Wednesday, November 13, 2013

Madame NHU

 Assassination, Coup and MADAME NHU 


1- Bà Nhu đã nói chuyện với chồng bà, ông Ngô Đình Nhu, bào đệ của Tổng Thống miền Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, lần cuối cùng vào ngày 27 Tháng Mười năm 1963. Từ khi bà ra khỏi nước, cứ cách vài ngày họ lại nói chuyện với nhau, lúc đầu ở Âu Châu và rồi ở Hoa Kỳ. Đó là một cuộc hành trình dài. Bà Nhu và cô con gái Lệ Thủy, 18 tuổi, đã rời Sài Gòn sáu tuần trước đó, và nay là lúc để trở về. Họ dự định bay từ California về Việt Nam với sự qúa cảnh ở Nhật Bản. Ông Nhu sẽ gặp họ ở Nhật rồi tháp tùng cùng họ chặng đường còn lại, và Bà Nhu đang cố gắng xác định lại cái lộ trình qua một cuộc điện đàm đường dài nối bà từ San Francisco về Sài Gòn.

Bà Nhu giải thích, bà đang có một cái mụn mỡ (cyst) ở mí mắt. Bà muốn giải phẫu nó, nhưng có thể phải đợi vài ngày nữa khi bà đến Tokyo. Bà hỏi ông, “Như vậy có được không?” Bà giải thích lý do, nếu bà làm việc này ở Nhật, “nó sẽ rẻ hơn”. Bà Nhu đã cố gắng làm nhẹ đi tình hình. Thật là khó để đọc được ý nghĩ của một người qua hàng ngàn dặm dây cáp xuyên thái bình dương, nhưng bà nghe giọng ông Nhu nhỏ và có vẻ khác lạ. “Tôi sẽ không đến Nhật nữa. Tôi ở lại Sài Gòn.”

Bà Nhu đã không gặng hỏi. Bà không muốn có một sự bất đồng qua điện thoại, cho nên bà mím môi. “Cũng được”. Bà có thể hoàn tất cuộc giải phẫu trước khi bay về. Ở Los Angeles cũng được chứ, tại sao không? Các bác sĩ ở đó đã từng làm việc trên những khuôn mặt đẹp nổi tiếng. Bà sẽ ở lại đó thêm 10 ngày.

Sau Hoa Thịnh Đốn, Bà Nhu đã công khai dừng lại ở các thành phố và trường đại học ở North Carolina, Illinois và Texas. Bà đã tham dự Ngày Hiệp Chúng Quốc (US Day) ngày 23 tháng 10 ở Hội Trường Dallas Memorial, tại đây bà đã được mời lên sân khấu và được trao tặng một bó hoa. Ngày Hiệp Chúng Quốc là một cuộc tuần hành phản đối được tổ chức đặc biệt chỉ một ngày trước Ngày Liên Hiệp Quốc (U.N. Day) để chào mừng Hoa Kỳ là một thành viên của Liên Hiệp Quốc tại cùng một địa điểm. Có những biểu ngữ viết “Hoa Kỳ hãy rút ra khỏi LHQ” hay “LHQ hãy rút ra khỏi Hoa Kỳ”. Cuộc tập họp chống LHQ đã mang những người siêu bảo thủ lại với nhau để chống lại chính phủ Kennedy ở Hoa Thịnh Đốn –  các thành viên của các tổ chức như Hội John Birch, The Minutemen, The National Indignation Convention, và cả một người có tên Lee Harvey Oswald (người sau này đã ám sát tổng thống Kennedy) đã có mặt.

2- Nhưng theo tất cả những sự chú ý của báo chí đối với Bà Nhu và những người bạn mới đầy quyền lực, sự việc ở Sài Gòn đã tiếp tục trở nên xấu hơn. Giọng ông Nhu có vẻ lạ lùng trên điện thoại với vợ ông vì ông biết rằng tới lúc đó mọi việc đã trở nên vô vọng.
