi về học ĐS 17 tôi và Hồng lại thân nhau hơn, thỉnh thoảng tôi có ra thăm bà cụ mẹ của Hồng, cho đến ngày ra trường Hồng và tôi rủ nhau chọn tỉnh Bình Định. Cùng ra Bình Định – Qui Nhơn có tất cả 7 người khóa 17, gồm có An, Liên, Bạch, Khanh, Hồng, Mười và Thành. Hồng được bổ nhiệm Phó quận Tam Quan (quận xôi đậu), còn tôi đi quận Hoài Ân (quận mất đất bị Cộng sản chiếm, dân di tản tạm cư ở Phú Tài, quận Tuy Phước). Năm 1974, Hồng được chuyển về làm Phó quận An Túc, còn tôi đưa dân đi định cư cũng tại An Túc (mượn đất của An Túc). Sau đó tôi về làm Phó quận Tuy Phước, Hồng vẫn ở An Túc cho tới khi anh vĩnh viễn ra đi.

Hồng được diễn tả là một Phó quận rất vui vẻ, hiền hòa, bặt thiệp dễ dãi và chịu chơi nên rất được dân chúng và quân cán chính quý mến đến nỗi có lần được kể là Việt cộng muốn phục kích giết Hồng nhưng dân chúng đã xin tha “vì nếu giết ông thì đến bao giờ mới có người thay thế để phát tiền cho dân và không biết người đó có dễ dàng, vui vẻ như ông này không”. Do đó Hồng đã thoát chết.

Nhưng số trời đã định, Hồng chết vào tay Việt cộng, gần ngày mất Qui Nhơn (1/4/1975).

Trước ngày đi nhận nhiệm sở tại Bình Định – Qui Nhơn, chúng tôi được anh cả của Hồng (Trung tá Lê Thiện Giáo) nhắn nhủ: “Các em ra đó lấy lại căn nhà 3 tầng ở đường Tăng Bạt Hổ, trước cổng chùa Thầy Năm, ở, giữ nhà cho anh”. Do vậy, Hồng đã đem vợ con ra chung sống với chúng tôi cho tới ngày mất Qui Nhơn.

Trong những ngày khói lửa chiến tranh đó, một sự kiện khá hi hữu, bất thường đã xẩy ra và đưa đến cái chết của Hồng, đó là khoảng ngày 22, 23 tháng 3 năm 1975 quận An Túc bị cộng quân bao vây bắn phá rất nặng nề, dân chúng ùa nhau di tản bằng mọi giá, tình thế rất hỗn loạn, hầu như không còn phương tiện di chuyển, nhưng may thay có một chiếc Shinook cuối cùng đáp xuống, mọi người chen chúc nhau leo lên, Hồng vì quá nhỏ con không leo lên được, trong lúc tuyệt vọng, một thần hộ mệnh của Hồng đã tới đó kịp là Thiếu tá Trương Đình Ty, cựu Quận trưởng Tam Quan, cấp trên cũ của Hồng, ông này rất quý Hồng nên đã đập vỡ cửa kính sau của trực thăng rồi nhét Hồng vào, thế là Hồng thoát về được tới Qui Nhơn an toàn. Nỗi vui mừng chưa trọn thì vài ngày sau anh Trưởng ty công vụ tỉnh đưa xe zíp tới tận nhà Hồng đón Hồng ra trực thăng bay về lại An Túc, anh cho biết đây là lệnh của Phó tỉnh vì Quận trưởng An Túc đã báo cáo Hồng đào ngũ. Anh Trưởng ty còn cẩn thận đưa Hồng tới trực thăng chờ cho khi máy bay cất cánh anh mới trở về và chỉ vài ngày sau quận An Túc bị cộng quân tràn ngập, quận An Túc thất thủ và quân cán chính phải di tản bằng cách băng qua núi để tới quận Bình Khê trên đường về Qui Nhơn (lúc đó Trần Đình Mười, ĐS 17 đang làm phó Quận). Trên đường di tản Hồng bị trật chân không đi được, Thiếu tá Ty đã nhờ một anh lính cõng Hồng ra tới Bình Khê, từ đó Hồng thuê xe Honda chở về Qui Nhơn; nhưng rủi thay trên đường về Qui Nhơn bị VC phục kích, Hồng không dám đi và quay trở lại Bình Khê, gặp Thiếu tá Ty cũng về Qui Nhơn, Hồng báo cho Thiếu Tá Ty biết có VC phục kích phía trước nhưng T.Tá Ty nói ông Phó trở lại đi còn tôi có lính tôi sẽ mở đường máu mà đi và ông ta đã về tới Qui Nhơn an toàn, tôi tới gặp ông ta và được biết tin về Hồng còn ở lại Bình Khê. Sau đó, tôi nghe được là VC đã pháo kích ồ ạt vào đám di tản ở Bình Khê và biến nơi đó thành một mồ chôn tập thể của hàng ngàn quân cán chính VNCH, trong đó có Hồng.

Còn vợ con Hồng tôi nhớ rất rõ vào ngày 28/3 bạn bè ở cơ quan Usaid tỉnh báo cho tôi biết đây là chuyến bay cuối cùng của Usaid có cần gởi ai về Sàigòn thì đi ngay, tôi quyết định đưa vợ con của Hồng về Sàigòn trước, tôi trấn an bà xã Hồng là cứ bình tĩnh về SG trước, tôi hứa ở lại đợi tin Hồng rồi sẽ cùng với Hồng về Sàigòn sau và vợ con Hồng đã về tới Sàigòn bình an hôm đó.

