Friday, July 27, 2012

HS-TS-VN


Vì sao VN không kiện TQ
ra một trọng tài quốc tế ?

Trung Quốc bắt đầu lên tiếng tranh dành quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam từ năm 1909. Trong thời kỳ bảo hộ, nước Pháp, đại diện đế quốc An Nam, đề nghị hai lần với Trung Quốc một trọng tài phân giải, vào năm 1932 và năm 1947, nhưng cả hai lần Trung Quốc đều khôngđáp ứng. Thái độ của Trung Quốc có thể biết trước, vì không ai dại dột đặt cược lớn khi biết mình không có hy vọng nào để thắng. Ở các thời điểm đó Trung Quốc không hề có cơ sở pháp lý hay bằng chứng lịch sử nào để có thể chứng minh chủquyền của họ tại quần đảo Hoàng Sa. Do đó họ chủ trương sử dụng mưu kế hay chờ đợi thời cơ, dùng vũ lực để giải quyết vấn đề. Kể từ đó, nhiều thế hệ lãnh đạo, hay chế độ chính trị, tiếp nối nhau, mục tiêu chiến lược của Trung Quốc không thay đổi. Năm 1956 Trung Quốc lợi dụng cơ hội sự lúng túng của Pháp tại Đông Dương đổ quân chiếm nhóm đảo An Vĩnh. Năm 1974, lợi dụng cơ hội Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam Việt Nam, TQ dùng vũ lực chiếm nốt nhóm đảo còn lại là nhóm Nguyệt Thiềm, qua một trận hải chiến bất cân xứng giữa hải quân nước này với hải quân của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng điều đáng ngại là mục tiêu chiến lược của Trung Quốc bao gồm luôn quần đảo Trường Sa và một vùng biển chiếm khoảng 80% diện tích biển Đông. Tham vọng bành trướng của TQ sẽ không ngừng ở Hoàng Sa. Họ có thể sử dụng vũ lực bất kỳ khi nào có thời cơ thuận tiện để chiếm quần đảo Trường Sa và vùng biển tại đây.

Điều làm người ta bất mãn là thái độhiện nay của nhà cầm quyền CSVN. Họ luôn tuyên bố rằng Việt Nam có chủ quyền không thể chối cãi ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhưng họ luôn thụ động trước vố số hành vi dã man của hải quân Trung Quốc đối với ngư dân Việt Nam nhưbắn giết, bắt cóc đòi tiền chuộc, tịch thâu thuyền bè và dụng cụ… khi những người dân này buông lưới tại những vùng biển truyền thống của Việt Nam, chung quanh quần đảo Hoàng Sa hay Trường Sa, thậm chí ngay trong vịnh Bắc Việt, trong vùng biển thuộc chủ quyền của VN ; hoặc các thái độ ngang ngược của Trung Quốc khi cho đặt các dàn khoan dầu khí, nhiều nơi ngay trên thềm lục địa của Việt Nam, cách bờ chưa tới 250km, trong khi cách đảo Hải Nam đến hàng ngàn km. Hànhđộng phản đối gọi là « kịch liệt » lắm của Hà Nội vẫn chỉ giới hạn ởcác tuyên bố suông. Trong khi đó, một mặt, các chiến hạm của TQ, ngụy trang dưới lớp vỏ các tàu Ngư Chính, vẫn thường xuyên đi tuần tiễu ở biển Đông, trong vùng thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, để khủng bố ngư dân VN và mặt khác, hàng năm, Bắc Kinh còn hạ lệnh cấm biển trên biển Đông, trong một vùng rộng lớn, trong nhiều tháng (từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm), với lý do bảo vệ nguồn thủy sản. Đôi lúc họ còn ra lệnh cấm biển vì lý do quân sự : hải quân TQ diễn tập, cấm thuyền bè qua lại. Hậu quả các việc này làm cho đời sống của ngư dân VN đảo lộn, hầu hết lâm vào cảnh khó khăn nghèo đói, một số phải bỏ nghề. Nhưng tệ hại hơn cả là nếu việc này tiến diễn thêm vài năm nữa mà phía VN vẫn chỉ tuyên bố hay phản đối suông mà không có hành động cụ thể để ngặn chặn, chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng biển này sẽ được khẳng định.

Bởi vì, một cách đểchứng minh chủ quyền của quốc gia ở một vùng lãnh thổ hay biển đảo nào đó là ápđặt được quyền tài phán của quốc gia ở các vùng đó. Nếu lệnh cấm biển của TQ được ngư dân VN « thi hành », như các việc đóng tiền phạt chuộc ngư cụ, hay không đánh cá tại các vùng biển do TQ cấm, cho dầu qua hình thức cưỡng bức, điều này cũng hàm ý VN chấp nhận quyền tài phán của Trung Quốc (ở các vùng biển bị cấm). Tức VN mặc nhiên chấp nhận các vùng biển đó chủ quyền thuộc về Trung Quốc.

Như thế thời gian cũng là một yếu tố rất bất lợi cho Việt Nam.

Trước nguy cơ lớn lao, đe dọa sự tồn vong và tương lai vinh nhục của cả dân tộc, nhà cầm quyền VNđến nay vẫn không có một biện pháp nào xem ra có thể thích nghi để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa. Trong khi đó quyền lợi của Việt Nam tại quần đảo Trường Sa lại bị TQ đe dọa trầm trọng

Trong các năm vừa qua VN đã đảm nhận những vai trò quan trọng trên quốc tế, như là thành viên luân phiên của Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, hay làm chủ tịch ASEAN. Thời cơ do đó không phải là thiếu. Tại sao VN không đưa các vụ tranh chấp ra tòa án quốc tế hay trước diễn đàn Liên Hiệp Quốc ? Các hành động này có thể ít có hiệu quả trên thực tế, vì thái độ ngang ngược, bá quyền của Trung Quốc, nhưng ít nhứt nó sẽ xoa dịu những bất bình đến từ công chúng trong nước, và trong chừng mực, khẳng định tính chính đáng về lãnh đạo của đảng CSVN.

Dưới thời thuộc địa, nước Pháp ràng buộc với đế quốc An Nam qua hiệp ước bảo hộ, họ có nhiệm vụ « bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của đế quốc An Nam trước kẻ thù gây hấn bên ngoài ». Người ta có thể phê bình nước Pháp về nhiều mặt, nhưng về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa thì các hành động của Pháp có thể gọi là tạm đủ.

Nhưng hành động của đảng CSVN, từ khi « cướp chính quyền từtay Pháp, Nhật », lập được nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ năm 1949, chođến năm 1975 « đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào », gồm thu đất nước về một mối « Cộng hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam », thì chưa bao giờ củng cốhay khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi chính đáng đặt ra : Tại sao Việt Nam không đềnghị một trọng tài quốc tế để phân xử tranh chấp biển Đông, ít ra tại Hoàng Sa, trong khi nước Pháp đã hai lần đề nghị trong quá khứ ?

Người ta chỉ có thể tìm thấy câu trả lời qua các hành vi của nhà nước này trong từ thập niên 90, qua vụ TQ xâm lấn bãi Tư Chính.

Tháng 5 năm 1992, phía TQ ký hợp đồng với công ty khai thác dầu khí Cresston của Hoa Kỳ nhằm khai thác khu vực Vạn An Bắc, tức khu vực Tư Chính của Việt Nam. Lý lẽ của phía TQ là vùng Vạn An Bắc thuộc « vùng nước và thềm lục địa kế cận các đảo Nam Sa (tức Trường Sa) của TQ ». Khu vực này cách bờ biển VN 160 hải lý và cách đảo Hải Nam trên 600 hải lý.