Việc tấn công của ông Nhu vào các chùa (Phật giáo) vào Tháng Tám (được thực hiện bởi Quân Đội của Lực Lượng Đặc Biệt VNCH và cảnh sát, trong đó hơn 1400 Phật giáo đồ đã bị bắt) đã phá hỏng thiện chí còn lại trong mối liên hệ của ông với người Mỹ. Trước đó, suy nghĩ chung ở Hoa Thịnh Đốn là Hoa Kỳ đã giản dị “xác quyết một cách không đầy đủ” trong việc điều đình với ông Nhu và bào huynh của ông là Tổng Thống Diệm. Nhưng sau cuộc tập kích vào Tháng Tám và sự loại bỏ thẳng thừng của ông Nhu về sự chỉ dẫn của người Mỹ giúp giải quyết những sự căng thẳng với Phật giáo, chính sách của Hoa Thịnh Đốn đã thay đổi một cách rõ rệt. Ông Diệm và Nhu đã không thể nào cải hóa được, và họ có thể phải bị thay thế.

Ngày 24 tháng 8, một bức điện văn tối mật đã được gởi tới Đại Sứ Mỹ Henry Cabot Lodge ở Saigon hướng dẫn ông đối đầu với ông Diệm với những yêu cầu ông phải thực hiện ngay và không mấy thuận lợi: Hãy cho các người theo Phật giáo điều họ muốn, và loại bỏ ông Nhu. Nếu ông Diệm không đồng ý hay thực hiện ngay, “Chúng ta phải đối diện với khả năng rằng chính ông Diệm cũng có thể không được duy trì.” Lodge đã được bật đèn xanh để tìm kiếm những người lãnh đạo thay thế. Mặc dù những nhà lãnh đạo ở Hoa Thịnh Đốn không thể làm chủ được những chi tiết tinh quái nhắm đến một sự thay đổi chế độ, bức điện xác nhận với Lodge rằng “chúng tôi sẽ ủng hộ ông hành động để làm cho những mục tiêu của chúng ta được thành công.”

Dĩ nhiên, vị đại sứ của Hoa Kỳ chắc chắn không thể đòi hỏi chế độ phải thay đổi. Đó là công việc của Fred Flott. Là một sĩ quan của Sở Ngoại Vụ Mỹ đến từ Trung Đông, Flott hiểu rằng nhiệm vụ của ông là phải làm cái công việc bẩn thỉu mà một vị đại sứ không thể tự mình làm – như tiếp xúc với những người đối lập của chế độ Diệm và rót sự yểm trợ để lật đổ chính quyền của một quốc gia bạn.
Anh em họ Ngô có thể không biết toàn bộ những gì đang diễn ra bên trong tòa đại sứ Mỹ ở Saigon, nhưng họ có một ý tưởng khá hay. Một số người trung thành với nhà Ngô đã gắn những dụng cụ nghe lén trong những văn phòng tòa đại sứ mà không bị phát giác mãi đến sau khi nhà Ngô bị lật đổ. Nhưng ngay cả không có những kỹ thuật gián điệp, có thể ông Diệm và Nhu đã thấy có sự chuyển động rõ ràng. Ngày 2 tháng 9 năm 1963, Tổng Thống John F. Kennedy đã nói trong cuộc phỏng vấn của CBS National News với Walter Cronkite rằng, “chính quyền của anh em ông Diệm đã xa rời dân chúng miền Nam Việt Nam. Việc mà chúng ta có thể làm bây giờ là phải nói rõ rằng đó không phải là cách để chiến thắng.” Kennedy nói tiếp, ông kêu gọi cần có “những sự thay đổi về chính sách và nhân sự,” một phát biểu đã được diễn dịch như là một sự đe dọa đòi ông Diệm loại bỏ ông Nhu.
Anh em họ đã không thể phá vỡ được sự nguy hại của họ với người Mỹ một cách hoàn toàn, nên họ dường như đã trút cái đó lên dân chúng miền Nam. Thiết quân luật đã được gỡ bỏ, nhưng hàng ngày cảnh sát của ông Nhu vẫn bắt giữ hàng chục những người “bất đồng chính kiến”. Dân chúng phân phát những truyền đơn chống chính phủ hoặc viết lên tường những khẩu hiệu chống nhà Ngô đã bị bắt giam; ngay cả các học sinh cũng bị giam giữ trong những phòng tạm giam.