Cùng thời gian đó tôi theo hiệu triệu của TT. Nguyễn Văn Thiệu “bằng mọi giá giữ lại các tỉnh ven biển”,  tôi đã vác ghế bố vào tử thủ ở Văn phòng Hành chánh Tỉnh dù không có một tấc sắt trong tay cho tới ngày chạy khỏi Qui Nhơn (30/3/1975) và ngày 1/4/1975 thì Qui Nhơn bị thất thủ. Trong vài ngày trước khi chạy khỏi Qui Nhơn, dân đã di tản hết, máy bay, xe đò, tàu thuyền không còn phương tiện nào cả, ban đêm chỉ còn chiếc xe zeep của tôi và mấy chú chó chạy rong ngoài đường…

Sau 1975, tôi đã bị đi tù ra Bắc 10 năm, khi được trả về tôi đã đến thăm bà cụ mẹ của Hồng, ở số 13 đường Trần Quốc Toản – Quận 10, hy vọng gặp lại vợ con Hồng, nhưng vợ con Hồng không ở đó, chỉ gặp được bà mẹ của Hồng. Bà cụ nhắn nhủ với tôi trong nước mắt giàn giụa: “Con nhớ tìm giúp và đưa mẹ con nó về cho mẹ, mẹ đã mất con trai bây giờ mất cả cháu”.

Sau này, tôi lại được tin gia đình Hồng cho biết thêm , 2 anh của Hồng sau khi đi tù về, đã ra quận Bình Khê tìm tông tích Hồng và may mắn gặp được đúng người dân địa phương chỉ chỗ Hồng và nhiều đồng đội nữa, đã bị VC đưa ra "tòa án nhân dân lưu động" xử tử, và nhận đúng những di vật của Hồng mang trên người để lại, tại đây.

-----------

Khoảng thời gian từ năm 1986 đến 1995, khi còn ở Saigon, mỗi lần về quê Quảng Trị, tôi đều đi qua làng Hồng, nhớ Bạn và thường lẫm bẫm cầu nguyện cho Hồng đã mất, yên nghĩ miên viễn và cầu xin Thiên chúa xót thương đoái hoài vợ con Hồng bình yên, vượt qua mọi thử thách khi không còn Hồng bên cạnh.

Lê Viết Hồng người làng Trí Bưu, quận Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

 Làng Trí Bưu xưa có tên gọi là Cổ Vưu nằm ngay cạnh tỉnh lỵ, bên bờ sông Thạch Hãn và là làng ân sũng được chọn để phục vụ tin mừng Chúa Ki Tô từ thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đóng tại bản doanh Dinh Cát, nơi mà các giáo sĩ Dòng Tên nổi tiếng sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ(1620) đã đến đây lưu trú một thời gian.

 Đời Tây Sơn, vua Cảnh Thịnh cấm đạo và truy sát gắt gao . Ngày 17‑8-1798, một nhóm giáo dân Trí Bưu và Thạch Hãn chạy vào ẩn trốn tại rú Lá Vằng, cách 5 cây số về phía Tây, nơi họ từng vào đó làm, lấy củi. Ban đêm họ họp nhau đọc kinh, lần hạt dưới gốc cây đa đại thụ và tại đây họ đã nhiều lần được thấy Đức Mẹ hiện ra, mặc áo choàng, tay bồng Chúa Hài Đồng, ban lời an ủi cho những tín hữu bị bách hại, đó là nét độc đáo của vị Nữ Vương Thiên Đàng khi đến trên đất Việt, và giáo dân Cổ Vưu đã có vinh dự hiếm hoi ấy. Về sau, do người Pháp phiên âm không dấu nên vùng Lá Vằng này trở thành địa danh Thánh địa La Vang cho đến nay. Bạn Lê Viết Hồng của chúng ta là con cháu của những vị tiền bối sống sót khi trốn tránh bách hại tại rú Lá Vằng của 225 năm về trước.

 Ngoài bạn Lê Viết Hồng hy sinh tại tỉnh Bình Định, khóa 17 chúng ta có 3 Bạn hy sinh trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, đó là Trịnh Xây Dựng, Trưởng Cơ Sở Dân Vận Chiêu Hồi tỉnh Kiến Hòa, Phó quận Hà Vĩnh Tường tại tỉnh tỉnh Phước Long . Ngậm ngùi tưởng nhớ các Anh sau gần nửa thế kỷ đau thương, mà vẫn tưởng như mới hôm qua của kỳ vọng trong sân Học viện, phục vụ đất nước và dân chúng.

 Ký ức về tên tuổi của những người đã nằm xuống vì lý tưởng tự do, lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm của người chỉ huy trong tháng Tư đen năm 1975 là sự kế thừa của những tấm gương vĩ đại của tiền nhân. Khi bày tỏ lòng tưởng nhớ, biết ơn và khâm phục, chúng ta không bao giờ quên rằng sự cảm kích cao nhất không phải là nói ra những lời mà phải xem đó là những kinh nghịệm sống phải noi theo cùng truyền lại cho thế hệ sau tính quả cảm, lòng bất khuất trước quân thù Cọng sản trong lịch sử đau thương của nước Việt ở hậu bán thế kỷ 20.

 Mong sao chúng ta không bao giờ quên những người đồng đội đã ngã xuống trong tháng Tư đen, trong những giờ phút thiêng liêng và đau buồn nhất của dân tộc, vì miền Nam độc lập và tự do.

Hoàng Trác Thành & Nguyễn Trí

Cali-Boston. Mars.2022.

Friday, March 25, 2022

Thư Gởi Về Em Gái Việt Nam


*

Có lẽ anh không về gặp nữa
Những người năm ấy đã chia tay
Phố phường, thôn xóm, làng quê cũ
Anh kể như chim đã lạc bầy.

Có lẽ anh không về gặp nữa
Họ hàng Nội, Ngoại...những người thân
Ai còn, ai mất dù thương tiếc
Rồi cũng nguôi ngoai, bớt khổ dần.

Có lẽ anh không về gặp nữa
Người em gái nhỏ vẫn chờ mong
Nhạt nhòa ngấn lệ ngày đưa tiễn
Chắc đã phôi pha tuổi má hồng.