Lý lẽ của TQ như thế phải hiểu : 1/ TQ có chủquyền tại TS. 2/ Các đảo TS có hiệu lực là « đảo » và 3/ vùng TưChính, tức Vạn An Bắc, là vùng chồng lấn giữa thềm lục địa bờ biển VN với các đảo TS.

Theo lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington phụ trách bênh vực quyền lợi của VN. Hồ sơ bãi Tư Chính được thành hình năm 1995, do Brice M. Claget thuộc tổ hợp thành lập, mang tên : “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốcở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Lập luận của hồ sơnày là : 1/ bãi Tư Chính nằm trên thềm lục địa của VN, 2/ các đảo Trường Sa quá nhỏ để có hiệu lực của « đảo » theo luật Biển 1982 và 3/ vì vậy không hề có chồng lấn giữa các đảo TS với thềm lục địa VN.

Ta thấy các nhược điểm trong lập luận của Brice M. Claget là : 1/ không xác định chủ quyền của VN trên các đảo TS, không phản đối chủ quyền của TQ ở các đảo TS, điều này có thể hiểu ngầm VN đồng ý TQ có chủ quyền tại các đảo này. 2/ Các đảo TS quá nhỏ để có hiệu lực của « đảo ». Lý lẽ này không vững vì yếu tố lớn hay nhỏcủa một đảo không hề được đề cập trong luật Biển 1982. Một đảo có hiệu lực hay không là do hai việc : a) có thích hợp cho người sinh sống và b) có một nền kinh tế tự túc.

Tại sao phía VN chấp nhận lý lẽ của tổ hợp luật sư trong hồ sơ « Tư Chính » mà không hề có bảo lưu về chủquyền của VN tại TS ?

Lý ra, VN có thể nhân vụ này kiện TQ ra một trọng tài quốc tế ít nhất về 3 lẽ : 1/ khu vực Tư chính nằm trên thềm lục địa của VN (theo qui định 200 hải lý tính từ đường cơ bản theo luật Biển 1982. 2/ Chủquyền các đảo mà TQ gọi là Nam Sa, thực ra là Trường Sa, từ lâu đã thuộc về VN. 3/ Không hề có việc « chồng lấn » hiệu lực giữa các đảo « Nam Sa »với thềm lục địa VN, đơn giản vì các đảo TS, mà TQ tiếm gọi là Nam Sa, thuộc về VN.

Mấy ông luật sư của HK trong tổ hợp Covington & Burling ở Washington đã « không ngu » như ta tưởng. Vì nếu đưa vấn đề chủ quyền của VN tại TS vào hồ sơ thì phải thay đổi hoàn toàn các dữ kiện, mà điều quan trọng là phải chứng minh VN có chủ quyền tại các đảo này. Làm việc này thì sẽ gặp một trở ngại lớn lao là phải vô hiệu hóa các tuyên bố đơn phương (déclaration unilatérale) cũng như các thái độ mặc nhiên đồng thuận (acquiescement) của nhà nước CSVN về chủ quyền của TQ tại HS và TS trong quá khứ.

Đó là 1/ tuyên bố 1958 của Phạm Văn Đồng về tuyên bố hải phận của TQ. 2/ Sự im lặng của miền Bắc VN năm 1974 khi TQ xâm lăng các đảo HS. Sự im lặng này chính là sự đồng thuận ám thị hành động của TQ là chánh đáng, TQ có chủ quyền ở HS và TS. Ngoài ra còn có nhiều tuyên bốqua báo chí hay của các nhân vật lãnh đạo cũng như nhiều hành vi ám thị đồng thuận khác.

Trong khi việc « kế thừa »di sản HS và TS của VNCH thì nhà nước CHXHCNVN đến hôm nay vẫn chưa thực hiện.

Về vấn đề này, nhiều người cho rằng nhà nước CHXHCHVN là người thừa kế hợp pháp VNCH. Tuy nhiên không thấy ai đưa ra các lý lẽ chứng minh.

Phía CS miền Bắc gọi VNCH là « ngụy », tức là giả, không phải là một thực thể chính trị. Người ta không thể kế thừa ở một cái gì đó không thật (ngụy). Vả lại, nếu có tư cách « thừa kế », thì theo bộ luật về « kế thừa » của VN hiện nay, nhà nước CHXHCNVN có thể bị truất quyền« kế thừa » theo điều 643, khoản a và b.

Điều 643 của bộ luật Dân sự 2005 (hoặc theo Pháp lệnh về kế thừa trước đó) Người không được quyền hưởng di sản 1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản: a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạngười để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó; b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

Ta thấy khi cộng sản miền Bắc chiếm được miền Nam, một chính sách trừng phạt dân miền Nam đã được áp dụng liên tục trong nhiều thập niên. Văn hóa miền Nam bịxem là « văn hóa đồi trụy », đã bị xóa bỏ. Hầu hết nhân sự có liên quan, xa hay gần, đến chính quyền VNCH đều bị trừng phạt như bắt đi tù, bị truất hữu tài sản, nhà cửa, cả gia đình bị đuổi đi kinh tế mới. Lính miền Nam bịkhinh miệt gọi là « lính ngụy », chính quyền miền Nam là « ngụy quyền », thậm chí dân miền Nam bị khinh bỉ gọi là « ngụy dân ». Đến hôm nay, người dân miền Nam vẫn còn bị trừng phạt. Trên bình diện đầu tư, miền Nam đóng góp trên ¾ của cải cho cả nước, nhưng về hạ tầng cơ sở miền Nam khôngđược đầu tư như miền Bắc. Thậm chí, trong vấn đề giáo dục, miền Nam chỉ được đầu tư một phần tỉ lệ rất nhỏ so với miền Bắc.

Nhà cầm quyền CSVN, liên tục từ nhiều thập niên, đã « ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm » của người miền Nam. Tư cách gì nhà cầm quyền CSVN lên tiếng đòi « kế thừa »di sản VNCH ngày hôm nay ?

Vì thế ta không ngạc nhiên về các lý lẽ của tổ hợp luật sư Covington & Burling ở Washington trong hồ sơ : “Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông”. Các lý lẽ của họ hôm nay, theo đúng như lập luận trong hồ sơ : 1/ các đảo TS và HS quá nhỏ để có hiệu lực của đảo. 2/ Khẳngđịnh quyền chủ quyền của VN trong vùng 200 hải lý (theo đúng qui định ZEE và thềm lục địa của luật Biển 1982).

Đối với họ chỉ có hai chọn lựa : VN mất ít hay mất nhiều. Họ chọn giải pháp « mất ít ».

Đối với tổ hợp luật sư Covington& Burling ở Washington, là một tổ hợp lừng danh thế giới về Công pháp quốc tế, đã nhận ra VN đã mất tố quyền (forclusion – estoppel) tại HS và TS. Do đó không thể đứng trên căn bản « VN có chủ quyền tại HS và TS » để lập hồsơ mà phải dựa trên lập luận « các đảo TS và các đảo nhỏ, không thể có ZEE ».

Như thế, đối với nhà cầm quyền VN hiện nay, HS và TS là đã mất.

Sự việc như vậy thì làm sao có thểkiện TQ ra một tòa án quốc tế ?

Nhưng nhượng bộ này của VN cũng không xong. Chủ trương của TQ là « muốn hết ». Chủ trương này, nếu HS và TS thuộc về họ, là khá phù hợp trên quan điểm pháp lý. Thỏa mãn TQ, VN không phải « mất ít » hay « mất nhiều » mà là « mất hết ».