Anh em (họ Ngô) ở Saigon có thể đã không biết rằng ở Hoa Thịnh Đốn người ta đang hào hứng với một cuộc đảo chánh đang được chuẩn bị. Chính Tòa Bạch Ốc đang ngập đầy những sự cố vấn về một cuộc chiến. Giám Đốc CIA John A. McCone không ngừng chỉ trích cái ý kiến đảo chánh. Trong một cuộc họp với Nhóm Đặc Biệt chuyên trách về Việt Nam, McCone đã nói rằng thay thế Diệm và Nhu bằng những người chưa biết là ai là “qúa nguy hiểm” và hầu như có thể mang đến “sự tai hại tuyệt đối” cho Hoa Kỳ. Ông cũng đã nói riêng với Tổng Thống Kennedy rằng cuộc đảo chánh này “có thể dẫn đến những cuộc đảo chánh khác theo sau.” Trái lại, Bộ Ngoại Giao và Quốc Phòng lại ủng hộ việc đảo chánh. Hoa Kỳ đã bị chia rẽ nhưng đã sẵn sàng đi đến kết luận không thể quay lại được nữa. Đại sứ Lodge đã tin chắc rằng: “Chúng ta đang thực hành cái việc mà chúng ta không thể quay lui lại được.”
Tổng Thống Kennedy không biết xử trí ra sao. Ông gởi một phái đoàn đi công tác chín ngày để tìm hiểu sự thật, cầm đầu bởi bộ trưởng quốc phòng, Robert McNamara, và chủ tịch Tham Mưu Hỗn Hợp, Tướng Maxwell Taylor,  vào tháng Mười 1963. Chuyến đi được ngụy thức như là để kiểm tra diễn tiến của chiến tranh với Việt Cộng, và để giữ đúng nghi lễ các ông này đã có cuộc gặp gỡ với Tổng Thống Diệm ở trong dinh trong hơn hai giờ. Tuy không có trong chương trình chính thức, họ đã có một buổi đánh quần vợt với Trung Tướng Dương Văn Minh.
Tướng Minh còn được biết dưới tên Big Minh vì hai lý do: để phân biệt ông với một ông tướng khác có cùng tên và bởi vì cái vóc dáng qúa khổ của ông. Cao gần 6 feet (1m80) và nặng 200 cân Anh (khoảng 90 kg), Minh cao hơn hẳn những đồng đội của ông và thường phải cúi nhìn xuống anh em nhà Ngô, cấp chỉ huy của ông. Là một sĩ quan tốt nghiệp Trường Quân Sự (École Militaire) ở Paris và là một cựu binh trong Chiến Tranh Đông Dương lần thứ nhất từng chiến đấu bên cạnh người Pháp chống lại Việt Minh, ông đã ủng hộ ông Diệm và chiến đấu chống lại những kẻ nổi loạn trong những năm đầu của tổng thống Diệm. Nay Minh đang âm mưu chống lại Diệm và Nhu.
 Mặc dù khổ người to lớn kềnh càng, Minh chơi quần vợt khá giỏi. Các giới chức Mỹ, McNamara và Taylor, mặc dù phải chịu đựng cái nóng gay gắt của Saigon, nhưng họ vẫn ráng đổ mồ hôi cho một trận đánh đôi trên sân cỏ của Cercle Sportif. Sau đó cả nhóm nghỉ chơi đi vào một căn phòng dát gỗ trong câu lạc bộ để chuyện vãn “về cuộc chơi”. Được nghe nói về trận đấu (quần vợt) và cuộc trò chuyện riêng tư của họ, Nhu và Diệm chỉ có thể kết luận rằng họ đang lập mưu lập kế. Thực ra, họ không có như vậy. Minh rất lo sợ về việc lộ ra cái ngày đó. Nhưng Diệm và Nhu biết rất rõ mối liên hệ của ông với những kẻ âm mưu và Toà Đại Sứ Mỹ và CIA.