Có lẽ anh không về gặp nữa
Những người bất nghĩa, lúc sa cơ
Thói đời ngã ngựa liền quay mặt
Giậu đổ bìm leo, bọn trở cờ.

Nghe nói quê mình giờ đã khác
Kẻ giàu vô cảm sống xa hoa
Bạo quyền cướp của người lương thiện
Oan khuất trùm lên khắp mọi nhà.

Nghe nói quê mình giờ đã khác
Dân nghèo cam chịu cảnh tôi đòi
Trai hiền xuất khẩu làm nô dịch
Gái đẹp rao thân bán nước ngoài.

Nghe nói quê mình giờ đã khác
Biên cương, cột mốc nhổ lui về
Biển Đông, hải đảo vào tay giặc
Một lũ bù nhìn đang ngủ mê.

Nghe nói quê mình giờ đã khác
Những người yêu nước bị giam cầm
Bó tay, trí thức đành im lặng
Vận nước dài theo cảnh tối tăm.

Đâu còn như thuở ngày xưa cũ
Làng xóm yêu thương đậm nghĩa tình
Thân ái trẻ, già vui cuộc sống
Bờ tre chim hót gọi bình minh.

Đâu còn như thuở ngày xưa cũ
Đồng ruộng bao la lúa chín vàng
Em gái qua cầu nghiêng nón lá
Nhịp chày giã gạo rộn thôn trang.

Đâu còn những cảnh ngày xưa cũ
Tà áo tung tăng buổi học về
Mái tóc em thơ đùa nắng ấm
Rộn ràng sách vở mỗi mùa thi.

Bao giờ đất nước bừng tươi sáng
Bóng tối lùi xa gót độc tài
Anh vẫn nguyện cầu Hồn Sông Núi
Quê mình sớm thấy được tương lai.

Để anh trở lại căn nhà cũ
Có bóng hàng cau tắm nắng chiều
Thăm những người xưa còn gặp mặt
Viếng người dưới mộ, thuở thương yêu.

Dương Quân

Fl.Dec.2011 

Thursday, March 24, 2022

 Ngô Thị Hạnh

Video: Lính xa nhà


       Quận Thăng Bình tỉnh Quảng Tín, nay thuộc Quảng Nam, là phủ Thăng Hoa xưa từ đời nhà Hồ. Năm 1402 Hồ Quý Ly cử Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ  lộ Thăng Hoa .

       Quận nằm ngay trên quốc lộ 1, cách Đà Nẳng khoảng 40km. Trước năm 1975, có 20 xã và 120.000 dân. Cùng gia đình chạy giặc từ Quế Sơn về, Ngô Thị Hạnh người con gái ở quận tôi xưa, ở đây.


Và trong cái không gian êm ả đầy tình thân thiện của các cư dân, được sống hạnh phúc trong một thể chế tự do dân chủ ở miền Nam, đã không lường được tới mức nào cái đám mây đen hung dữ từ miền Bắc, xuôi Trường sơn ập giông bão qua ngã Việt Sơn xuống đây.

        Thế hệ sau không biết và hiểu được là đã có một thời mặt trận toàn  quốc sôi động đến quyết chiến. Quân Cộng Sản Bắc Việt nhất quyết đánh chiếm miền Nam tự do, nhuộm đỏ đất nước theo lệnh cộng sản Nga Tàu và đưa con người đến chỗ cùng cực của xã hội chủ nghĩa không tưởng, mà khi dạy con sau này, người mẹ nào cũng cố dấu đi những nổi đau khi nghỉ lại những ngày đó. Đó là những ngày đầu mùa Xuân năm 1975, dẫn đến biến cố 30 tháng 4, để khoảng vài năm sau, do không sống được dưới chế độ độc tài cộng sản, nhiều người đã bỏ nước ra đi tìm tự do bằng vượt biên, vượt biển. Em Hạnh và gia đình em đã đến Úc châu như thế.

        Vào những ngày chinh chiến sau cùng, khoảng sau ngày 15 tháng 3 năm 1975, sau khi VC đã chiếm được quận Tiên Phước gần một tuần trước, tình hình chiến sự căng thẳng và nguy ngập, các cánh đồng tại quận đã ngập lúa vàng, dân chúng đang chờ đợi một vụ mùa bội thu. VC cũng đang rục rịch ở vùng duyên hải.

Ông Thiếu tá Quận trưởng nói tôi dẫn một phái đoàn nhân sĩ và nhân viên xã ấp ra Quế Sơn ủy lạo binh sĩ trung đoàn 3 thuộc sư đoàn 3 quân đoàn I và nhờ hành quân vào quận bảo vệ mùa gặt. Buổi chiều, ngồi tại quán cóc bên vệ đường, thấy dân chúng từ miệt trên đổ xuống lánh nạn cộng sản, trong đó có một em bé, tay ôm một con gà chạy loạn. Đằng xa kia, từ Hương An vào, đoàn quân tăng viện lặng lẽ tiến bước trong buổi chiều tà, đến Hà Lam rồi rẽ xuống miệt Bình Đào. Những hình ảnh xúc động đó như còn dính chặt trong tim cho đến nay. 

Tại thời điểm này, ông Đại tá Tỉnh Trưởng đi quan sát tình hình địa phương, tạt qua quận, gặp ở đầu ngõ, ông bảo: “Sao giờ này còn ở đây? Ông ra ngay Đà Nẳng để lo cứu trợ đồng bào chạy loạn ra ngoài đó. Đây là lệnh khẩn. Thi hành ngay.” Không kịp từ giả ai, tôi buồn rầu ra đi và linh tính biết có điều gì đó, không trở lại và biết trong đám người chạy loạn có em. Những tháng ngày binh lửa mà dấu ấn không bao giờ phai đó tại Đà Nẳng, mọi thứ là một thảm kịch của đất nước. Quốc gia Việt Nam đang gặp thời kỳ mạt vân. Vận nước và cuộc sống người dân chìm ngập tang thương khổ ải từ đây.