Tôi đã viết một số bài, như bài « Chủquyền của VN tại Tư Chính, Vũng Mây », trong đó đả kích đích danh một sốcá nhân có chủ trương của nhà cầm quyền VN. Người ta chỉ có thể bảo vệ được quyền lợi chính đáng của dân tộc chỉ khi nào lý lẽ của mình dựa trên nền tảng đúng. Lý lẽ « các đảo TS là các đảo nhỏ do đó không thể cho chúng vùng ZEE như lãnh thổ đất liền » là không thuyết phục trên phương diện pháp lý. Đảo lớn hay nhỏ, theo luật, chúng có tình trạng pháp lý như nhau, như lãnh thổ trên đất liền.

Tôi chống, tôi đả kích nhưng người này và nhà nước CSVN, vì tôi thấy có giải pháp khác. VN « được ít, được nhiều hay được tất cả » thay vì « mất ít, mất nhiều hay mất tất cả ».

Làm thế nào thì tôi đã viết giới thiệu trong bài trước. Cốt lõi của việc này là làm thế nào để kế thừa di sản VNCH. Đây là một vấn đề thuộc về chính trị. Đảng CSVN có can đảm chính trị hay không ? Có can đảm nhìn nhận VNCH như là một chế độ đã bảo vệ chủ quyền của VN tại HS và TS hay không ? Có dám phục hồi danh dự và bồi xứng đáng cho tập thể « ngụy quân, ngụy quyền » mà họ dã truy bức và trả thù tàn độc trong quá khứ hay không ?

Anh làm sao có thể kế thừa được di sản của một người mà trước đó anh đã đối xử tàn tệ, dã man ? Không. Anh có thể ăn cướp di sản của người này nhưng anh không thể « kế thừa »di sản của người này được.

Ngoài ra còn thái độ của các học giả VN hiện nay. Tôi đã viết, các tài liệu chứng minh chủ quyền của VN tại HS và TS hầu hết đều do các học giả VNCH viết từ năm 1974. Tôi nhận thấy rằng, các bài viết chứng minh chủ quyền của VN tại HS và TS của các học giả VN hôm nay đều không ghi tên các tác giả VNCH. Việc này cho thấy, các học giả VN hiện nay cũng phủ nhận tính chính thống của các học giả VNCH. Các anh cứ nói ông Trần Văn Hữu tuyên bố thế này thế kia, chính quyền thực dân, chính phủ Bảo Đại bù nhìn, chính nguyền ngụy hành sử chủ quyền ở HS và TS thế này thế nọ… Trong khi điều nổi bật của chế độ CSVN là công hàm Phạm Văn Đồng 1958 cùng các tuyên bố ngu xuẩn khác. Các anh viết như thế là đã xác nhận tính chính thống của các chế độ đó nhưng các anh không có can đảm nói ra.

HS và TS là thuộc chủ quyền của quốc gia VN, của dân tộc VN. Đó là điều hiển nhiên. Nhà cầm quyền CSVN chỉ là giai đoạn, trong khi đất nước và dân tộc là trường cửu. Nhà cầm quyền này không nhìn nhận di sản của VNCH thì sẽ có chính quyền khác trong tương lai nhìn nhận nó. Việc này có thể không còn xa lắm.

Trương Nhân Tuấn

Thursday, July 26, 2012

HS-TS

Bản đồ Trung Quốc 1904
 không có Hoàng Sa, Trường Sa

HÀ NỘI (NV) -Một tấm bản đồ Trung Quốc do triều nhà Thanh công bố năm 1904 cho thấy, đảo Hải Nam là điểm cực Nam của Trung Quốc chứ không phải hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Báo Sài Gòn Tiếp Thị cho hay, “Tiến Sĩ Mai Ngọc Hồng, nguyên trưởng phòng Tư Liệu Thư Viện của Viện Hán Nôm vừa trao cho Bảo tàng Lịch sử Quốc gia của Việt Nam vào sáng 25 tháng 7.

Tấm bản đồ cổ mang tên “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do nhà Thanh (Trung Quốc) xuất bản năm Giáp Thìn 1904 và trên bản đồ ghi rõ cực Nam của Trung Quốc là đảo Hải Nam chứ không có Hoàng Sa và Trường Sa.”

“Ðây được coi là một tư liệu vô cùng giá trị khẳng định chủ quyền của Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.”

Theo báo SGTT, “Phát biểu tại buổi họp báo, ông Mai Ngọc Hồng cho biết ông chủ động đề nghị được trao lại tấm bản đồ quý này cho bảo tàng Lịch sử Quốc gia với hy vọng nó sẽ góp thêm một cứ liệu lịch sử quan trọng và có giá trị cho các nhà sử học và những người có trách nhiệm trong cuộc tranh biện của Việt Nam với Trung Quốc về chủ quyền tại biển Ðông.”

Báo SGTT dẫn lời Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Chiến, phó giám đốc bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho biết, “tấm bản đồ này đã được tiếp nhận và đưa vào hạng mục hiện vật được bảo quản đặc biệt.”

“Hiện nay chúng tôi mới chỉ thực hiện công tác tiếp nhận và bảo quản tư liệu. Còn việc trưng bày hay hướng khai thác tư liệu ra sao thì chưa có một kế hoạch cụ thể,” ông Chiến nói. (KN)

 
@nguoiviet  -  xuandienhannom

HS-TS

Nhục Tam Sa

Ngày 24 Tháng Bẩy, Cộng Sản Trung Quốc đã chính thức tổ chức lễ nhân dịp ra mắt tân thị trưởng thị xã Tam Sa mới được 45 người trong hội đồng xã “bầu lên” ngày hôm trước.

Lễ ra mắt được tổ chức linh đình trên hòn đảo Phú Lâm, tên quốc tế là Woody, từ thời Trung Hoa Dân Quốc chiếm năm 1946 đã đặt tên Tàu là Vĩnh Hưng. Thị trưởng đầu tiên của xã Tam Sa là Xiao Jie, nguyên là trưởng ty Canh Nông tỉnh đảo Hải Nam. Ông Xiao Jie (Tiểu Thư?) tuyên bố rằng Ðảng Cộng Sản Trung Quốc thật là “trí tuệ” khi thiết lập xã Tam Sa, để “triển khai chủ quyền của đất nước” trên cả ba quần đảo trong vùng Ðường Chín Ðoạn; với mục đích khai thác các tài nguyên trong vùng biển này.

Ðảo Phú Lâm dài gần 2 cây số thuộc nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) trong quần đảo Hoàng Sa của nước ta, rộng hơn hai cây số vuông, diện tích còn nhỏ hơn cả Chợ Ðồng Xuân ở Hà Nội. Bản tin AP ngày hôm qua mô tả trên hòn đảo này ngoài mấy cây dừa chỉ có một nhà bưu điện, một siêu thị và một bệnh viện, ngoài ra chả có gì đáng kể. Cũng không thể đào giếng lấy nước, cho nên nước ngọt phải chở từ Hải Nam qua, đi đường thủy mất 13 tiếng đồng hồ! Nhà báo Mỹ bỏ sót không kể đến một tòa nhà rất tráng lệ trên đảo, là tòa thị chính và trụ sở đảng Cộng Sản. Ai cũng biết trong một quốc gia cộng sản thì tòa nhà lớn nhất ở xã nào cũng thường là trụ sở đảng. Tân Hoa Xã công bố bức hình tòa nhà này, kiến trúc giống như kiểu Hy Lạp với những cây cột cao song song vươn thẳng và mặt tiền trang trí hình tam giác; nhưng đằng sau lại ngoi lên một cái chòm hình cầu giống như trong kiến trúc Chính Thống Giáo hoặc Hồi Giáo, chỉ thiếu hình cái củ hành mà thôi!