Trước ngày cuối cùng của Tháng Mười, Diệm và Nhu đưa ra chiến thuật cuối của họ để cố gắng giữ cho chế độ tồn tại. Đó là chỉ dấu của Nhu, người chủ mưu rất kín đáo: Ông và Diệm sẽ làm một cuộc đảo chánh gỉa. Việc này có thể tai hại, nhưng đó là hy vọng duy nhất của họ. Một cuộc đảo chánh gỉa có thể sẽ làm cho người Mỹ lo sợ để trở lại tái tục sự ủng hộ cho chế độ Diệm. Các lãnh tụ của cuộc đảo chánh gỉa được lựa chọn một cách cẩn thận gỉa vờ như “những người muốn trung lập”, phỏng theo cuộc đảo chánh trung lập đầy bất ngờ vào năm 1960 ở Lào đã làm tổn hại nghiêm trọng những lợi ích của Hoa Kỳ ở Đông Nam Á.
Đối với một quan sát viên bình thường, ngày 31 tháng 10, 1963, có vẻ giống như một ngày nào khác ở Saigon. Buổi sáng hôm đó, Tổng Thống Diệm nói chuyện một cách thoải mái trong văn phòng của ông với Đại Sứ Lodge và vị Tư Lệnh Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, Đô Đốc Harry Felt. Felt đã ghé qua Saigon như là một cuộc thanh sát thường lệ về sự trợ giúp quân sự cho Nam Việt Nam, nhưng thực ra các tướng lãnh Nam VN đang âm mưu chống ông Diệm đã dàn cảnh sự có mặt của ông, đặc biệt là thời gian viếng thăm của Felt sẽ giữ ông Diệm ở trong dinh suốt buổi sáng. Vị tổng thống Nam Việt Nam đã lưu ý các vị khách rằng họ có thể nghe đồn về một cuộc đảo chánh nhưng không nên bận tâm đến chúng. Vào buổi trưa, các tấm mành che được hạ thấp xuống phía trước các gian hàng. Các xe mô tô, xe đạp và taxi đưa mọi người về nhà, ra khỏi cái nóng giữa trưa cho hai giờ nghỉ ăn trưa.
Dinh (tổng thống) cũng yên lặng. Mấy người con của Nhu đã đi lên Đà Lạt. Chúng đang nghỉ phép, và mấy cậu con trai đã xin cha chúng cho phép chúng đi săn. Ông đã để chúng đi nhưng đã cho 15 nhân viên phòng vệ phủ tổng thống tháp tùng theo chúng để bảo vệ. Cô con gái nhỏ tuổi nhất, Lệ Quyên mới 4 tuổi, không đi săn được, nhưng cô bé vẫn được cho đi lên núi với các người anh và người vú em.
Khoảng sau 4 giờ chiều một chút, một tiếng nổ của đạn đại bác nổ vang. Tiếng súng dường như gần hàng rào phòng vệ phủ tổng thống. Tiếng súng rất gần dinh rõ ràng không phải như trong kế hoạch. Cho đến lúc đó, các anh em đã cho rằng việc triển khai binh sĩ và xe tăng trong phạm vi Saigon lặng lẽ qúa. Họ đã lưu ý việc triển khai trong thành phố phải tránh xa văn phòng của họ. Thay vì giương những lá cờ báo hiệu, việc di chuyển binh sĩ và xe tăng sẽ đảm bảo cho Diệm và Nhu. Họ tin rằng đó là kế hoạch của họ, có ám danh “Bravo II” đã khởi sự tốt đẹp. Chỉ đến khi bộ chỉ huy cảnh sát sắp rơi vào tay các tướng lãnh, một viên chức cảnh sát hốt hoảng điện thoại cho Nhu nói rằng họ đang bị tấn công.
Nhu nói: “Không sao, tôi biết tất cả rồi.”