          Sông núi, biển cả kia là của cha ông để lại để con cháu cùng nhau tô bồi, mưu cầu hạnh phúc. Hà cớ gì phải tranh giành bắn giết lẫn nhau, gây tội tình cho nhau. 

Ông Nguyễn Văn Cư, một đảng viên Việt quốc và nhân viên tại quận nói: 
“Ông Phó, đừng bỏ chúng tôi. Nếu có chết, chúng tôi lập miếu thờ ông. Ông ở lại cùng chúng tôi.” Ngày 29 tháng 3, chừng 11 giờ trưa chỉ khoảng một trung đội, Việt Cộng vào chiếm Tòa thị chính Đà Nẳng. Chúng vào ngay bằng cổng chính, chia 2 toán nép theo tường, tiến vào. 

rời Tòa thị chính, trên không, rất cao vẫn còn một chiếc trực thăng sơn màu xanh trắng bay, và sau đó bị bắt cùng anh Thiệu, Phó tỉnh và anh Quý, Trưởng ty Nội an vào ban đêm vài hôm sau đó. Lúc này Cộng quân đã tiến đến Phan Rang.

           Nhớ lại, dạo đó em còn nhỏ, như một đóa hoa hồng vừa chớm nở, hồn nhiên và yêu đời. Em khoảng chừng 15, 16 tuổi, đang học lớp 10, buổi chiều em hay mặc bộ đồ đen xây dựng nông thôn và đạp cái xe đạp cũng “xây dựng nông thôn”, em giống tôi. Đồng phục đen và xe do Đài Loan cung cấp cho Việt Nam, chạy loanh quanh trong quận, đôi khi dừng lại ở sân vận động để xem đá banh. Em trông giống con trai. Tháng 9 năm 1975, em bị Cọng sản bắt giam cùng các thanh niên, học sinh Thăng Bình khác tại trung tâm thẩm vấn Đà Nẳng vì tội Phục Quốc.

        Nhiều lần cuối tuần, tôi thường hay về tỉnh lỵ Tam Kỳ, cách xa 25 cây số, chơi. Chiều chủ nhật, mỗi khi ra xe là đã thấy một nhóm thanh niên nam nữ đã ngồi trên xe, chờ quá giang về lại quận, trong số đó thường có em. Tuổi trẻ thật hồn nhiên và thánh thiện. Ba em là đảng viên Quốc dân đảng, sau năm 1975 cũng bị bắt đi tù. Ông có tiệm bán thuốc Tây và thú tiêu khiển là đi săn. Đôi lần ông rủ anh Chỉ huy trưởng cảnh sát quận Nguyễn Phi Hường và tôi tới nhà nhậu. Khi tù về, cả gia đình vượt biển và sống ở Úc châu.

            Gia đình em cũng như  nhiều gia đình miền Nam khác, vốn quen sống trong tự do dân chủ, không chấp nhận chế độ độc tài cọng sản, sau năm 1975 đã phải đành lòng bỏ nước ra đi với hy vọng một ngày không còn cọng sản, sẽ trở về quê hương ngàn đời yêu dấu, dựng lại Cờ Vàng đại nghĩa cùng nhau sống trong tình yêu thương đồng bào ruột thịt, quyết tâm xây dựng lại đất nước Việt Nam tự do, dân chủ, phú cường. Cũng như Em, sau 10 năm trở về, hình ảnh người Mẹ ngồi nhặt sạn trong rổ gạo, nhìn ứa nước mắt rồi tôi cũng phải lạy Mẹ ra đi, cho đến hôm nay…

        Được tin em mất, cuối năm ngồi buồn nhớ đến Em và một thuở Thăng Bình xa xưa, tôi viết vội bài thơ đại ý nói: Xấu hổ khi phải bỏ Thăng Bình ra đi không lời từ biệt ai, nhất là em. Và cho đến nay, chỉ đặt được một bó hoa hồng lên mộ em trong tưởng tượng, cùng cầu mong Em ở nơi thiêng liêng nào đó, chia xẻ cùng tôi về những cư dân thánh thiện của chúng ta, còn mất trong cuộc chiến huynh đệ tương tàn này.

        Hồng nhan bạc mệnh. Em không phải hồng nhan. Em chỉ đẹp và dễ thương. Vậy mà em mất sớm. Em đã mất và nếu thoát khỏi vòng luân hồi thì thôi. Nếu tái sinh thì mong gặp lại.

Trương Thúy Hậu
Boston-Dec.31-2010

Tuesday, March 8, 2022

 LỜI NGƯỜI Ở LẠI

*

Sonia, em hãy bồng con
Theo đoàn người
Vượt qua biên giới Ba Lan
Anh ở lại.

Bầu trời xanh mát Ukraina của chúng ta
Hôm nay không còn mây trắng
Không còn chim bay
Mà chỉ còn lửa khói
Gây nên bởi kẻ mộng cuồng
Anh ở lại.

Những điện đài nguy nga
Ghi dấu lịch sử oai hùng của đất nước chúng ta
Đang bốc cháy.
Những mái ấm gia đình yên vui hạnh phúc
Nay tan tành vì bom đạn
Bởi bàn tay một kẻ độc tài hung bạo
Anh ở lại.

Anh phải ở lại
Vì không thể đứng từ xa
Nhìn quê hương bị dập nát
Dưới gót giày xâm lược
Không thể đứng từ xa
Nhìn dân tộc mình bị câm tiếng.

Anh phải ở lại
Anh phải trở về
Đứng chung hàng ngũ
Những người cầm súng bảo vệ biên cương
Vẹn toàn lãnh thổ.