Ngay khi Trung Cộng tuyên bố thành lập Tam Sa, bao gồm ba quần đảo Ðông Sa, Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) thì chính quyền các nước chung quanh như Việt Nam và Phillipines đều đã phản đối, không công nhận đơn vị hành chánh đó. Theo chính quyền cộng sản Trung Hoa thì dân số trên ba quần đảo tổng cộng 1,100 người, nhưng ai cũng biết đó chỉ là những quân nhân và viên chức cấp thấp của Trung Quốc bị “đi đày” ra sống ở những hòn đảo hoang, như đảo Phú Lâm, nơi nhiệt độ luôn luôn trên 30 độ C, trên trời dưới đất chỉ là muối. Các đảo này rải rác trong một vùng biển rộng 2 triệu cây số vuông nhưng diện tích tất cả các đảo chỉ được 13 cây số vuông.

Cộng Sản Trung Quốc cố ý làm nhục người Việt Nam khi đặt trụ sở xã Tam Sa trên đảo Phú Lâm, nơi còn dấu vết của ngôi chùa Hoàng Sa Tự được lập vào thời vua Minh Mạng (1802-1820), và một trạm khí tượng đã có từ thời Pháp thuộc. Ðây là một đảo lớn hạng nhất trong quần đảo Hoàng Sa mà quân Trung Cộng đã đánh chiếm năm 1974, trong lúc đang hỗ trợ Cộng Sản Bắc Việt xâm chiếm miền Nam để bành trướng chủ nghĩa cộng sản quốc tế. Các chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa năm đó được lệnh bảo vệ đất nước đã anh dũng hy sinh trong sông nước Hoàng Sa cùng với vị hạm trưởng anh hùng Ngụy Văn Thà.

Nay Cộng Sản Trung Quốc lại đặt trụ sở của cả xã Tam Sa ngay trên hòn đảo Phú Lâm của Hoàng Sa. Ðây là một hành động khiêu khích cố ý lăng nhục đối với dân tộc Việt Nam. Từ nay có thể coi ngày 24 Tháng Bẩy là ngày đánh dấu một mối Nhục Hoàng Sa nữa. Bởi vì việc bầu bán xã trưởng và ra mắt trụ sở được đưa ra ngay sau khi Trung Cộng mới “chiến thắng” Việt Nam về ngoại giao ở Camphuchia!

Hai nước Việt Nam và Phillipines vừa bị Trung Cộng đánh bại trong cuộc họp của các nước Ðông Nam Á tại Phnom Penh. Lần đầu tiên trong hơn 40 năm lịch sử của khối ASEAN, hội nghị bế mạc mà không có một bản thông cáo chung chính thức. Nước chủ nhà, là chủ tịch luân phiên của ASEAN, đã cương quyết bác bỏ việc ghi vào thông cáo chung mối lo lắng trước các hành động của Trung Quốc gần đây trong hải phận các nước Việt và Philippines. Ngoại trưởng Indonesia đã lần lượt đưa ra sáu bản nháp để chọn làm thông cáo chung nhưng chính quyền Hun Sen vẫn không chịu vì không muốn làm phật ý Trung Cộng. Hun Sen vốn do Lê Ðức Thọ và Lê Ðức Anh dựng lên cho cầm đầu xứ Campuchia, nay đã hoàn toàn đứng về phía Trung Cộng, và đã nhận được hàng chục tỷ đô la viện trợ. Sự phản bội của Hun Sen cũng như việc đánh chiếm Hoàng Sa của Trung Cộng cho thấy tất cả chủ nghĩa cộng sản quốc tế hoàn toàn là một trò lừa bịp. Ðó là một thứ chủ nghĩa đã được Cộng Sản Việt Nam đem về mê hoặc những người lao động và nông dân để họ nhắm mắt theo đảng. Chỉ cần biết suy nghĩ một chút thì ai cũng biết rằng trên thế giới này mỗi dân tộc, mỗi quốc gia chỉ lo cho quyền lợi bản thân của mình!

Người dân Việt Nam đã bị lừa bịp từ năm 1930 đến nay, nhưng từ khi đảng Cộng Sản chiếm được miền Nam năm 1975 thì nhân dân cả nước Việt Nam đã thức tỉnh. Hiện nay tinh thần chống đối Trung Cộng đang lên cao nhất, có lẽ không kém gì lòng dân đời Trần sôi sục trước mối đe dọa của quân Mông Cổ!

Một bản tin của Financial Times cho biết các công dân mạng ở Việt Nam đã tẩy chay không dùng các mạng truy cứu (search engine) và giao dịch xã hội trên mạng (social network) của Baidu (Bách Ðộ), một công ty lớn nhất Trung Quốc cung cấp các dịch vụ tương tự như Google. Nhưng không phải chỉ có người lớn ở nước ta mới biết tẩy chay “hàng Trung Quốc.” Một người bạn mới từ Việt Nam qua nói ngay trẻ em học mẫu giáo cũng bày tỏ lòng yêu nước. Một em bé đem đồ chơi tới lớp, khi thấy trên đồ chơi đề chữ “made in China” thì các bạn em hùa nhau bảo em phải vứt đồ chơi đi. Tiếc đến mấy em bé cũng phải chiều theo áp lực của bạn bè. Lòng dân đã sôi lên như vậy, nếu các lãnh tụ cộng sản ở Việt Nam cũng thức tỉnh thì phải công khai xóa bỏ những chiêu bài như tình “đồng chí anh em” hay “16 chữ vàng” ngay lập tức và xin lỗi nhân dân, xin lỗi vong linh của tổ tiên vì đã lầm lỡ đưa dân tộc đến tình trạng nhục nhã hiện nay!

Ngô Nhân Dụng

VH

ĂN NHẬU

Hôm nọ bị anh bạn,
Chính xác hơn, người quen,
Cứ bắt đi ăn nhậu.
“Đừng lo, tớ ối tiền”.

Con người “ối tiền ấy”
Đưa tôi vào nhà hàng,
Gọi con tôm hai triệu,
Đựng trên đĩa dát vàng.

“Ăn đi cậu, cho bõ.
Ta đã khổ suốt đời.
Nay phải enjoy life!
Ý tớ, phải ăn chơi!”

Cảm ơn bạn chiêu đãi.
Cảm ơn tôm triệu đồng.
Nhưng tôi cứ nghịch đũa,
Mặc bạn hỏi ngon không.

Tôi thầm đáp: Ngon lắm,
Ngon bằng cả tháng lương
Công nhân khu công nghiệp,
Nếu có việc bình thường.

Định đưa lên miệng cắn,
Thế mà không hiểu sao
Tự nhiên thấy phẫn nộ,
Xấu hổ và nghẹn ngào.

Người ta làm cả tháng
Bằng giá con tôm này.
Người ta ăn một bữa
Bằng lương ba mươi ngày.

Đúng theo phép lịch sự,
Được mời ăn, không chê.
Tôi chờ bạn ăn hết
Nửa tháng lương, rồi về.

Nửa tháng lương còn lại
Trên chiếc đĩa dát vàng
Bầy lợn sẽ được chén,
Hợp pháp và đàng hoàng.

“Cảm ơn cậu, tôi nói,
Vì bữa ăn hôm nay.
Tiếc tớ không ăn được
Vì chứng bệnh dạ dày.”