Nhu vẫn bình tĩnh bởi vì ông vẫn nghĩ rằng, theo kế hoạch, lực lượng của ông sẽ đập tan “đám phản loạn”, rồi ông và Diệm sẽ được chào đón như anh hùng. Trong sự lầm lẫn tiếp theo đó, Nhu còn muốn chỉ đạo một cuộc tắm máu. Lực Lượng Đặc Biệt và đám du đãng được Nhu thuê mướn sẽ ám sát những tướng lãnh và sĩ quan cao cấp QLVNCH không trung thành. Những người Mỹ gây phiền nhiễu cũng bị đưa vào danh sách; ký gỉa Stanley Karnow được biết rằng Đại Sứ Lodge và cựu nhân viên CIA Lucien Conein cũng nằm trong danh sách.
Cuộc phản đảo chánh hiện đang diễn ra hầu như đang là một sự đánh lừa: Đó là một cuộc đảo chánh trong đảo chánh.
Nhưng ngay sau đó anh em họ đã biết rằng có cái gì đó đã xảy ra không ổn. Họ tụ tập quanh chiếc máy truyền tin trong văn phòng tổng thống. Nó hoàn toàn im lặng. Họ gọi điện thoại cho các tỉnh trưởng chung quanh, các sĩ quan quân đội. Họ gọi các tư lệnh quân đoàn và cả các tư lệnh sư đoàn. Không ai lên tiếng. Đến lúc đó Nhu đã nhận ra điều gì đang thực sự xảy ra, nhưng đã qúa trễ. Không còn cách nào ra khỏi thành phố và không còn ai đáng tin cậy. Những kẻ phản bội đã bao vây dinh, tạo thành một cái thòng lọng đang xiết chặt. Nhu nắm lấy cái ống vố. “Mang theo vũ khí.” Ông gào lên cái mệnh lệnh, niềm hy vọng cuối cùng của anh em họ, cho những chàng trai của Thanh Niên Cộng Hòa và Đoàn Thanh Nữ bán quân sự của vợ ông.
Sự im lặng của họ đã là một bản án tử.
Kế hoạch của ông Diệm và Nhu đã bị đánh cắp. Người mà họ tin tưởng sẽ thi hành cuộc đảo chánh gỉa, Tướng Tôn Thất Đính, đã theo họ. Là vị tướng trẻ nhất trong quân đội Nam Việt Nam, Đính đã chuyển sang đạo Công giáo và gia nhập chính đảng của Nhu để lấy lòng chế độ nhà Ngô. Về điểm này, chiến thuật của Đính đã có hiệu qủa. Tổng Thống Diệm đã đối xừ với Đính như một người con nuôi. Nhưng sự tự mãn của Đính đã khiến ông trở thành con mồi cho những kẻ đối nghịch của ông Diệm. Những người chủ mưu thuyết phục Tướng Đính rằng ông phải ở trong nội các của tổng thống. Khi Diệm từ chối không giao chức vụ cho Đính, sự kiêu hãnh của Đính đã bị thương tổn là dịp chín muồi để dụ ông.
3- Los Angeles đi sau Saigon 15 giờ, đệ nhất phu nhân của Việt Nam Cộng Hòa đang hồi phục trong một căn phòng ở khách sạn Beverly Wilshire. Bà vừa cắt bỏ cái mụn mỡ (cyst) trên mắt bà ít giờ trước đó.
Bà Nhu và Lệ Thủy đã được đánh thức dậy giữa đêm bởi một cú điện thoại hốt hoảng từ phòng tùy viên của Tòa Đại Sứ Việt Nam. Trong sự sợ hãi, người này mô tả cuộc khủng hoảng đang xảy ra ở Saigon. Ông ta nói đường phố đã bị ngăn chặn các ngả dẫn đến phi trường. Binh sĩ thủy quân lục chiến của phe nổi dậy mang khăn đỏ đã tràn vào trung tâm thành phố trên những chiếc xe cam nhông.
Bà Nhu lắng nghe một cách tuyệt vọng những chi tiết về cuộc khủng hoảng đang ở cách xa hàng ngàn dặm. Bà đã viết đi viết lại nhiều lần trong nhật ký của bà  là “Nếu tôi có mặt ở đó…” Bà đã tự nhủ rằng, đáng lẽ bà đã ngăn chặn không để cho chế độ sụp đổ, như bà đã làm được những năm 1955, 1960 và 1962. Bà tin rằng lần này vì sự vắng mặt của bà đã làm suy yếu trầm trọng chế độ nhà Ngô.