Sonia ơi, em hãy tin
Nếu có phút giây nào lắng tiếng đạn bom
Anh ôm súng ngồi im
Gởi hồn sang bên kia biên giới
Nhớ tới em, nghĩ đến con
Gợi lòng sống lại những ngày hạnh phúc
Thời gian dưới mái ấm êm đềm
Những tháng năm đất nước thanh bình, tự chủ.

Sonia ơi
Càng nhớ thương em, càng nghĩ đến con
Lòng anh không mềm, không lơi tay súng
Trái lại hồn anh thêm dũng mảnh quyết tâm
Dành lại những gì chúng ta sắp mất.

Em ở bên kia vùng yên lành
Hãy cầu nguyện cho anh
Xin có một ngày hân hoan tái ngộ
Hãy cầu nguyện cho đất nước chúng ta
Sớm đạt hoà bình, vinh quang, chiến thắng.

Nhưng Sonia ơi,
Chiến tranh nào không làm mất mát
Chiến tranh nào không có người đi không về
Nếu lỡ một ngày
Em không thấy anh trở lại
Anh chỉ xin em
Khi con của chúng mình khôn lớn
Em hãy chỉ hình anh
Và nói với nó
Con hãy hãnh diện có một người cha
Đã sống không hèn
Và đã chết không nhục.

TRANG CHÂU
Mars.02.2022
*

WORDS OF THE MAN WHO STAYS (TO FIGHT)

Sonia, please carry our child
and follow the crowd
to cross the Polish border
I will stay.

Today in our Ukrainian blue sky
there are no more white clouds
No more birds flying
But only fires and smokes
Caused by an insane dreamer
I will stay.

The grandiose palaces
symbols of our country’s valiant history
are now ablaze
The peace and happiness of family homes
are now shattered by bombs
by the hands of a cruel dictator
I will stay.

I have to stay
Because I can’t stand from afar
to watch our homeland being crushed
under the heels of invaders
I can’t stand from afar
io watch our nation being silenced.

I have to stay
I have to go back
to join the ranks
of people who with guns protect our borders
to keep our national territory intact.

Sonia, please believe
If there iwere a moment free of sounds of bombs
I will hold my gun and sit still
to send my soul across the border
Thinking of you, thinking of our child
prompting my heart to relive the happy days
of the cozy times under our roof
in the years of our country still sovereign and peaceful .

Dear Sonia
The more I miss you, the more I think of our child
My heart does not soften, my hand does not release the gun
On the contrary, my soul gets stronger and more determined
to get back all what we’re about to lose.
Staying on the other side in a peaceful area
Please pray for me
for our joyful day of reunion
please pray for our country
to soon attain peace, glory and victory.

But, Sonia,
is there a war without losses?
Is there a war in which there are people
going and all of them come back alive?

If there will be a day
you don’t see me coming back
I only have a request
that when our child grows up and matures
Please show him a picture of me
And tell him
to be proud to have a father
who lived without cowardice
and died without shame.

Engish translation By Vuong Dang-Vu


Saturday, January 1, 2022

 NỒI CANH CHUA CỦA MÁ

Ngày xưa nhà tôi nghèo lắm, đến bữa ăn gia đình thường quây quần bên mâm cơm đạm bạc, không có người ăn trước người ăn sau, bởi nếu như vậy thức ăn sẽ không đủ cả cho gia đình mười người con.

Anh em có một thông lệ ngầm là mỗi tháng phải nấu hai lần canh chua, đó là ngày Ba tôi lãnh lương và ngày anh em chúng tôi đề nghị.

Mỗi lần nghe Ba tôi nói với Má: “Bà ơi mai nấu canh chua nghe bà” dường như đêm đó tôi không ngủ được, thử hỏi một thằng con trai còn non và chưa xanh vừa tròn mười lăm tuổi… ngày mai xách giỏ lẽo đẽo đi chợ với Má, thì ôi thôi “còn có danh gì với núi sông“ nữa.

Vào chợ, Má lựa chọn tỉ mỉ, cá phải là cá còn sống, rau phải tươi ngon, trái me không được già hay non quá, khóm mua nguyên trái vừa chín tới, bạc hà mới cắt phải còn mủ, lấy móng tay bấm vào phải xốp…

Việc mua nguyên liệu, Má đã cẩn thận, thì công đoạn nấu nồi canh chua còn công phu hơn nữa, để cạo lớp nhớt trên mình con cá Hú (Ú) phải là nước sôi vừa “reo” sau đó chà xát với muối tránh mùi tanh, cá cắt ra từng khứa bằng nhau để vào rỗ cho ráo nước không được để trên dĩa cá đọng nước sẽ không ngon, trái me cạo sạch và dằm me bên ngoài lấy nước chua tuyệt đối không dằm me trong nồi canh chua, khóm và các rau khác xắt ra đều để thứ tự trong rỗ…

Khi nghe tiếng xe đi làm về của Ba tôi ngoài cửa, Má tôi mới bắt đầu nấu nồi canh chua, Má nói nồi canh chua không được nấu sớm hay trễ quá sẽ mất đi mùi vị của nồi canh chua, giống như trái cây chín tới khi ăn mới cảm nhận được cái ngon của nó.

Tôi không quên được tiếng húp xì sụp, những giọt mồ hôi chảy dài của anh em tôi bên mâm cơm bởi vị ngon của tô canh chua.

”Bà nấu ngon quá“ Ba tôi khen.
Nhìn chồng và các con ăn, tôi thấy gương mặt Má tôi hạnh phúc và mãn nguyện.