Tạm gác chuyện tế nhị -
Tiền ấy ở đâu ra.
Có tiền thì ăn nhậu,
Đó là quyền người ta.

Nhưng việc ăn một bữa
Mà bằng cả tháng lương
Công nhân khu công nghiệp -
Chuyện ấy không bình thường.

Dạ dày tôi còn tốt,
Nhưng trái tim thì đau.
Cảm ơn, và xin lỗi,
Tôi không nuốt nổi đâu.

Thái Bá Tân          
Hà Nội, 19. 7. 2012
@thaibatanblog

Wednesday, July 25, 2012

CSVN

Đại Vệ Chí Dị -
Trong cái hoạ có cái phúc.


Nước Vệ triều nhà Sản năm thứ 67.

Vỡ nợ khắp nơi, thất nghiệp khắp nơi, kiện cáo khắp nơi, tham nhũng cũng nơi nơi và tăng giá cũng nơi nơi.

Mùa hè năm ấy, ngoài biển quân Tề triển khai tàu thuyền. Nỗ lực xây dựng nhà cửa, kho tàng, chiến luỹ kiên cố trên đảo Lam Phu của Vệ. Khi việc xây cất đã xong, lựa ngày tốt bố cáo cho thiên hạ việc mở vùng đất mới, đặt tên là Sa Ta.

Việc động trời ấy, cố nhiên khiến nước Vệ xôn xao.Nhà Sản vô cùng khó xử, nước Tề bên ngoài là láng giếng, nhưng bên trong là tình huynh đệ. Bên Tề cũng do nhà Sản cai trị, anh em với nhau đã mấy mươi năm. Sau khi nhà Sản ở xứ Xa La Tư bị phế truất, Sản Vệ bơ vơ không nơi nương tựa. Triều thần kéo nhau sang Tề khóc thảm thiết mấy ngày trước điện, dâng thơ tha thiết nói rằng '

- Người xưa có câu '' quyền huynh thế phụ' ' cha chết mọi việc do anh quyết. Nay phụ thân ở xứ Xa La Tư lạnh giá , không may đã chẳng còn. Anh em khác còn ở xa và thơ dại, duy chỉ có Tề là anh lớn nhất lại gần kề bên. Xin xá tội cho đứa em nhỏ dại mà nhận về đùm bọc, chỉ bảo, dạy dỗ đừng để bơ vơ thế lực bên ngoài lôi kéo làm tha hoá. Xấu mặt cả họ nhà Sản nói chung.

Tề nghe thấy bèn ra một số điều kiện. Vệ bấy giờ như chết đuối vớ phải cọc, cái gì cũng ừ, miễn sao có chỗ bám chắc chắn. Nhà Sản từ đó mới yên, mưa thuân , gió hoà chỉ việc đào tài nguyên, khoanh đất mà bán lấy tiền. Triều đình quan lại ung dung hưởng lộc, nhàn nhã, phú quý xênh xang. Tậu biệt thự ngoài biển, xây lâu đài trên núi, cuộc sống quan lại nhà Sản nước Vệ thịnh vượng , xa hoa hết chỗ nói.

Giờ nhà Tề chính thức tuyên bố lấy Lam Phu đặt thành quận huyện của Tề. Triều thần nhà Sản nước Vệ rụng rời, bối rối không biết xử lý ra sao. Một mặt chạy sang kêu nài Tề hay thư thả để vài năm nữa nói chuyện. Nhưng thế sự rối bời, mai này chưa biết về đâu, Tề nhất quyết lấy ngay bằng được.

Nhà Sản nước Vệ họp bàn kế sách về việc Lam Phu. Chả ai đưa ra được ý kiến, lúc cả triều đang vò đầu bứt tai thì có quan tuyên huấn đứng ra nói.
-
Trong cái hoạ có cái phúc, nước Vệ gặp việc này càng may cho nhà Sản.

Triều đình mới hỏi phúc hoạ thế nào. Quan tuyên huấn nói.

- Việc Lam Phu mà Tề gây ra sẽ khiến dân tình bức xúc, trong sự bức xúc đó sẽ lộ ra nhiều đứa ai oán triều đình, phản đối quan hệ Tề- Vệ. Nay ta nhân cơ hội này mà làm cuộc thanh trừng, tảo phạt bọn phản nghịch ấy. Triệt hết mầm mống thì có phải nhà Sản ta lại kê cao đầu mà ngủ không.?

Có quan hỏi.

- Thế còn chuyện Lam Phu nói với dân thế nào.?

Quan tuyên huấn nói.

- Nói với dân thế nào chả được, nói rằng mọi việc đã có triều đình, làm dân phải yên ổm làm ăn, không được bàn tán thế sự để bọn xấu lợi dụng.
Một quan khác hỏi.

- Thế dân không nghe thì sao.?

Quan tuyên huấn.

- Không nghe rõ là có ý nghịch, loại ấy là mầm mống, trước sau cũng nghịch. Chẳng phải đây là cơ hội ta phát hiện chúng sao, thế mới gọi là trong cái hoạ có cái phúc.

Lập tức hôm sau, nhà Sản cho người đi lu loa khắp phố phường những kẻ phản đối Tề xâm lược Lam Phu chỉ là mưu đồ nhằm lật đổ triều đình nhà Sản, những kẻ này sẽ bị trừng trị thích đáng. Đối với việc Lam Phu nhà Sản đang có đối sách, nhân dân tuyệt đối bình tĩnh làm ăn. Không nghe theo kẻ khác làm loạn.

Sau này Lam Phu bị mất về tay Tề, nhưng nhà Sản nước Vệ vững như bàn thạch, toạ cùng tuế nguyệt, xây thêm nhiều nhà thờ tiên đế khắp nơi để dân chúng cảm tạ.

Người Buôn Gió

Tuesday, July 24, 2012

CSVN

Sai nha côn đồ

Audio RFA/VN

Nước Vệ, triều Sản,

Đời sống dân tình lao đao vì vật giá phi mã, nạn cướp giật nổi lên khắp nơi. Ngoài khơi thì nước Tề cho tàu thuyền nghênh ngang đi lại, xua từng đoàn thuyền vào lãnh hải của Vệ để đánh bắt cá, có khi còn vào thẳng trong vùng bể của Vệ thả bè nuôi cá. Ở nhiều nơi, người Tề còn thu mua đất lập trang nương như ngay tại nước Tề.

Có những người tâm huyết với đất nước, rủ nhau đến quán dịch của Tề tại kinh thành để phản đối. Quần thần của Tề giận lắm, tranh nhau dâng sớ đòi thảo phạt Vệ nhằm dạy cho một bài học. Vệ Vương cả kinh, không thể ra tuyên cáo cấm không được phản đối Tề vì như thế là đi ngược lòng dân, còn để cho dân tình tụ tập phản đối Tề thì không được lòng thiên triều, e rằng chẳng còn giữ được ngai vàng.

Vệ Vương bèn họp với các đại thần tìm cách đối phó. Các quan cùng châu mày nghiêm mặt, vì xem ra chưa tìm được kế sách hay.

Tể Tướng Bạo, sau mấy vụ đưa con cháu lên làm quan, lại làm ngơ cho bọn trọc phú cùng với Thượng thư Bộ Hộ tác oai tác quái rút tỉa ngân khố, thôn tính các ngân hàng, nên bị quần thần chỉ trích, vì vậy chẳng mở lời. Song vì Vệ Vương hỏi mãi, Bạo bèn hiến kế:

- Triều đình không thể ban chiếu mà cấm dân phản đối Tề gây hấn, như thế các nước lân bang sẽ dị nghị bảo ta nô lệ cho Tề, còn để cho bọn thảo dân tụ tập phản đối, thì làm mất lòng Tề, e rằng khó giữ được ngai vàng. Chi bằng cứ cho sai nha giả dạng làm côn đồ, đến đánh đập bọn thảo dân kia ắt chúng sẽ sợ hãi mà không dám phản đối. Kế này thiên triều vẫn dùng gọi là “ném đá giấu tay”. Vậy vừa dẹp được bọn thảo dân tụ tập phản đối thiên triều, vừa không phải sợ lân bang dị nghị.