Cái tệ hại nhất là bà đã không thể bảo vệ các con của bà. Cậu Trác 15 tuổi, Quỳnh 11 và bé Lệ Quyên chỉ mới 4. Sau này chúng đã kể lại cho người mẹ câu chuyện thật thương tâm. Khi cuộc đảo chánh bắt đầu, chúng vẫn còn ở trên Đà Lạt. Ở trên đó, chung quanh là những quân nhân, chúng chẳng biết tin ai. Các đứa trẻ chạy trốn vào rừng phía sau nhà và đã trải qua một đêm trong mưa lạnh. Chúng đi bộ cả ngày hôm sau tới một làng trên núi xin một ít cơm với chút thịt xay. Rồi chúng chờ đợi.
Anh em họ Ngô chạy vào Chợ Lớn, khu vực người Hoa ở Saigon. Một số người nói họ sử dụng một cái đường hầm dưới ‘basement’ ở trong dinh để thoát trốn đi. Một số khác lại nói, một chiếc xe Citroen màu đen đã ngừng lại trước cổng dinh, và cả hai anh em, đều mặc bộ veston xám đậm, đã bước ra và leo lên. Dù bằng cách nào, họ cũng đã đào tẩu. Phải mất hàng giờ sau lực lượng đảo chánh mới nhận ra họ đang tấn công vào một cái dinh trống không. Lúc đó anh em ông Diệm đang trốn trong nhà một thương gia (người Hoa) tên là Mã Tuyên.
Đến trước bình minh ngày 1 tháng 11, 1963, cuộc bao vây cuối cùng vào dinh đã bắt đầu. Biệt động quân của QLVNCH di chuyển theo đội hình theo sau một đoàn xe tăng. Họ chĩa nòng súng hướng về phía dinh và bắt đầu khai hỏa. Họ đã không tốn nhiều thời gian sau khi cuộc tấn công trực diện chọc thủng một lỗ tường. Một lá cờ trắng sau cùng đã xuất hiện trên tầng lầu thứ nhất ở góc phía tây nam của dinh, ra dấu cho những người lính khác và những thường dân biết rằng mọi sự đã xong. Đó cũng là lúc dinh bị mọi người vào hôi của.
Một đoàn người tràn vào sân và đi lên lầu. Những tấm màn cửa bằng lụa treo bị rách tơi tả, và những tấm gương, đèn, và vật trang trí trong dinh có từ thời Pháp thuộc đã nằm vỡ vụn trên sàn nhà. Các anh biệt động quân, các binh lính và phóng viên đã phải bước qua những đống đổ nát. Họ thấy những chai rượu whiskey của Nhu và, ở dưới bàn viết của ông một cuốn sách mà ông còn đang đọc dang dở: Bắn cho Chết (Shoot to Kill) của Richard Miers, một cuốn hồi ký về sự chiến đấu chống cộng sản thành công ở Mã Lai. Và trong khi người ta khám phá ra ông Diệm thích đọc những truyện phiêu lưu về Miền Tây Nước Mỹ, các chàng trai đầu tiên đã háo hức dừng lại ở những chiếc áo lụa của bà Nhu nhìn thấy cuốn sách có bìa màu nâu trong ngăn kéo của bà. Cuốn nhật ký của bà cuối cùng đã được tìm thấy, được cất kín trong nhiều thập niên như một món đồ trang sức và kỷ niệm.
Anh em (ông Diệm) biết rằng thế là đã hết, nên họ đã không cố gắng trốn lâu hơn nữa. Họ di chuyển từ nhà của Mã Tuyên tới một địa điểm khác ở Chợ Lớn, ngôi nhà thờ có tường màu vàng và trắng St. Francis Xavier. Ông Diệm gọi điện thoại cho bộ chỉ huy quân đội và yêu cầu được tiếp xúc với các tướng lãnh để sắp đặt sự đầu hàng của ông. Binh sĩ đã được gởi đến ngay sau đó. Các sĩ quan đi đến phía trước nhà thờ và chào người đã từng là tổng thống của họ trong chín năm. Rồi họ dẫn ông và người em ra và xô họ vào phía sau của một chiếc xe tải nhỏ có che bạt ở hai bên. Sau đó, không ai biết khi nào, cả hai anh em được chuyển qua một chiếc xe bọc thép. Họ đã không còn sống để ra khỏi chiếc xe đó.