Có lần Má tôi hỏi:
“Theo con nguyên liệu nào quan trọng nhất của nồi canh chua?”.
Tôi liền đáp: “Cá, me, bạc hà phải không Má“.
Má từ tốn nói: “Nếu chỉ có cá, me, bạc hà là nguyên liệu chính để quyết định nồi canh chua ngon, theo Má như vậy thì chưa đủ, con thử nghĩ nếu canh chua thiếu chút ớt hay hành, ngò, giá … thì hương vị của canh chua như thế nào?. Tuy những nguyên liệu đó không sánh được với nguyên liệu khác, nhưng nó là yếu tố quan trọng làm kết dính những mùi vị khác để hình thành nồi canh chua ngon.”

Những điều Má tôi nói, giúp tôi hiểu ra được nhiều vấn đề trong đó có việc học của tôi, trong lớp tôi chỉ giỏi toán, lý, hóa, sinh ngữ còn những môn khác tôi không cho là quan trọng.

Từ dạo đó tôi ít đi chơi chăm học hơn những môn kém, đi học về tôi phụ giúp Má nhiều hơn và việc học của tôi tiến bộ.
Tôi nghĩ “Trong cuộc sống có những vật bình thường ở cạnh mình, mình không gìn giữ, trân trọng khi mình cần nó đã thất lạc hay bị mất đi làm mình tiếc nuối khôn nguôi.”

Ba năm sau!

Vào một chiều mưa muộn, Má tôi đã bỏ anh em tôi ra đi mãi mãi!

Tạo hóa rất công bằng và oan nghiệt, tạo hóa ban tặng cho tôi một người Mẹ để tôi sống trong yêu thương, giận hờn, vòi vĩnh và tạo hóa đòi lại người Mẹ của tôi, chưa cho anh em tôi đủ trưởng thành để được báo hiếu.

Từ ngày Má mất, gia đình tôi ít tiếng đùa vui, anh em tự chăm sóc cho nhau, đi học về tôi nấu nướng chính cho gia đình. Riêng ba tôi tóc bạc nhiều, ít nói và trầm mặc.

Có những lần tôi chợt thức giấc nửa đêm thấy Ba ngồi ngoài sân nhìn vào cõi xa xăm, tôi biết Ba tôi đang nhớ Má lắm, Ba thật cô đơn như chết nửa tâm hồn.

Tháng năm dần qua, anh em tôi ra đời làm việc, người thành đạt, người công chức, người giáo viên cuộc sống ổn định.
Riêng tôi, hành trang ra đời là nồi canh chua của Má, cái nồi canh chua dân miền Nam ai cũng nấu được, chỉ khác nhau sự nêm nếm, tùy theo khẩu vị mọi người khi ăn xong chỉ khen ngon hay dở mà thôi.

Nồi canh chua của Má cũng dung dị như bao nồi canh chua khác. Nhưng với tôi nồi canh chua của Má lại có tính triết lý dạy cho tôi biết vận dụng trong cuộc sống và ngộ ra được nhiều điều.

Ở công ty, tôi biết coi trọng chị nấu bếp, anh lái xe, người bảo vệ… Tôi không coi tôi là một khúc cá, me và bạc hà để quyết định nồi canh chua, chính họ - ngò, ớt, hành… là những nguyên liệu quan trọng kết dính để phát triển công ty, và tôi đã thành công. ...

Đỗ Cường

TIỄN BIỆT CAPTAIN ĐỒNG

LÊ VĂN ĐỒNG
(1941-2021)
Cu Hoan-Hải Lăng-Quảng Trị


Trời Boston cuối năm thường lạnh
Tiễn người đi luống những ngậm ngùi
Rũ áo phong sương chờ đãi lệnh
Nghe chừng như quân báo rút lui.
Nhớ xưa bên bờ Nam vỹ tuyến
Giặc tràn về phá nát quê hương
Xếp bút nghiên lên đường cung kiếm
Tóc em bay tiễn biệt vẫy chào.
Đức Huệ bao quanh vùng lửa thép
Gia binh trại nhỏ bóng xiêu xiêu
Vần vũ trực thăng mù bãi đáp
Chiến trường Hậu Nghĩa tải thương về.
Thiếu phụ bồn chồn nom thấp thỏm
Ai còn ai mất, có ai hay
Trẻ thơ còn ngu ngơ vụng dại
Mà ngổn ngang số phận đang bày.
Áo giáp giày sô thời mạt kiếp
Lênh đênh vận nước khó tay chèo
Trăm họ nổi trôi cùng lịch sử
Đất trời hờ hững cũng như không.
Sau 75 nhiều tai ương hoạn nạn
Đi tù Vĩnh Phú đẵn tre ngàn
Về Gia Trung đói meo đạp gạch
Hơn 10 năm gian khổ nhọc nhằn.
Tưởng rồi chẳng còn chi để nói
Lại con chim ăn khế trả vàng
Nước Mỹ vòng tay, dang ra đón
Bao dung tình nhân ái, hân hoan.
Lính bộ binh mà như thiết giáp
Lái xe khệnh khạng nổi da gà
Không thuốc không trà không bia rượu
Thời gian mòn mỏi chiến binh già.
Boston từ nửa vòng trái đất
Quay về Quảng Trị khóc oa oa
Đất ấm chôn nhau thời cắt rốn
Cát bụi chân trần gót mẹ cha.
Đưa tiễn người đi lòng quặn thắt
Lửa tàn tro dập áo chiến binh
Chiến tích không mang vòng nguyêt quế
Đời như ảo ảnh bóng và hình.
Tình vốn mãi thương nòi đồng điệu
Lính yêu thơ con cóc kêu trời
Hú vía thuyền quyên trăm tiếng gọi
Thủy chung đằm thắm tạ ơn đời.
Góa phụ điếc tai lời tán tỉnh
Thôi rồi đành đoạn đức lang quân
Nước mắt tiếc thương người quá vãng
Lùi về quá khứ bóng tình nhân.
Sấm Sét Miền Đông hô Thẳng Tiến
Xung phong chỏng gọng kiếng Ray ban
Mặt trận miền Tây vẫn yên tỉnh
A lô ! Sư đoàn 25 gọi Niết Bàn .