Vệ Vương và quần thần cho là thượng sách, bèn tức tốc lệnh cho sai nha cứ ý kế của Bạo mà làm.

Thế là trong các phố thị, bọn sai nha giả danh côn đồ đi đánh đập những người biểu tình, cướp đồ và gây kinh hãi khắp nơi.

Bọn thảo khấu nghe được như thế, lấy làm mừng lắm, càng ra tay độc ác và cướp bóc nhiều hơn, cứ như thể là chúng và sai nha của triều Vệ đã là một, vì dân chúng chẳng còn biết đâu là con đồ thật và đâu là sai nha giả danh côn đồ.

Chính vì thế, trong dân gian thời ấy, tiếng côn đồ vừa dùng để chỉ bọn côn đồ lẫn sai nha của Triều Sản.

(Viết theo cảm hứng của Đại Vệ Chí Dị)

Blog Hoa Mặt Trời
@hoamattroi  -  CRI  -  BBC  -  RFA  -  BBC  -  nguoiviet

VN.VN


Trường Hợp Tái Bản Những Cuốn Sách

Sau năm 1975, một chủ trương rõ rệt của những người vừa chiếm Sài Gòn là phải bằng mọi giá bôi xóa và chấm dứt những thành quả của hai mươi năm văn học miền Nam. Tác phẩm bị tiêu hủy, tác giả bị lên án và cầm tù, hành vi "phần thư khánh nho" đã liên tục xảy ra khắp cả đất nước. Những trẻ em học sinh khăn choàng đỏ nhái lại y hệt những động tác của Hồng Vệ Binh thập niên trước. Đốt sách, học tập lên án "nọc độc văn hóa Mỹ Ngụy", sách vở bị dầy đạp, bị thiêu hủy. (Hình phải:Tác giả bài viết Nguyễn Manh Trinh)
Dương Nghiễm Mậu cũng bị trong hoàn cảnh chung ấy. Bản thân thì bị cầm tù ở trại giam Phan Đăng Lưu, sách vở thì bị chưng bày trong phòng triển lãm tội ác Mỹ Ngụy như một bằng chứng của một nền văn hóa đồi trụy.

Một đao phủ thủ của văn học miền Nam trong giai đoạn ấy là Trần Trọng Đăng Đàn và "Văn Hóa Văn Nghệ Nam Việt Nam 1954-1975". Cuốn sách được coi như một văn kiện chính thức với những lời buộc tội và danh sách những sách bị cấm. Cuốn sách về sau trở thành luận án của một văn nô là những lý luận văn học cứng nhắc thô thiển chẳng có một chút giá trị nào ngoài danh sách những sách bị cấm và danh sách văn nghệ sỹ miền Nam bị kết tội. Trong đó, có Dương Nghiễm Mậu, ông ta đã viết với những lời buộc tội gay gắt qua tiểu thuyết Tuổi Nước Độc:

"... Tác hại của Tuổi Nước Độc chính là ở chỗ nó đội lốt chống thực dân để chống Cộng sản, nó không trực diện hô hào người ta theo đế quốc Mỹ, mà tập trung vào việc gây hoài nghi khuyến khích tiêu cực để tách bạn đọc ra khỏi cuộc chiến đấu chống đế quốc Mỹ, đảo ngược phải trái, đánh rối chính tả xóa nhòa ranh giới thù bạn... để mong hướng người đọc, nhất là những người trẻ tuổi - vào những chọn lựa sai lầm đi tới chỗ thỏa hiệp với đế quốc rồi theo hùa với đế quốc chống lại nhân dân - điều mà bọn chỉ huy chiến tranh tâm lý Mỹ Ngụy đặt hy vọng nhiều vào từng lớp trí thức tiểu tư sản ở giai đoạn tác phẩm ấy ra đời. Nhiều luận điệu nhằm phục vụ cho chiến tranh tâm lý tương tự như thế hoặc ở một số khía cạnh khác cũng đã thể hiện trong nhiều tác phẩm khác của Dương Nghiễm Mậu. Chẳng hạn như Gia Tài Người Mẹ, Địa Ngục Có Thật... "

Những luận điệu như thế của nhiều người đồng thanh: Phan Cự Đệ, Phong Lê, Văn Tâm, Trần Đình Sử, Trần Hữu Tá, Mai Quốc Liên,... đã thành một dàn đồng ca suốt bao nhiêu năm. Những người viết văn học sử đã theo chủ trương của chế độ muốn xóa bỏ hoàn toàn một thực thể văn học. Nhưng, tới bây giờ, khuynh hướng ấy có vẻ lung lay.

Nguyên Ngọc, trong thời gian gần đây ở cuộc phỏng vấn của đài Á Châu Tự Do RFA đã phát biểu về nền văn học miền Nam Việt Nam khi ở trong nước đã tái bản tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu và Lê Xuyên:

"Ở Việt Nam trong nhiều năm qua người ta coi như không có cái bộ phận văn học miền nam trong suốt thời gian có thể nói từ năm 1954 đến năm 1975. Trong những cái nghiên cứu chính thống thì người ta không hề nhắc đến cái bộ phận đó.

Theo tôi, trước nhất cần phải khẳng định trong thời gian đó có một cái nền văn học ở miền Nam, trước hết phải công nhận cái điều đó. Cái thứ hai nền văn học đó cũng đã tạo nên những tác giả và những giá trị đáng kể mà theo tôi là tài sản chung của đất nước..."

Phạm Xuân Nguyên viết về những truyện ngắn tái bản của Dương Nghiễm Mậu:
"Văn chương dân tộc Việt Nam thế kỷ 20 có nhiều hoàn cảnh lịch sử và lý do khác nhau đã không thuần nhất và thống nhất. Có một thực tế đã trở thành lịch sử là trong giai đoạn 1954-1975 đất nước bị chia thành hai miền lãnh thổ và hai thể chế khác nhau và dưới hai thể chế trên hai miền lãnh thổ ấy đã tồn tại hai nền văn chương khác biệt về ý nghĩa chánh trị. Nhưng ở những tác giả và tác phẩm tiêu biểu, ở bên này hay bên kia, đó đều là văn chương đúng nghĩa, tức là có giá trị nhân bản, nhân văn đối với con người.

Tôn trọng lịch sử thì phải thừa nhận một thực tế khách quan là văn chương Việt nam thế kỷ 20 có các bộ phận khác nhau và để hình dung bức tranh đầy đủ về văn chương dân tộc thì phải có sự tổng hợp thống nhất các giá trị văn chương đích thực rừ các bộ phận cấu thành ấy. Độ lùi thời gian và hoàn cảnh xã hội chính trị xã hội hiện thời của đất nước đã tạo điều kiện cho việc này..."