Bà Nhu đã chết trân trong sự lộng lẫy im ắng của Beverly Wilshire, nhưng vẫn cố công tìm cách để đem các con bà ra khỏi Nam Việt Nam. Bà gọi cho Marguerite Higgins, một ký gỉa mà bà đã gặp ở Saigon và đã trở thành một người bạn của bà. Bà Nhu thổn thức hỏi: “Bạn có thực sự tin rằng họ (Diệm và Nhu) đã chết không? Họ có giết các con tôi nữa không?” Higgins cho biết sẽ giúp bà bằng cách gọi cho những người quen biết của bà ở Bộ Ngoại Giao ở Hoa Thịnh Đốn.
Bà Nhu thỉnh cầu: “Làm ơn nhanh lên. Nhanh lên!”
Higgins gọi cho Roger Hilsman, cố vấn thân cận của Tổng Thống Kennedy và là phụ tá ngoại trưởng đặc trách về Viễn Đông sự vụ, vào lúc 2 giờ sáng.
Bà chúc mừng ông: “Chúc mừng, Roger. Ông cảm thấy thế nào khi bàn tay ông dính máu.”
 “Ồ, hãy bình tĩnh nào”, Hilsman trả lời, “Cách mạng còn sơ khai. Mọi người đều bị tổn thương.” Tuy nhiên tiếng nói của Higgins trên điện thoại vào lúc nửa đêm yêu cầu về những đứa con của bà Nhu đã là một sự lưu ý đáng kinh ngạc về quyền lực của báo chí. Phản ứng đầu tiên của Hilsman đã thay đổi một cách mau lẹ khi ông nhận ra rằng Hoa Kỳ không thể đứng bên lề và để chuyện gì đó xấu xa xảy ra cho mấy đứa trẻ, không cần biết cha mẹ chúng là ai. Hilsman đã cam kết với bà và hứa sẽ đưa chúng đến một nơi an toàn. Chỉ trong vòng ba ngày, mấy đứa trẻ đã thoát khỏi sự nguy hại đi tới Rome.
Đối với những người Mỹ, mọi sự đã có một khởi đầu xấu. Tin tức chính thức nói rằng, anh em ông Diệm tự sát, đã bị loại bỏ khi có hai tấm ảnh tiết lộ cho thấy ông Diệm bị bắn xuyên qua đầu và thi thể ông Nhu có đầy dấu lưỡi lê trên 20 dấu. Một bức ảnh cho thấy cả hai thân xác nằm trên vũng máu trong chiếc xe APC, tay họ bị trói ra đằng sau lưng. Một tấm ảnh khác cho thấy thi thể đầy máu của ông Diệm trên một tấm băng ca với một binh sĩ đang mỉm cười nhìn vào máy ảnh.
Cuốn Hồ Sơ Ngũ Giác Đài (Pentagon Papers), nói về lịch sử chính phủ Hoa Kỳ dính líu về quân sự và chính trị ở Việt Nam, đã kết luận về cuộc đảo chánh năm 1963 rằng, “Chín năm cầm quyền của Diệm đã đi đến một kết cuộc đẫm máu, sự đồng lõa của chúng ta trong sự lật đổ ông đã làm tăng thêm trách nhiệm của chúng ta và sự dính líu của chúng ta trong một nước Việt Nam đã không có người lãnh đạo cần thiết.” Các tướng lãnh đứng sau cuộc đảo chánh bắt đầu sắp xếp một chính phủ dân sự. Tướng Big Minh trở thành tổng thống, và sau khi trì hoãn một khoảng thời gian thích hợp, chính phủ Hoa Kỳ đã công nhận chính phủ mới ở Nam Việt Nam vào ngày 8 tháng 11.