Trương Thúy Hậu
Boston, 2.2.2022

Friday, December 24, 2021

 ĐÊM GIÁNG SINH TRONG THẾ CHIẾN THỨ II.

3 lính Mỹ bất ngờ chạm trán 4 binh sĩ Đức giữa những ngày đối đầu ác liệt nhất trong thế chiến II. Không ai dám nghĩ đến một kết cục tốt đẹp trong bối cảnh đó…

Câu chuyện diễn ra vào một đêm giáng sinh năm 1944. Vào thời điểm đó, tình hình chiến sự ở châu Âu đã đảo chiều. Quân đội Đức ngày càng rơi vào trạng thái bất lợi, quân đồng minh đổ bộ vào đất liền qua Normandie, tiến hành phản công.
Tuy nhiên, Hitler không cam tâm. Vào ngày 16/12 – 8 ngày trước lễ giáng sinh năm đó, ông ta đã mệnh lệnh cho quân Đức đóng tại khu vực Ardennes của Bỉ phát động một chiến dịch, bất ngờ tấn công quân đồng minh, cắt đứt mạch cung ứng của đối thủ, ép quân đồng minh phải giảng hòa.

Đây là chiến dịch đẫm máu nhất trong thế chiến II. Cả chiến dịch kéo dài hơn 1 tháng với số lượng người thương vong quá lớn, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên.
…
Tại một nơi sâu hun hút trong khu rừng Hürtgen, một phụ nữ Đức tên Elisabeth Vincken dẫn theo cậu con trai 12 tuổi Frisbey lánh đến đây dựng một căn nhà gỗ ở tạm, bởi tiệm bánh của họ trong thành phố đã bị những trận oanh tạc trên không của quân đồng minh phá hủy tan tành.

Đêm giáng sinh, hai mẹ con Frisbey rất mong chồng và cha của họ đang làm việc trên thị trấn về nhà đoàn tụ, cùng đón Chúa sinh ra đời. Thế nhưng hôm đó tuyết rơi nhiều bao trùm cả ngọn núi nên có thể bố của Frisbey khó trở về nhà.

Đột nhiên, tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Cậu bé Frisbey ngỡ rằng cha về, vội chạy ra mở cửa song mẹ cậu đã nhanh hơn. Elisabeth vừa hé cửa thì thấy có 2 binh sĩ đội mũ cối sắt đứng ngoài, còn 1 người khác đang nằm trên tuyết nhìn như đã chết.

Elisabeth ý thức ngay được rằng đó là lính Mỹ – đối thủ không đội trời chung của quân Đức thời điểm đó.
Họ thuộc sư đoàn 8 binh đoàn bộ binh 121, bị lạc mất đội và loanh quanh trong rừng sâu suốt 3 ngày, vừa phải tìm cách tránh quân Đức, vừa phải tìm lối thoát. Vừa đói vừa rét, người họ thâm tím, trong đó 1 người bị trúng đạn ở chân, mất rất nhiều máu, có thể sống được hay không chẳng ai có thể nói được vào lúc đó.

Mặc dù có súng trong tay song họ vẫn gõ cửa nhà Elisabeth một cách lịch sự.
Người mẹ dù không hiểu họ nói gì những cô hiểu ý của những binh sĩ Mỹ. Trầm ngâm một lúc, cô mời họ vào nhà và đưa người bị thương lên giường của Frisbey nghỉ ngơi, giúp anh ta làm ấm tay, đồng thời sai con đi bắt gà, lấy thêm vài củ khoai tây để làm cơm giáng sinh.

Không lâu sau, mùi gà nướng thơm phức đã bay ngào ngạt khắp nhà. Cùng lúc đó, Elisabeth nhận ra cô có thể nói chuyện với một lính mỹ bằng tiếng Pháp, không khí căng thẳng trong nhà lập tức giảm đi rất nhiều.

Một lúc sau, lại có tiếng gõ cửa dồn dập vang lên. Frisbey chạy ra mở cửa. Thấy 4 lính Đức đứng ngay trước cửa, cậu bé quá đỗi sợ hãy, người như bị đóng băng. Dù là trẻ con, Frisbey cũng biết rõ quy định của Đức quốc xã khi đó, rằng cứ chứa chấp quân địch là giết ngay, không cần giải thích.

Elisabeth điềm tĩnh bước ra, nói với viên sĩ quan chỉ huy trong nhóm: “Giáng sinh an lành!”
Viên sĩ quan nói anh ta và cấp dưới của mình bị lạc đường, muốn ở nhờ trong nhà Elisabeth một đêm.
Người phụ nữ này vẫn bình tĩnh trả lời: “Mời các anh vào nhà cho ấm, và cũng mời các anh ăn cơm giáng sinh với chúng tôi. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có những vị khách khác, họ không phải là bạn của các anh, hi vọng các anh có thể chấp nhận họ.”
Viên sĩ quan người Đức lập tức cảnh giác và hỏi dồn: “Ở trong nhà có người? Chúng là người Mỹ?”

Elisabeth đáp: “Vâng, hôm nay là đêm giáng sinh, không ai được phép động thủ, mời các anh để vũ khí ở bên ngoài.”
Viên sĩ quan Đức nhìn Elisabeth một cái, rồi ra hiệu cho những người khác để vũ khí ngoài cửa trước khi bước vào nhà.
Những viên lính Mỹ trong phòng bỗng chốc trở lên căng thẳng, vội vã cầm chắc súng trong tay. Một người thậm chí còn rút súng lục, chuẩn bị bắn lính Đức đang tiến vào. Thế nhưng Elisabeth đã ngăn cản anh ta và lặp lại những câu nói mà cô vừa nói với lính Đức: “Hôm nay là đêm giáng sinh, không được phép tàn sát, hãy đưa súng cho tôi.”