Phạm Xuân Nguyên đã cho rằng việc tái bản những tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu nằm trong ý nghĩa ấy, là công nhận sự hiện hữu của nền văn học mà trước đây đã bị khai tử và bôi xóa bởi những người đã cưỡng chiếm được miền Nam. Ông đi xâu vào việc phân tích những tác phẩm đã tái bản từ Nhan Sắc đến Cũng Đành, và từ Đôi Mắt Trên Trời đến Tiếng Sáo Người Em Út. Những tính chất như tâm trạng day dứt dằn vặt của người trí thức trước cuộc sống, cũng như chất nhân bản rất người trong văn phong giản dị nhưng chĩu nặng suy tưởng. Phạm Xuân Nguyên kết luận:

"... Trong nền văn chương Sài Gòn trước năm 1975, Dương Nghiễm Mậu có vị trí khá đặc biệt nhờ ở văn tài của ông. Ông viết không ồn ào thị trường, không thời sự nhất thời, nhưng lặn sâu vào bề trong của con người và bề sâu ngôn ngữ và ma lực của ngòi bút ông khiến ai đã đọc thì không thôi am ảnh. Văn nghiệp Dương Nghiễm Mậu ngoài truyện ngắn còn có những tiểu thuyết gồm nhiều tác phẩm, trong đó có những tác phẩm rất đáng chú ý. Tuy nhiên vì nhiều lý do khó có thể chọn lọc để in lại hết. Còn in lại truyện ngắn Dương Nghiễm Mậu là lựa chọn chính xác. Từ đây, có thể hy vọng trong tủ sách này của nhà xuất bản Văn nghệ và Công ty văn hóa Phương Nam sẽ tiếp tục cho ra những cuốn khác có gía trị văn chương của các tác giả khác. Văn chương dân tộc Việt Nam thế kỷ XX đang cần được kiểm kê đầy đủ ngõ hầu một bộ văn học sử thế kỷ này sẽ được viết ra trung thực với lịch sử."

Viết về một tác giả đã có lúc là đích nhắm muốn xóa sổ của chế độ hiện hữu như thế kể ra cũng là một chuyện khá lạ. Trước hết, phải nhận xét rằng cái tâm tốt đẹp của một nhà phê bình đã lớn lên và được học tập từ nền giáo dục xã hội chủ nghĩa khi mà một cô giáo dạy đại học xa lạ với văn học Việt Nam tiền chiến, biết mù mờ về Tự Lực Văn Đoàn và không biết Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng là ai. Văn chương tiền chiến còn bị bôi xóa thì văn học miền Nam dĩ nhiên không thể hiện hữu trong những chương trình giáo dục. Thế mà, Phạm Xuân Nguyên đã viết chân thực như những đoạn trích dẫn ở trên.

Như vậy, văn học sử sẽ được trung thực với thực tế lịch sử chăng? Và, tất cả sẽ được ghi chép lại cho đời sau từng ý hướng ấy? Nhưng, không phải dễ dàng lạc quan như vậy. Có nhiều dư luận phản ứng. Như bài viết ký tên cô giáo Lê Anh Đào kết án truyện của Dương Nghiễm Mậu thú vật hóa con người và lưu manh hóa hình tượng văn học. Vũ Hạnh trong bài viết đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 22/4/2007 "Đâu là tiêu chí của người xuất bản" đã phê phán kịch liệt. Giọng văn thô lỗ áp đặt của một loại công an văn hóa viết lấy được của một người cầm bút nằm vùng, đã biểu hiện cho một khuynh hướng mắt mù tai điếc không cảm thấy được những biến chuyển của dân tộc. Vũ Hạnh kết án truyện của Dương Nghiễm Mậu phản động và sách của Lê Xuyên thì đồi trụy. Và cái bản đồng ca từ ba chục năm nay lại nhai lại. Nào là phương tiện của chủ nghĩa thực dân mới nhằm tha hóa giới trẻ để họ chống lại "cách mạng", nào là văn nghệ thời ấy cũng độc hại không kém bom mìn tàn phá đất nước. Vũ Hạnh viết:

"... Gần đây trên một vài tờ báo có đăng bài viết của nguyên Thủ tướng Võ Văn kiệt nội dung như thế, bởi sự cảm thông đoàn kết để sớm đưa đất nước phát triển vươn xa. Theo tinh thần ấy, có thể sẽ có sự xem xét lại khá nhiều sản phẩm văn hóa của chế độ cũ để được lựa chọn và tái hiện với sự giới thiệu và đánh giá đúng mức. Thực ra từ sau giải phóng toàn bộ sách của ông Nguyễn Hiến Lê đều được in lại với khối lượng lớn, dẫu tác giả chưa đến với cách mạng một ngày và nội dung của đa số sách Nguyễn Hiến Lê vốn là sách dịch chứa nhiều quan niệm tư sản.
Ngay cả tác giả hiện sống ở Mỹ như Nguyễn Mộng giác vẫn có sách mới in tại quê nhà, đó là Sông Côn Mùa Lũ do chính Trung Tâm Quốc Học ở thành phố này kết hợp với nhà xuất bản Văn Học Trung Ương ấn hành cách đây độ chừng mười năm. Như thế, để khẳng định rằng chúng ta không hề có thành kiến nào đối với văn học thời cũ hay là văn học nước ngoài của các Việt Kiều, mà điều chúng ta bận tâm là những sản phẩm văn hóa như thế đã đem lại lợi ích gì cho xã hội này?"

Hình như, Vũ Hạnh có bộ óc méo mó và hay quên, khi cố ý hay vô tình? Thí dụ như sách của tác giả Nguyễn Hiến Lê được in có Hồi Ký NHL. Nhưng chỉ in những phần chung chung, còn cả một phần lớn tác giả phân tích về tình trạng xã hội miền Nam rất chính xác thì lại bị cắt bỏ. Phần nhận định ấy được in ở hải ngoại trong bộ ba cuốn mà cuốn thứ ba như một bản cáo trạng xác thực và hùng hồn của một nhà trí thức dù trước đây đã tỏ ra có cảm tình nhiều với chế độ cộng sản.
Cũng như, Vũ Hạnh nêu lên trường hợp in Sông Côn Mùa Lũ của nhà văn Nguyễn Mộng Giác coi như chính sách xét lại về văn hóa. Thực ra đó chỉ là một trường hợp đặc biệt hiếm hoi, cũng như Phạm Xuân Nguyên khi trả lời Vũ Hạnh: "... Ông có nhắc đến nhà văn Nguyễn Mộng Giác sống ở Mỹ và bộ Sông Côn Mùa Lũ viết về Nguyễn Huệ được in lại trong nước. Nhưng nếu bây giờ ông Nguyễn Mộng Giác xin phép cùng in lại trong nước bộ tiểu thuyết trường thiên khác của ông ấy là Mùa Biển Động viết về hiện thực cuộc chiến tại miền Nam trong thời gian 1963-1975 mà không được cấp phép thì ông nói sao thưa ông Vũ Hạnh?"

Chẳng thà một nhà văn Cộng sản lớn lên trong xã hội miền Bắc viết những lời cuồng tín thì một lẽ. Còn Vũ Hạnh, từng sống và cầm bút ở chế độ VNCH mà lại có thái độ như thế thì thật là thô bỉ. Ông ta đã bị một thi sĩ trẻ ở trong nước, Lý Đợi, dùng chính những lời ông ta đã viết về tiểu sử mình trong tuyển tập Những Truyện Ngắn Hay Nhất Của Quê Hương Chúng Ta. Ông ta bị bắt nhiều lần mà vẫn được tha nhờ sự vận động của các nhà văn trí thức, và vẫn viết báo, dạy học bình thường không bị một kỳ thị nào. Thế mà bây giờ ông hung hăng kết tội những người đã xin ân giảm cho mình...