4- Toàn bộ các cuốn sách đã nghiên cứu mức độ Hoa Kỳ chịu trách nhiệm trực tiếp về cuộc đảo chánh và, xa hơn, về cái chết anh em họ Ngô. Ít người đã nói một cách ngắn gọn hơn là Tổng Thống Lyndon Johnson, khi ông càu nhàu trong một cuộc điện đàm với thượng nghị sĩ Eugene McCathy ngày 1 tháng 2, 1966: “Chúng ta đã giết ông ấy (Diệm). Tất cả chúng ta đã cùng làm và sử dụng một đám côn đồ khốn kiếp (a goddamn bunch of thugs) và chúng ta đã đến và ám sát ông ấy. Bây giờ, chúng ta thực sự không có sự ổn định chính trị kể từ đó.” Cựu Giám Đốc CIA William Colby đã nói: “Việc lật đổ ông Diệm là một lỗi lầm tệ hại nhất mà chúng ta đã làm.” Nếu Hoa Kỳ duy trì sự ủng hộ dành cho Diệm, và nếu ông ấy không bị giết, Colby tin tưởng, người Mỹ “có thể đã tránh được hầu hết phần còn lại của cuộc chiến, một địa ngục đáng ghi nhớ.”
Qua tất cả mọi chuyện, Tổng Thống Kennedy bị phiền nhiễu một cách sâu xa bởi cái chết của anh em họ Ngô. Trong phòng nội các của Tòa Bạch Ốc, Tướng Taylor nhớ lại rằng “Kennedy vội vã ra khỏi phòng với một cái nhìn thảng thốt và kinh hoàng trên nét mặt mà tôi chưa từng thấy bao giờ.” Nhân viên CIA Colby đã xác nhận cái phản ứng đó, nói rằng tổng thống đã “tái mặt bước ra khỏi phòng để tự trấn tĩnh.” Nhưng những người khác thì tự hỏi làm sao tổng thống lại bị kinh ngạc đến thế.
Red Faye, một người bạn của Kennedy nhớ lại, tổng thống không chỉ tự trách mình về cái chết của ông Diệm và ông Nhu. Ông còn đổ tội cho Bà Nhu. “Con mụ chó chết đó (That goddamn bitch). Bà ta phải chịu trách nhiệm về cái chết của con người tử tế đó (Diệm). Anh biết đó, thật là hoàn toàn không cần thiết để con người tử tế đó chết bởi vì mụ chó chết đó cứ chĩa mũi vào và khuấy động toàn bộ tình hình ở đó.”
Vào một ngày sau cuộc đảo chánh, Tổng Thống Kennedy đã đọc một bản ghi nhớ cho hồ sơ của ông. Ông gọi cái chết của Diệm và Nhu là “đặc biệt đáng ghét” và chịu trách nhiệm về việc đã “thúc đẩy Lodge làm theo một đề nghị mà ông có vẻ đã ngả theo.” Những ý tưởng của tổng thống về việc ám sát ở Saigon sau đó đã bị gián đoạn trong chốc lát bởi cậu bé John Jr. 3 tuổi và cô bé Caroline 6 tuổi đã chạy vào văn phòng ông la hét đùa giỡn với ông. Đằng sau những cuốn băng thu âm đã nhàu nát, các bạn có thể nghe thấy những tiếng nói bé nhỏ “Hello” thu vào trong máy thâu âm của Kennedy. Một lát sau đó người cha của chúng hỏi các đứa trẻ về sự đổi thay mùa. Tại sao các lá cây màu xanh? Làm sao lại có tuyết trên mặt đất? Sự đối thoại tất cả còn xúc động hơn khi các bạn nhớ lại rằng những đứa trẻ này sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy sự thay đổi mùa cùng với cha chúng một lần nào nữa. 
Kennedy đã bị ám sát chỉ ba tuần sau.

Monique Brinson Demery

TOÀN NHƯ
K1/QGHC
(Dịch theo “Assaasination, Coupand Madame Nhu”)-Monique Brinson Demery)