Và như thế, người phụ nữ thu hồi cây súng trong tay viên lính Mỹ đang lo lắng hơn là chủ động.
Elisabeth sắp xếp để khách ngồi quanh một cái bàn. Vì ngôi nhà khá chật hẹp nên lính Mỹ, lính Đức phải ngồi sát cạnh nhau, không khí rất căng thẳng. Hai bên, ai cũng nâng cao cảnh giác, đề phòng vì không ai biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Chỉ có nữ chủ nhà là vừa cười nói, vừa bận rộn chuẩn bị bữa tối giáng sinh.

Vài phút sau, mùi thức ăn hấp dẫn cộng thêm thái độ nhiệt tình của chủ nhà nên trạng thái căng thẳng dần dần được thả lỏng.
Một lính Mỹ lấy ra một hộp thuốc lá mời những viên lính Đức, trong khi một viên lính Đức lại rút ra một bình rượu vang và một cái bánh mỳ trong chiếc ba lô trên lưng ra chia cho mọi người. Một viên lính Đức thậm chí khi thấy viên lính Mỹ bị thương còn lại gần kiểm tra vết và xử lý lại vết thương cho người mà nếu ở chỗ khác, anh ta sẽ là kẻ thù không đội trời chung.

Vì được học qua trường y nên viên lính này có chút kinh nghiệm về y tế, lại có thể nói được tiếng Anh nên anh ta nói với viên lính Mỹ rằng vì trời lạnh, vết thương không bị nhiễm trùng nên không nguy hiểm đến tính mạng.
Đến lúc này, sự hoài nghi lẫn nhau giữa hai nhóm lính mới bắt đầu tan biến.

Đồ ăn được đưa ra bàn. Elisabeth bắt đầu cầu nguyện trước bữa ăn. Cô cầu nguyện trong nước mắt:
“Cảm ơn Chúa đã ban ơn để mọi người có thể ngồi ăn chung một bữa trong trận chiến khủng khiếp này. Trong đêm giáng sinh hôm nay, chúng con đã hứa sẽ không coi nhau là kẻ thù mà sẽ đối xử hữu hảo với nhau, cùng thưởng thức bữa cơm giáng sinh đơn giản; chúng con cầu mong cuộc chiến đáng sợ này sẽ kết thúc trong thời gian sớm nhất để mọi người có thể bình an trở về quê hương của mình.”

Elisabeth nói xong cũng là lúc nước mắt lăn dài trên má những người lính. Họ bị những lời cầu nguyện của nữ chủ nhà lay động, thù hận trên chiến trường bỗng chốc tiêu tan, lòng họ hướng về quê nhà, về người thân, ai nấy cũng đang mong hòa bình sẽ lập lại.

Dùng xong bữa tối cũng là 12h đêm, mọi người ra ngoài đi dạo. Lúc này, tuyết ngừng rơi và gió cũng đã ngừng thổi, trên trời sao sáng lấp lánh.
Sau đó, 7 viên lính vốn không đội trời chung vào nhà cùng ngủ một giấc thoải mái cho đến sáng hôm sau.
Chủ nhà làm một ít canh trứng gà cho viên lính Mỹ bị thương. Viên sĩ quan Đức thì lấy bản đồ ra chỉ cho lính Mỹ sơ đồ trận mạc và nhắc họ những nơi không nên đi tới. Thậm chí những viên lính Đức còn làm tặng cho viên lính Mỹ bị thương một cái cáng.
Hai bên cảm kích chào tạm biệt mẹ con Elisabeth rồi đường ai nấy đi.

Vào năm 1958, cậu bé Frisbey đã 26 tuổi, sau khi kết hôn và di dân sang Mỹ, anh đã cư trú tại Hawaii và mở một tiệm bánh Pizza. Nhờ có bạn bè cổ vũ động viên, Frisbey đã viết lại câu chuyện trên và gửi cho nhà xuất bản “Reader’s Digest”.
Năm 1995, chương trình truyền hình “Unsolved mysteries” đã đem câu chuyện của Frisbey quay thành phim.
Không lâu sau, một nhân viên dưỡng lão viện ở thị trấn vùng Maryland gọi điện thoại cho người phụ trách tiết mục, nói rằng ở chỗ họ có một người lính già hay kể chuyện hệt như vậy.

Người lính đó là một trong ba người lính Mỹ đêm hôm đó, ông tên là Ralph. Rất nhanh, họ bố trí cho hai người gặp mặt.
Sau 52 năm xa cách, vào năm 1996, Frisbey và Ralph lại gặp nhau, hai người ôm nhau cảm động đến phát khóc. Ralph nức nở:” Mẹ cậu đã cứu sống chúng tôi”.
Về sau, Frisbey lại tìm được thêm một người lính Mỹ, nhưng chưa tìm lại được ai trong số những lính Đức năm xưa.
Năm 2002, Frisbey qua đời, cùng năm ấy, Hollywood đã sản xuất bộ phim có tên “The Silent Night” dựa trên chính câu chuyên đầy chất nhân văn này.

Cố tổng thống Mỹ Ronald Reagan đã dùng câu chuyện trên để tổng kết lại những gì ông có thể cảm nhận từ thế chiến thứ II, rằng “Cái thiện nhất định sẽ đẩy lùi cái ác, tự do nhất định sẽ đẩy lùi bá quyền!”. Câu nói cho đến nay vẫn còn giữ nguyên ý nghĩa và giá trị của nó.

Con người chúng ta ai cũng lấy thiện làm gốc, để đẩy lùi hiểm ác, để người hiểm ác trở lại với bản tính lương thiện của mình, để người trong thiên hạ có tự do, để không phải chịu đựng sự bạo ngược, chiến loạn và sự sợ hãi.

@internet