Và Lý Đợi ngậm ngùi cho những người như Dương Nghiễm Mậu, như Lê Xuyên,... lại bị chụp những cái mũ phản động và đồi trụy cũng như bị hăm dọa vì những cuốn sách được in lại.

Một bài báo mới đăng trên nhật báo Nhân Dân ngày 8/8/2007 tiếp tục công việc đấu tố, bài "Văn hóa chân chính không cần sự đánh bóng" của Nguyễn Hòa, một nhà phê bình chỉ phê chứ không cần bình, và cung cách cũng giống y chang Vũ Hạnh, thái độ một mật thám văn nghệ. Ông phê truyện của Dương Nghiễm Mâu đầy hơi hướng hiện sinh đến nay đã quá "date", cũng như đề cập đến những người "bên kia" thì mô tả bằng những hình ảnh không thực bị bóp méo.

Nguyễn Hòa chơi trò đánh lận con đen khi cho rằng ở miền Nam mà ông ta gọi là vùng tạm chiếm chỉ có một loại văn chương mà ông gọi là văn chương tiến bộ ở trong bưng biền hay của những cây bút đại loại như Vũ Hạnh, và chỉ có dòng văn học này mới đại diện cho miền Nam thời kỳ ấy. Có lẽ, đó cũng là chủ trương của Đảng Cộng Sản. Cái giả và cái thật bị nhập nhòa tạo thành những hỏa mù để lịch sử bị bóp nặn theo chiều hướng phục vụ cho chế độ hiện tại.
Nguyễn Hòa viết: "... Do những điều kiện lịch sử cụ thể, có thể nói rằng trong gần một thế kỷ qua, văn học Việt Nam đã vận động trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Và không có nguyên do nào khác, chính sự chi phối của các xu hướng tư tưởng, chính trị khác nhau xuất hiện trong bối cảnh đất nước bị xâm lược sinh các xu hướng tư tưởng nghệ thuật khác nhau.

Trong bối cảnh đó, từ những năm 30 của thế kỷ trước, khuynh hướng văn học cách mạng đã ra đời trong từng bước được khẳng định và với các phẩm chất ưu việt của nó, văn học cách mạng đã có vị trí then chốt trong tiến trình phát triển chung của văn học Việt Nam hiện đại.

Bên cạnh đó, với thái độ tiếp cận khách quan về lịch sử, khi đề cập tới văn học Việt Nam chúng ta không thể phủ nhận vai trò của những tác phẩm văn học tiến bộ trong giai đoạn 1930-1945, không thể không nhắc tới một số tác phẩm văn học tiến bộ xuất hiện ở vùng tạm chiếm giai đoạn 1946-1954 và ở miền Nam trong giai đoạn 1954-1975, bởi các tác phẩm này đã góp phần vạch rõ tội ác xâm lược, khẳng định lòng yêu nước ý thức tự tôn dân tộc cổ vũ mọi người hướng tới các giá trị nhân bản chân chính..." Đúng là giọng điệu của một chính trị viên tuyên huấn Đảng đang thuyết giảng những bài học chán như cơm nếp nát, chứ không phải nhận định của một người phê bình văn học có suy nghĩ. Làm sao so sánh được những Hòn Đất, những Chị Sứ với những tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu được, dù người đó có óc khôi hài đen?

Nguyễn Hòa phê khơi khơi, chê khơi khơi không cần dẫn chứng:

"Trong 44 truyện ngắn của Dương Nghiễm Mậu, những mảnh đời, những kiểu sống nhọc nhằn được lý giải theo lối 'mô phỏng triết lý hiện sinh' một cách khá lộ liễu nên không có gì là đặc sắc khi bắt gặp trong các tác phẩm một thái độ sống vô hồn lạnh lẽo, những câu trả lời về sự sống chết vô cảm dửng dưng.
Lối văn chương hiện sinh ấy ngày nay đã "quá đát" so với lịch sử, người ta thường hồi nhớ về nó chứ có mấy ai hứng thú tìm đọc như để tiếp xúc với tuyệt tác văn chương mà phải quảng bá rùm beng.."

Trong tương lai, chắc sẽ có nhiều người và nhiều bài viết đươc chế độ huy động để viết tương tự một giọng như Vũ Hạnh như Nguyễn Hòa...

Tự hỏi, có phải chế độ này có muốn thừa nhận 20 năm văn học miền Nam và văn học hải ngoại không như cựu thủ tướng Cộng sản Võ Văn Kiệt phát biểu không? Liệu câu nói của một người hết thời có giá trị thực tế không? Hay chỉ là nói để vớt vát, để nói cho có mặt...

Có thể họ sẽ mang những văn chương mà họ gọi la "văn học tiến bộ" ở trong bưng hoặc của những kẻ nằm vùng làm nồng cốt và cho xen vào một phần những tác giả vô thưởng vô phạt để đại diện cho văn học miền Nam. Một thời kỳ văn chương đầy sinh động và nhiều khai phá sẽ được bóp nắn lại, tái chế lại để thành một thứ khác phù hợp hơn với nhu cầu chính trị cũng như để tỏ ra đã có sự thay đổi. Nhưng, trong bản chất, vẫn là muốn duy trì sự độc tôn của văn chương mà họ gọi là "hiện thực xã hội chủ nghĩa".

Một người trong cuộc có sách được tái bản có phản ứng ra sao, tôi đọc bài viết của Nguyễn thị Lan Anh:

"... Nghe và đọc hết một lượt các bài góp ý phê bình hiện tượng tái bản sách của các nhà văn trước năm 1975, mà cụ thể của Dương Nghiễm Mậu, tôi nhắc điện thoại Bố ơi, người ta mắng bố ghê quá. Con sợ... Bên kia đầu dây, giọng đàn ông trẻ trung đầm ấm "Không sao toàn cái bên lề có gì mà sợ". Giọng điệu như vậy mà bảo là không sao. Con lên chở bố đi cà phê thấy sự thực bố "không sao" mới tin. Ừ thì lên! Chỗ cũ ấy, nhớ không?.."
Tự nhiên tôi lại đọc một đoạn văn viết về Dương Nghiễm Mậu hơn hai chục năm về trước:
"... Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn.."
Một già, một trẻ viết về tác giả Nhan Sắc như vậy cũng đủ cho thấy được cái nội lực mạnh mẽ cũng như một quan niệm sống của kẻ sĩ phương đông. Viết bằng tâm cảm trung thực, của nỗi day dứt có thực, của suy tư có thực nên văn chương còn tồn tại với thời gian. Hơn ba chục năm đã qua, những tác phẩm đã bao lần bị vùi dập, dầy xéo, đã bao nhiêu lần bị thiêu đốt, bị xỉ mạ, bị lên án. Nhưng, cái chân thực vẫn còn tồn tại. Chẳng có ai và chế độ nào xóa đi được những dòng chữ tâm huyết của người nghệ sĩ. Thành ra, tái bản sách của Lê Xuyên và Dương Nghiễm Mậu cũng chỉ là sự tất yếu phải đến để dần dần ló ra những gia tài quý báu bị vùi lấp. Có thể cũng ở trong một tính toan nào đó của chế độ đang muốn xiết chặt truyền thông nhưng bất ngờ đã bị phản tác dụng. Nhưng, dù thế nào chăng nữa, chế độ nào mạnh mẽ cho bằng thời Tần Thủy Hoàng, thế mà cũng không "phần thư khánh nho" hoàn toàn được. Huống chi, lúc bây giờ, không có gì bưng bít được khi thế giới gần gũi với nhau như trong một ngôi làng với những hệ thống truyền thông tinh nhạy...

 Nguyễn Mạnh Trinh